THẤT THỦ
KINH ĐÔ VÀ NGÀY QUÓC HẬN
(ngày 23 tháng 5 Âm lịch hàng năm ).
Khảo cứu của nhà thơ Xuân Bảo
Đề dẫn.
Vua Lê
Thánh Tông từng nói với các quan coi biên giới năm 1473 rằng: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại
nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không
nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu
ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội
phải tru di! (được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư, trang 344).
Đức vua
thường bảo với triều thần:” Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng để ai
lấy mất một phân núi, một tấc sông do vua Thái Tổ để lại”.
Triều
đại Lê Thánh Tông là một triều đại cực thịnh của nước Đại Nam ta. Nội trị, đức
vua thẳng tay trừng trị bọn gian thần, nịnh thần, tham quan ô lại bất kể chúng ở
triều đình hay hương thôn. Lê Thánh Tông là một đấng minh quân văn võ kiêm
toàn. Đức vua là một nhà thơ kiệt xuất, là chủ súy của Tao đàn nhị thập bát tú.
Đối ngoại, đức vua thân chinh chinh phạt
Chiêm Thành, Lão Qua… mở rộng lãnh thổ đem lại thống nhất giang sơn và thái
bình thịnh trị cho đất nước.
***
Tôi viết
bài Tưởng niệm này để nhớ về Ngày Quốc hận 23 tháng 5 âm lịch năm Ất Dậu, tức
ngày 5 tháng 7 năm 1885 cách nay đúng 135 năm khi Kinh thành Huế thất thủ về
tay thực dân Pháp.
Huế - thất
thủ kinh đô


Biến cố
năm 1885 đã để lại một ấn tượng rất sâu sắc không những đối với triều đình nhà
Nguyễn mà cả người dân xứ Huế. Sau biến cố đó, triều đình Huế chia làm hai kinh
đô: Kinh đô của Nam triều tại Huế và kinh đô kháng chiến Tân Sở ở Quảng Trị với
hai niên hiệu Hàm Nghi và Đồng Khánh cùng tồn tại cho đến năm 1888.
Thời điểm đó cũng đánh dấu một triều đình đang làm chủ vận mệnh đất nước bị ngoại xâm, kiên cường đấu tranh để giành lại chủ quyền. Biến cố kinh đô Huế năm 1885 là niềm tự hào nhưng cũng là nổi đau lớn của dân ta!

Thời điểm đó cũng đánh dấu một triều đình đang làm chủ vận mệnh đất nước bị ngoại xâm, kiên cường đấu tranh để giành lại chủ quyền. Biến cố kinh đô Huế năm 1885 là niềm tự hào nhưng cũng là nổi đau lớn của dân ta!

Ngày thực dân Pháp đổ bộ lên Đà Nẵng năm
1858.
Liên quân
Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất là trận đánh mở đầu cho cuộc
chiến tranh Pháp-Việt 1858-1884 trong lịch sử Việt Nam. Đây là cuộc chiến kéo
dài nhiều ngày, khởi sự từ ngày 31 tháng 8 năm 1858 và kết thúc vào ngày 2
tháng 2 năm 1859, để chuyển sang một giai đoạn khác.
Liên quân
Pháp – Tây Ban Nha đã bị cầm chân và bị thiệt hại, cho nên đây chính là một khởi
đầu thắng lợi lớn, nhưng duy nhất trong hơn một phần tư thế kỷ (1858 - 1884) chống
ngoại xâm của quân và dân Việt Nam.
Âm mưu của
thực dân Pháp.
Ngày
2-7-1885, De Courcy vừa đến Huế đã mở ngay cuộc thương thảo với triều đình về
nghi lễ chuyển giao hiệp ước Patenôtre đã được Chính phủ Pháp phê duyệt, nhân
cơ hội này để bắt Tôn Thất Thuyết. Âm mưu của De Courcy không thành vì Tôn Thất
Thuyết đã biết trước nên ông tìm mọi lý do để cự tuyệt. De Courcy đòi triều
đình Huế trong vòng ba ngày phải nộp đủ tiền bồi thường chiến phí là 200.000
thoi vàng, 200.000 thoi bạc và 200.000 quan tiền; lại yêu cầu cho sĩ quan tuỳ
tùng và binh lính Pháp được mang vũ khí vào cửa Ngọ Môn. Trước thái độ hách dịch
và những yêu sách vô lý của quan chức Pháp nên cuộc đàm phán bị bế tắc. Để thể
hiện sự nhân nhượng và tạo thế bất ngờ cho cuộc tập kích vào quân đội Pháp, chiều
ngày 4 -7- 1885, Tôn Thất Thuyết đưa thư sang toà Khâm Sứ, đóng ở bờ nam sông
Hương xin từ chức Thượng thư Bộ Binh nhưng bị De Courcy khước từ. Dân Huế quen
gọi là Tòa Khâm.
