-
- KỶ NIỆM 56 NĂM NGÀY CƯỚIXUÂN BẢO – THÚY MINHNgày 04/02/1961 – 04/02/2017.Năm nay, nhân kỷ niệm 56 năm Ngày cưới, tôi may mắn tìm lại được trong tàng thư bài thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Xa, người làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội viết tặng vợ chồng chúng tôi nhân ngày cưới.Cụ Nguyễn Đức Xa là nhà thơ trào phúng, đã có rất nhiều thơ châm biếm đăng trên báo Hà Nội mới, ở chuyên mục “Chuyện lớn chuyện nhỏ”.Dưới đây là nguyên văn nội dung bài thơ đó:Tặng đôi bạn trẻ: XUÂN BẢO – THÚY MINHnhân NGÀY CƯỚI 04-02-1961.Xuân Bảo - Thúy Minh đôi bạn trẻLễ Thành hôn vui vẻ giữa trời đôngXuân đã tươi như một đóa hồng nhungTình lại đẹp như bản đàn nhà nhạc sĩXuân Bảo Thúy Minh yêu nhau vì tâm lýNên hai bạn Minh - Bảo mến thương nhauUyên ương gối thắm tươi màuHai lòng Minh - Bảo yêu nhau trọn đờiThanh Liệt, 04/02/1961Kính thưa hương hồn Bác NGUYỄN ĐỨC XA!Câu thơ Chúc của Bác giờ đây chúng cháu vẫn lấy làm phương châm cho cuộc sống vợ chồng:... “Uyên ương gối thắm tươi màu/Hai lòng Minh - Bảo yêu nhau trọn đời...”. Trong những năm gian khó của Hà Nội thời đánh Mỹ, dù gặp nhiều khó khăn trong đời sống, chúng cháu vẫn âm thầm lặng lẽ hy sinh cùng nhân dân thủ đô hoàn thành sứ mệnh đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.Năm 2001, mở đầu Thiên niên kỷ mới, nhân kỷ niệm 40 năm Ngày cưới, tôi làm bài thơ Vít bóng trăng nghiêng để nhớ về những năm vợ chồng chung sống. Lúc này những người con của chúng tôi đã trưởng thành. Và chúng tôi đã ở Biên Hòa hơn 25 năm. Bài thơ được sáng tác để kỷ niệm 40 năm Ngày cưới (04/02/1961 – 04/02/2001) của chúng tôi. Bài thơ này được in vào sách thơ Trăng Giêng do Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành.Mỗi độ xuân về đào thắm nụGửi tình nhờ gió tới phương emĐường xưa Yên Phụ bao thương nhớDâng hiến em yêu trọn trái timNgày ấy đôi ta ước những gìHoa niên đẹp lắm tuổi đương thìCùng nhau hẹn ước quanh Hoàn KiếmĐừng giận đừng hờn kẻo ướt miGiành giụm niềm vui để tặng nhauVượt qua rừng thẳm với sông sâuVít bóng trăng nghiêng ghi lời hẹnChung thủy tình ta đến bạc đầuBài thơ này đã được nhạc sĩ Đoàn Quang Trung phổ nhạc và ca sĩ Thu Huyền thể hiện, thu băng và phát hành. Rất được nhiều người hâm mộ. Năm 2008, khi Mẹ tôi qua đời, thọ 93 tuổi, tôi đã đưa bài hát này vào bộ phim Bài thơ về Mẹ.Hai câu cuối trong bài thơ được bạn đọc đánh giá là lãng mạn và độc đáo và hoành tráng, bởi vì tác giả đã “vít bóng trăng nghiêng ghi lời hẹn”, một lời hẹn sắt son “chung thủy tình ta đến bạc đầu”.Và ơn giời, năm Đinh Dậu này tôi bước sang tuổi 83 và nhà tôi bước sang tuôi 77 rồi. Chúng tôi nguyện như câu chúc mà chao ông chúng ta thường dùng: “bách niên giai lão!”
Bên bờ Phước Long Giang, ngày Hạ nêu, mùng 7 Tết tức ngày 03/02/2017.
Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017
180.KỶ NIỆM 56 NĂM NGÀY CƯỚI
Thứ Ba, 31 tháng 1, 2017
179. TÂN NIÊN KHAI BÚT.
179. TÂN NIÊN KHAI BÚT.
Xuân
Bảo
Nguyên
đán lên tím ngắt hoa chiều tím
Da
diết lòng ta một “Nụ Tình Xuân”
Em
nhẹ bước vào phòng văn rồi đó
Hạt
sương gieo bịn rịn ánh chiêu dương.
Bên bờ Phước Long Giang, đêm giao
thừa Tết Đinh Dậu 2017.
----------------------------------------------------------------------------------------
Về Một đôi
câu đối của nữ sĩ
Hồ Xuân Hương
Văn
hóa Việt Nam, cho đến ngày nay vẫn còn giữ được vẻ đẹp trong ba ngày tết. Đó là
những câu đối Tết.
“Thịt mỡ, dưa hành,
câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”
Nhà thơ Vườn Bùi Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn
Khuyến, khi tuổi đã cao, mắt bị lòa, không trông thấy được mọi vật quanh mình,
cụ chỉ còn trông cậy vào hai cơ quan xúc giác và thính giác còn tinh nhạy của
mình để nhận biết thế giới xung quanh. “Cành Nêu” và “Tiếng pháo” là 2 tín hiệu
đặc trưng thông báo về Tết và Xuân, nên khi “chạm” vào “cành Nêu”, cụ biết “Tết”
đến, “nghe” “tiếng pháo” nổ “đùng”, cụ biết “Xuân” về:
“Tối ba mươi ra chạm cành Nêu, ấy Tết
Sáng mồng một, nghe
đùng tiếng pháo, à Xuân”
***
Cụ Tú Vị Xuyên Trần Tế Xương nghe
tiếng pháo nổ ngày Tết mà thêm ngao ngán trước việc đầy rẫy rối ren, thế mà người
đời lại không biết cái nhục,cái nhục mất nước vào tay bọn Phú-lang-sa mà còn “đốt
pháo” làm gì cho cái cảnh đời vốn đã tan như “xác” pháo càng thêm xơ xác! Và
ông thấy thiên hạ vẽ hình này nọ bằng vôi trắng lốp trên sân nhà trong ngày Tết
mà ngán ngẩm: Tình đời đã “bạc” lắm rồi còn “bôi vôi” làm chi cho thêm “bạc”?!:
“Thế sự xác rồi còn đốt phá
Nhân tình bạc thế lại bôi vôi”
Với lối chơi chữ rất Tú Xương, cụ Tú
Vị Xuyên đã cười cợt đấy mà cũng thật chua cay! Cụ lại nghĩ Xuân đến với mọi
nhà thì cũng đến với nhà mình. Ngạn ngữ đã chẳng nói “Trời không đóng cửa ai”
đó sao?! Nhà thơ hy vọng rằng đầu Xuân trời mở cửa cho mình một điều may mắn để
bù lại bao điều bất như ý mà mình đã phải trải qua. Đây là nụ cười lạc quan của
một nhà thơ có nụ cười nhiều cay đắng:
“Không dưng xuân đến chi nhà tớ
Có nhẽ trời mà đóng cửa ai”
***
Bà chúa thơ Nôm - Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã có
đôi câu đối Tết tặng người đời, tràn đầy Xuân tứ, còn truyền tụng đến ngày nay,
chúng ta không ai không biết:
“Tối
ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng
mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào”
***
LỜI TÁN CỦA NHÀ
THƠ TÚ SỪNG.
Xã hội thời nữ sĩ sống vốn nhiễu nhương, nhà
Lê tàn,đất nước lâm vào tình trạng chiến tranh, Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài
gần 150 năm, đời sống người dân rất khổ cực.Là người cầm bút và với tâm hồn cao
thượng của kẻ sĩ trước thời cuộc, Hồ Xuân Hương đã đi vào mọi ngóc ngách cuộc sống
của nhân dân để có những tác phẩm trác tuyệt, độc đáo, kỳ lạ…Nữ sĩ để lại cho
chúng ta một kho tàng thơ ca tuy không nhiều nhưng là một kiệt tác văn chương
thuộc hạng kỳ tài.