Mâu thuẫn
đã đến cực điểm, chiến tranh tất phải bùng nổ.
Tổng số
quân đội của triều đình lúc đó có khoảng 2 vạn người và 1.400 tù nhân ở nhà lao
Trấn phủ được mở cửa cùng ra đánh giặc lập công. Tôn Thất Lệ, em ruột Tôn Thất
Thuyết đang giữ chức Tham biện Sơn phòng Tân Sở tại Quảng Trị được triệu về
kinh để chỉ huy cánh quân đánh úp toà Khâm Sứ Pháp. Trần Xuân Soạn là một danh
tướng chỉ huy đánh Pháp ở Bắc Kỳ được Tôn Thất Thuyết điều về Huế giữ chức Đề đốc
Kinh thành chỉ huy đội quân tập kích vào đồn Mang Cá.
. Sau khi dự tiệc ở toà
Khâm Sứ trở về Tôn Thất Thuyết- tổng chỉ huy cuộc tấn công đóng bản doanh ở sau
Đại Nội sẽ cùng Trần Xuân Soạn đánh úp đồn Mang Cá, ứng phó với mọi tình huống
và chuẩn bị lộ trình phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở nếu cuộc tập kích không thành.
Phòng
thành Mang Cá có tên chữ là Trấn Bình Đài có nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ kinh
thành, chống các lực lượng thù địch từ biển vào qua cửa Thuận An. Đây là nhượng
địa đầu tiên của triều đình Huế cho Pháp theo Hòa ước Harmand. Pháp chiếm Mang
Cá là chiếm vị trí yết hầu cuả hệ thống phòng ngự của vua quan nhà Nguyễn. Nơi
đây, tác giả được sinh ra và lớn lên hơn 10 năm từ năm 1935 cho đến 1945. Thực
dân Pháp xây dựng Đồn Mang Cá thành cơ quan đầu não của lực lượng chiếm đóng,
có Bộ chỉ huy Lữ đoàn 5 (5è Brigade). Phía trong thành có các cơ quan Sở Mộ
lính, Trésorier, Câu lạc bộ Nhà binh, cơ quan tham mưu (État Major). Ba tôi làm
việc ở đây, dưới sự chỉ huy của tham mưu phó quan hai (lieutenant) Le Bourg cho
tới lúc mãn hạn lính năm 1944. Phía ngoài đồn, có Trại Con Gái (camp mariée) là
khu nhà cho gia đình binh lính và hạ sĩ quan ở. Trong Trại này có sân vận động,
có trường học (chỉ đến lớp Sơ đẳng Élémentaire), có Trạm y tế. Người đứng đầu
Trại này có hàm Chánh quản (Adjudant chef). Ngoài ra, còn có nhà bàn (nhà ăn tập
thể), kho gạo, tiệm cắt tóc cho lính. Tiểu đoàn 3 (3è bataillon) thì theo cổng
phụ, vào cổng Trấn Bình Đài.
Tổng số
quân Pháp là 1.387 lính với 31 sĩ quan, có đại bác yểm trợ, chia làm hai khu vực
đóng quân ở Mang Cá và toà Khâm sứ cùng các trại thuỷ quân lục chiến ở bờ nam
sông Hương. Đêm 4 tháng 7, ở sân toà Khâm sứ, De Courcy vẫn thản nhiên cho tổ
chức dạ tiệc với sự có mặt đầy đủ các sĩ quan và quan chức đóng ở Huế, đến 23
giờ tiệc tan, mọi người ra về, thời gian vẫn yên tĩnh trôi qua.