Như trên tôi đã dẫn, hai nhà thơ lớn
của chúng ta là Cụ Nguyễn Khuyến và Cụ Tú Xương có những câu đối Tết thật hay,
thật xúc động. Tuy nhiên câu đối Tết của nữ sĩ họ Hồ được rất nhiều người dân
biết đến.
Về câu đối Tết
của nữ sĩ:
Lời văn tinh nghịch, đâu có dừng lại ở nghĩa đen, câu chuyện “khép cánh càn khôn, ních chặt lại” để
tránh cái xấu. Cái xấu được nhân cách hóa bằng hình tượng “ma vương đưa quỷ tới”. Và xã hội hiện đại, mỗi lần Tết đến, Xuân
sang người dân vẫn rất cảnh giác với cái đêm giao thừa, cái đêm được mọi người
gọi là đêm trừ tịch của tháng củ mật. Bọn trộm cướp vẫn rình mò để làm nhiều việc
xấu: đào tường khoét ngạch, cướp của giết người…Ma vương và quỷ sứ còn là những
tên tham quan ô lại, những tên cậy quyền cậy thế đàn áp nhân dân.
Vế đối “lỏng then tạo hóa, mở toang ra”. Tiễn năm cũ đi rồi và đón năm mới,
đón mùa xuân về. Nữ sĩ lại dùng hình tượng người thiếu nữ, đại diện cho sức sống
thanh xuân, tràn đầy nhựa sống của Mùa Xuân – mùa nguyên đán, tinh khôi của vũ
trụ. Đây còn là một tiếng cười hóm hỉnh,
đa tình, đong đưa, vui đời, tươi trẻ và khao khát yêu đương rất Xuân Hương. Và
chỉ có thể là Bà Chúa Thơ Nôm mới có thể dùng từ ngữ mạnh bạo đến vậy. “Mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào”.
Một
đôi câu đối ngày Tết của nữ sĩ Hồ Xuân Hương sẽ sống mãi trong lòng con dân đất
Việt.
Vài nét về Nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Sinh
(giả thiết) 1772 tại hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An, xứ Bắc Hà.
Mất (giả thiết) 1822 tại Hà Nội, nội trấn Bắc Thành. Quốc gia: Personal Flag of
Emperor Minh Mang. An Nam. Dân tộc Kinh Việt.
Gia
thế: Học giới nhất quán rằng
Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772, theo học giả John Balaban thì bà cất tiếng khóc
chào đời ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận Bách Thảo viên Hà Nội). Cứ theo
Giai nhân dị mặc, Hồ Xuân Hương là
ái nữ của Sinh đồ Hồ Phi Diễn (1703 - 1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh
Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương
là ông Hồ Sĩ Danh (1706 - 1783) cũng người Quỳnh Đôi, Hồ Sĩ Danh là em cùng cha
khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống (1739 - 1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương
là bà lẽ tên Hà Thị ( ? - 1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh
dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa Phi
mai xuân sắc nhất kinh thành của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ
Phi Mai là nguyên danh, Xuân Hương là biểu tự và Cổ Nguyệt Đường là bút hiệu.
Trong
thế cuộc xoay vần đầy nhiễu nhương cuối thế kỷ XVIII, Hồ Xuân Hương vẫn được hưởng
những năm tháng ấu thơ êm đềm ở một dinh thự lớn tên Cổ Nguyệt đường, ven hồ
Tây, bấy giờ là chốn phồn hoa đô hội bậc nhất xứ Đàng Ngoài. Sau khi mãn tang
cha, mẹ bà tái hôn với người khác. Dù ít phải ràng buộc trong gia giáo nghiêm
khắc như mọi nữ lưu cùng thời, Hồ Xuân Hương vẫn hội tụ được tư chất thông minh
và hiếu học.