Khoảng 1 giờ sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885 (23 tháng 5 năm Ất Dậu), Tôn Thất Thuyết cho phát lệnh tấn công. Quân Pháp ở Mang Cá, toà Khâm sứ và trại thuỷ quân ở nam sông Hương bất ngờ bị tấn công dồn dập, các doanh trại và quân Pháp bị thiệt hại nặng.
Danh tướng Tôn Thất Thuyết
Khoảng 4 giờ sáng, quân Pháp bắt đầu phản công, chúng lần lượt phá huỷ các công sự chiến đấu và dập tắt hoả lực của quân đội triều đình ở trong và ngoài kinh thành, cuộc chiến trở nên khốc liệt. Đến 9 giờ thì ngưng tiếng súng và Kinh đô thất thủ, quân Pháp tràn vào Đại Nội bắn giết, cướp của, hãm hiếp, đốt phá vô cùng man rợ trong suốt 2 ngày đêm.
Bi cảnh thất
thủ Kinh đô được danh sĩ Ngô Tất Tố ghi lại vào năm 1935 như sau:
“Hoàng thành hầu như một chỗ bỏ không, cảnh tượng cực
kỳ thê thảm. Mấy dẫy lâu đài đồ sộ, bị lửa thuốc súng thiêu đốt, sụt đổ lổng chổng,
lửa vẫn cháy, khói vẫn theo gió toả ra mịt mù. Dưới những túp nhà tranh tan nát
vì đạn trái phá, tiếng người vẫn rên khừ khừ. Những kẻ cụt chân, cụt tay, gảy
xương, lòi ruột, muốn chạy mà không chạy được đành phải nằm trong vũng máu¦ Cạnh
các bãi tro than tanh bành, luôn luôn thấy những thây người bị thiêu, da thịt
xém đen, có người chưa thật chết còn nằm quằn quại bên đống lửa. Trong các nhà,
trên các con đường, dưới những hồ sen, ao cá, đâu đâu cũng có người chết; nhất
là quảng từ Tàng Thư đến Tĩnh Tâm xác người chồng chất lên nhau từng đống.
Chung quanh Toà Khâm, trước sau Mang Cá, trên cầu Thanh Long và những nơi đã xẩy
ra cuộc xung đột của quân ta và lính Tây xác chết cũng nằm như rạ. Thiệt hại về
phía Pháp có 4 sĩ quan và 19 binh lính thiệt mạng, 64 tên khác bị thương. Trong
khi đó về phía triều đình có chừng 1.500 quân bị thương vong và khoảng 7.800
người dân vô tội bị chết và bị thương. Lửa đạn chiến tranh đã tiêu huỷ tất cả,
Huế trở nên hoang tàn, đổ nát, tràn ngập cảnh chết chóc, tang thương”.
Tập
kích quân Pháp lúc tướng De Courcy vừa đến Huế để lật lại thế cờ không thành,
phe chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết vội vàng phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở. Thành
Tân Sở hay Sơn phòng Tân Sở là tên một tòa thành cổ của nhà Nguyễn; nay thuộc địa
phận làng Mai Đàn, xã Cam Chính, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Vua Hàm Nghi lên
Tân Sở vào ngày 10 tháng 7 năm 1885, rồi ba ngày sau, tức là ngày 13/7/1885 nhà
vua xuống Chiếu Cần Vương làm dấy lên một phong trào kháng Pháp rộng khắp. Song
chỉ mấy ngày sau, tướng De Courcy sai quân đến bao vây biển Nhật Lệ và đánh chiếm
tỉnh thành Quảng Trị, buộc tướng Tôn Thất Thuyết phải phò vua rời Tân Sở. Liền
khi ấy, quân Pháp tràn cướp phá và san bằng Sơn phòng này.
Trên
quốc lộ 9 từ Đông Hà đi Lao Bảo, chỗ cây số 12 rẽ theo đường vào Cùa chừng 7 km
sẽ gặp một bình nguyên đất đỏ bazan, được bao bọc bốn phía bởi các dãy núi
trùng điệp, đó là vùng đất mà thành Tân Sở khi xưa đã tọa lạc.
Năm
1873, quân Pháp đánh ra Hà Nội lần thứ nhất, buộc nhà Nguyễn phải ký Hòa ước
Giáp Tuất (1874), thì ngay sau đó triều thần đã đề nghị lên vua Tự Đức xin khẩn
trương xây dựng các Sơn phòng tại tất cả các tỉnh miền Trung, và được chấp thuận.
Trong đó đáng chú ý là Nha Kinh lý Sơn phòng Quảng Trị, tiền thân của thành Tân
Sở.
Tuy
nhiên, việc xây dựng Sơn phòng được tiến hành khẩn trương vào cuối năm 1883, dưới
triều vua Kiến Phúc. Khi ấy, triều đình ban lệnh cho các phạm nhân đã phân loại
đến khai khẩn ở Sơn phòng Quảng Trị, cho "dời nha Sơn phòng Quảng Trị tới
làng Bảng Sơn, lỵ sở phủ Cam Lộ cũng xin dời về trong Sơn phòng", đồng thời
giao cho Đại thần Phụ chính Nguyễn Văn Tường trực tiếp đứng ra đôn đốc binh sĩ,
tù nhân và dân phu trong quá trình xây dựng thành Tân Sở, bởi Cơ mật viện cho
là "Sơn phòng Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô Huế.
Tân Sở
có diện tích gần 23 ha, gồm hai vòng thành đều hình chữ nhật. Vòng thành ngoài
có chiều dài 548 m, rộng 418 m; xung quanh trồng tre, có 4 cửa (Tả, Hữu, Tiền,
Hậu) ở chính giữa bốn mặt thành. Thành nội dài 165 m, rộng 100 m (diện tích
16,5 ha), cũng có bốn cửa, bên trong có mấy nếp nhà dùng làm nhà ở của các
quan, có chợ, trại lính, kho đạn, hầm súng, tàu voi, trại giam, giếng nước,
v.v".
Để xây
dựng thành Tân Sở, triều đình đã huy động "hàng ngàn binh lính, tù phạm và
dân phu ngày đêm đào hào, xây thành, đắp lũy. Vật liệu tại chỗ chủ yếu là gỗ,
tre, mây...còn phần lớn được vận chuyển từ Huế ra để xây dựng, trong đó có gạch
với kích thước lớn, khối lượng lớn để xây Thành nội và một số kiến trúc ở bên
trong Thành nội. Đồng thời, phải khẩn hoang để tự chủ lương thực, dự trữ muối để
phòng lúc bị vây, khai quặng sắt để rèn đúc công cụ và vũ khí. Ngoài ra, còn phải
đưa vàng bạc, vũ khí từ Huế ra trước để dự phòng, mở đường thượng đạo để thông
với kinh đô Huế và Quảng Bình.
Lần thứ
hai là khi trên đường ra Quảng Bình bằng đường hạ bạn ở đồng bằng thì nghe tin
quân Pháp đón bắt ở Đồng Hới, Tôn Thất Thuyết phải đưa nhà vua về lại Tân Sở, rồi
theo con đường thượng đạo để ra Bắc. Liền khi ấy, quân Pháp tràn cướp phá và
san bằng Sơn phòng này.

Chiếu Cần Vương đã dấy lên phong trào chống Pháp của nhân dân trên cả ba miền đất nước, mà tên tuổi của nhiều nhân vật như Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Phạm Thận Duật, Đặng Hữu Phổ, Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Duy Hiệu, Mai Xuân Thưởng, Lê Thành Phương¦đã đi vào bất tử.
Lễ
tế Đàn Âm hồn 23 tháng 5 âm lịch hàng năm.
Lễ này bắt nguồn từ sau chính biến ngày 23.5. năm Ất
dậu (05.7.1885) khi Kinh đô Huế thất thủ.
Lễ tế
Âm hồn Thất thủ Kinh đô - bữa quảy cơm chung (còn gọi là Lễ Truy niệm Chiến sĩ
trận vong và đồng bào nạn vong năm Ất dậu) là một nét văn hoá đặc trưng của
nhân dân Thừa Thiên - Huế.
Ngày
thất thủ Kinh đô 23 tháng 5 là ngày quốc hận, trở thành ngày quốc tang, ngày
tâm tang của người dân xứ Huế.