Hôn
nhân: chồng đầu Nguyễn Bình Kình, Tổng Cóc. Chồng kế Phạm Viết Ngạn, Ông phủ
Vĩnh Tường.
Hồ
Xuân Hương cũng được cưới gả từ rất sớm như mọi con cái trâm anh thế phiệt bấy
giờ, nhưng dẫu qua hai lần đò đều không viên mãn. Ban sơ, bà làm lẽ của một hào
phú có biệt hiệu Tổng Cóc. Tổng Cóc vốn là biệt hiệu mà người quen biết đặt cho
Chánh tổng Nguyễn Bình Kình, tự Công Hòa. Nguyên quán của ông ở làng Gáp, xã Tứ
(nay thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Ông là cháu của quan nghè Nguyễn
Quang Thành, bản thân cũng một lần đi thi Hương nhưng không đỗ đạt. Sau Tổng
Cóc đăng trình, lên đến chức cai cơ nên thường được gọi là Đội Kình. Kết quả của
hôn sự này được cho ra đời một đứa trẻ vắn số. Vào ngày Hồ Xuân
Hương trở dạ, Tổng Cóc đến đòi đón con về, nhưng người nhà họ Phạm nói lại là đứa
bé đã mất khi vừa lọt lòng.
Tuy
chỉ là cai lính nhưng Tổng Cóc vốn thuộc dòng dõi văn nhân, ông rất chuộng ca
ngâm và mến luôn cái tài làm thơ của người vợ lẽ. Để chiều lòng bà, Tổng Cóc đã
cất một thủy tạ rất lớn cho Hồ Xuân Hương ở, vừa tránh phiền lụy với vợ cả vừa
thỏa thưởng thi phú. Chung sống với Tổng Cóc được một thời gian khá lâu thì Hồ
Xuân Hương dứt áo ra đi với một cái thai. Có thuyết cho rằng, bà bỏ đi sau khi
Tổng Cóc đã đột ngột từ trần; nhưng cũng có thuyết cho rằng bà không chịu được
điều tiếng dị nghị của vợ con Tổng Cóc và người làng; lại có thuyết nói bản
tính phóng đãng khiến Hồ Xuân Hương khó ngồi yên một chỗ, bà trốn đi cùng tình
quân là Phạm Viết Ngạn.
Theo
Phạm gia tộc phả và Triệu tông phả, ông phủ Vĩnh Tường tức là Tú tài Phạm Viết
Ngạn (khi thăng chức Đồng tri phủ Phân phủ Vĩnh Tường thì cải thành Viết Lập),
tên cúng cơm là Đại, tự Thành Phủ. Nguyên quán của ông ở hương Trà Lũ, xã Xuân
Trung, phủ Xuân Trường, trấn Sơn Nam Hạ. Các tư liệu này cũng cho biết, Hồ Xuân
Hương sinh cho ông một người con tên Phạm Viết Thiệu. Trong
hôn sự lần này, Hồ Xuân Hương làm lẽ của Tú tài Phạm Viết Ngạn, bấy giờ tại nhiệm
tri phủ Vĩnh Tường. Nhưng duyên phận chỉ được 27 tháng thì ông phủ Vĩnh Tường tạ
thế.
Có
nhiều thuyết về quãng đời sau đó của Hồ Xuân Hương, như việc bà cưới thêm vài
người chồng nữa, việc bà hỏi mượn tiền thi hữu để mở hàng bán giấy bút mực, hoặc
giai thoại về các mối tình trăng hoa và văn chương, nhưng mức độ khả tín chưa
được xác định rõ ràng. Hồ Xuân Hương được cho là mất vào năm 1822.
Ngoài
ra, có nhiều giai thoại truyền khẩu về lối sống phong lưu của nữ sĩ họ Hồ, như
việc bà là một hoa nương thanh sắc vẹn toàn, và những mối tình bên thơ rượu với
Phạm Đình Hổ, Phạm Thái, Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, Nguyễn Hầu, Trần Ngọc Quán,
Trần Quang Tĩnh, Phan Huy Huân, Mai Sơn Phủ, Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên...