Chín
năm sau ngày Kinh đô thất thủ, dưới triều vua Thành Thái, Đàn Âm hồn mới được
triều đình cho thiết lập. Năm 1894, Bộ Lễ cho lập Đàn ở một bãi đất ở gần cửa
Quảng Đức. Ở đây người dân dựng các bàn thờ để cúng các vong linh bị chết trong
chiến tranh. Quan Đề đốc Kinh thành làm chủ tế và thân chinh đọc Văn tế. Đàn
lúc đầu để lộ thiên ở một bãi đất rộng 1.400 mét vuông, về sau triều đình cho
xây một ngôi nhà ba gian để thờ và cất giữ đồ tự khí. Đàn dài khoảng 10 mét, rộng
5 mét, cao 1, 5 mét, có 3 án thờ đặt ba bài vị sơn son thếp vàng. Án giữa thờ
anh linh các quan chức triều đình, án bên trái thờ dân chúng tử nạn, án bên phải
thờ tử sĩ trận vong.
Sau
năm 1945, triều Nguyễn sụp đổ, việc cúng tế Đàn Âm hồn cũng không còn, nhưng đạo
lý và tâm linh của văn hoá đất thần kinh đã thôi thúc một tổ chức tế lễ phi nhà
nước ra đời để đảm nhận việc cúng tế cho các anh linh, tử sĩ trận vong trong
ngày kinh đô thất thủ là phổ Phước Lợi với hơn 100 gia đình thành viên tham
gia, vị Trưởng phổ đầu tiên là Nguyễn Dục (1945-1960) và duy trì nét đẹp văn
hoá này cho đến ngày hôm nay. Hiện nay trưởng phổ đời thứ 4 là ông Trần Phú Thuận,
đảm nhận từ năm 2001.
Việc tổ
chức tế lễ Đàn Âm hồn là nghĩa cử văn hoá cao đẹp mang tính đặc trưng lịch sử của
xứ Huế đã tồn tại hơn một thế kỷ qua. Ngoài đàn Âm hồn mang ý nghĩa quốc đàn do
Nhà nước phong kiến thành lập và thiết lễ, miếu Âm hồn do dân lập nên (đường Mai
Thúc Loan), nhiều đền chùa, am miếu, nhà thờ, mọi nhঠđến ngày 23 tháng 5 Âm lịch
đều bắt đầu cúng lễ Cô hồn và kéo dài một tuần lễ để tưởng nhớ và các anh linh
đã trận vong trong ngày thất thủ Kinh đô.
Tôi
thiết nghĩ, Nhà nước ta nên có một đền thờ trang nghiêm làm nơi tưởng niệm những
linh hồn đã hy sinh trong ngày Quốc hận này.
Ngày
nay, người dân Huế vẫn coi ngày 23 tháng 5 âm lịch hàng năm là ngày Quốc hận. Trên khắp mọi nẻo đường của Kinh thành Huế,
trước mặt mỗi nhà đều có bày biện mâm lễ cúng âm hồn. Nhân dân Huế mãi mãi
không quên Ngày Quốc hận này. Và tôi liên tưởng đến truyền thống đánh giặc giữ
nước của cha ông ta trải qua bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Tôi lại
nhớ đến câu nói bất hủ của Vua Lê Thánh Tông: Vua Lê Thánh Tông từng nói với
các quan coi biên giới năm 1473 rằng: “Một
thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết
tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang
phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một
tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!
Ông
thường bảo với triều thần:” Ta phải giữ
gìn cho cẩn thận, đừng để ai lấy mất một phân núi, một tấc sông do vua Thái Tổ
để lại”.
Ảnh 1. Lễ truy niệm chiến sĩ và đồng bào trận vong ngày thất thủ Kinh đô.
Ảnh 2. Danh tướng Tôn Thất Thuyết.
Ảnh 3. Mộc bản triều Nguyễn về ngày Thất thủ Kinh đô
Ảnh 4. Lễ tế Ngày Quốc hận Thất thủ Kinh đô
Bên bờ Phước
Long Giang, còn vài ngày nữa tới Ngày Quốc hận Thất thủ Kinh đô Huế, 23 tháng
Âm lịch Ất Dậu 1885.
Nhà thơ
Xuân Bảo