Hồ
Xuân Hương (1772 - 1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu
thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà
hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu,
nhưng hậu thế có thi sĩ Xuân Diệu đã mạo muội tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ
Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan
niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của
thời đại mình, có nhiều người cho rằng đặc sắc của thơ bà là "thanh thanh
tục tục".
Không
có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương,
bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại
Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân
Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ.
Một
ấn bản thơ Hồ Xuân Hương bằng Pháp văn của Viễn Đông Bác Cổ năm 1968. Văn bản
được nhận diện cổ nhất có chép thơ Hồ Xuân Hương là Quốc văn tùng ký do Hải
Châu Tử Nguyễn Văn San (1808 - 1883) soạn năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), nhưng chỉ
vài bài. Hầu hết di tác của nữ sĩ họ Hồ được gom trong cuốn Xuân Hương thi tập, Phúc Văn Đường tàng
bản ấn hành tại Hà Nội năm 1930. Trong sách có khoảng 60 bài nhưng lẫn cả thơ của
nhiều tác giả khác, nay chưa truy nguyên được tất cả. Tuy nhiên, văn bản đáng
quý nhất là Lưu hương ký với bài tựa
của Phan Huy Huân, được học giả Trần Thanh Mại phát kiến và công bố trên thi
đàn vào năm 1964. Trước đó không lâu, năm 1962, đã có học giả Trần Văn Giáp
đăng trên báo Văn Nghệ (Hà Nội) 5 thi phẩm chữ Hán được cho là của Hồ Xuân
Hương. Nhưng mãi đến năm 1984, học giả Hoàng Xuân Hãn mới dịch nghĩa và đăng
trên tập san Khoa Học Xã Hội (Paris), lại đặt nhan đề lần lượt là Độ hoa phong,
Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thủy vân hương.
Thơ
Hồ Xuân Hương luôn được trình bày theo phong cách thất ngôn bát cú hoặc thất
ngôn tứ tuyệt, bút pháp được nhận định là điêu luyện nhưng phần chữ Nôm nhiều
phần đặc sắc hơn chữ Hán. Ý tưởng trong thơ cũng rất táo bạo, dù là điều cấm kị
đối với lễ giáo đương thời. Cho nên, Hồ Xuân Hương được xem như hiện tượng kỳ
thú của dòng thi ca cổ điển Việt Nam khi tích cực đưa ra cái nhìn đối lập với
truyền thống đạo đức, nhưng không vì thế mà tự trở nên suy đồi. Tựu trung, các
di tác phần nào cho phép hậu thế thấy thực trạng tang thương ở thời đại bà sống
và cả quá trình mục rữa của xã hội cũ.
Tập
thơ "Lưu hương ký" mang
bút danh của nữ sĩ do ông Trần Thanh Mại phát hiện vào năm 1964 gồm 24 bài thơ
chữ Hán và 28 bài thơ Nôm. Với một nghệ thuật điêu luyện, nhà thơ viết về tâm sự
và những mối tình của mình với những người bạn trai. Đọc kỹ người ta thấy có một
khoảng cách khá xa giữa tập thơ Nôm của Xuân Hương và "Lưu hương ký", chủ yếu là về phong
cách biểu hiện. Trong "Lưu hương ký"
có cả thơ chữ Hán lẫn thơ chữ Nôm. Riêng phần thơ chữ Nôm trong "Lưu hương ký" nếu so sánh với thơ
lâu nay được coi là của Xuân Hương thì hai bên vẫn có sự khác nhau. Thơ chữ Nôm
trong "Lưu hương ký" có rất
nhiều từ Hán Việt, giọng thơ lại hiền lành chứ không góc cạnh, gân guốc như ở
"Xuân Hương thi tập". Vì
lý do trên, để bảo đảm tính khoa học, các nhà nghiên cứu chủ yếu chỉ dừng lại ở
tập thơ Nôm còn "Lưu hương ký"
được coi là một tập thơ để tham khảo.
Nhà thơ Tú Sừng phiếm đàm,
(Bên bờ Phước Long Giang vào đêm
giao thừa Têt năm Con Gà- 2017)
Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2017
177.MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN LÝ VĂN SÂM.
177. MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN LÝ VĂN SÂM.
Hồi
ức
L.N.Đ.- Năm 1999 – năm cuối của Thế kỷ
XX và cũng là năm cuối Thiên niên kỷ I. Đồng thời là năm kỷ niệm lần thứ 20
Ngày thành lập Hội Văn Nghệ Đồng Nai, (22/12/1979 – 22/12/1999). Nhà văn Hoàng
Văn Bổn, Chủ tịch Hội cho mời tôi và Nguyễn Duy Thinh tới Văn phòng. Anh Chín Bổn
nói: “Hai ông là những người đầu tiên có mặt trong những ngày đầu thành lập Hội.
Hãy viết những kỷ niệm về ngày Hội chúng ta mới ra đời.”
Tôi và Duy Thinh nhận lời viết cái
hồi ức nho nhỏ này. Và giờ đây Duy Thinh đã đi xa. Tôi cho vào sách này toàn
văn bài viết CHUYỆN NHỎ NHỮNG NGÀY ĐẦU LÀM BÁO VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI. Đây cũng là
nén hương tôi thắp lên để tưởng nhớ nhà văn Nguyễn Duy Thinh – người đã gắn bó
với Hội nhiều năm – và là người bạn chí cốt của tôi. Viết nhân ngày giỗ của nhà
văn Nguyễn Duy Thinh.
(In lại nguyên văn toàn bài đã đăng trên Tạp
chí Sông Phố số 55, số Kỷ niệm 20 năm thành lập Hội 1979 – 1999.)
***
CHUYỆN NHỎ NHỮNG NGÀY ĐẦU LÀM BÁO VĂN NGHỆ ĐỒNG
NAI
Xuân Bảo – Duy Thinh.
Mới
đó, mà hai chục năm đã đi qua. Những thành quả đã gặt hái bây giờ, làm chúng
tôi bồi hồi nhớ lại những trăn trở quên mình “điếc không sợ súng” ngày đó.
NHỮNG
BÀI BÁO ĐẦU TIÊN KHÔNG IN TRÊN BÁO.
Chiều
tối, trước khi về Sài Gòn, anh Lý Văn Sâm còn ngoắc tôi lại bảo: “Cậu và Xuân Bảo
ráng làm xong cái đó đi nhé”. Được anh Hai Lý cưng, tôi giỡn: “Cái đó là cái
gì, thưa anh?”. “Là cái đó đó”.Anh Hai
Lý cũng nói vui lại.
Thưa bạn đọc, “cái đó” mà nhà văn Lý Văn Sâm
căn dặn chúng tôi là chuẩn bị toàn bộ các văn kiện cho việc thành lập Hội Văn Nghệ
Đồng Nai.
Hai
ngày sau, anh Lý Văn Sâm lại nhắc: “Nè, không có đứa nào giúp việc cho các cậu
đâu. Làm cho ngon nghe!” Xuân Bảo tính ưa vui, bỗ bã quyết liệt: “Tự chúng tôi
biết cách giúp việc cho chúng tôi! Thưa anh Hai”.
Trong
thời kỳ Ban Vận động, trụ sở của Hội đang ở nhờ nhà số 1 Võ Thị Sáu. Nhưng ít
khi anh Hai Lý, anh Chín Thức (Huỳnh Công Thức) và anh Tô Văn Của đến. Chỉ có một
mình cô Đào Minh giữ “gôn”! Xe cộ không, thiết bị văn phòng không. Chỗ chúng
tôi giúp việc lẫn nhau là ngay phòng khách tư gia của Xuân Bảo. Một cái bàn sắt
lớn và một bộ sa-lông nan. Cũng may mà mặt bàn khá rộng tha hồ cho chúng tôi trải
bản thảo. Có một cái ghế mềm xoay 360o giống như ghế của bác phó cạo, thì Xuân
Bảo và tôi thay nhau ngồi “cạo giấy”.Còn cái máy chữ thì vui hết nói, mổ xuống
một ngón thì nhảy lên dính chùm đến ba chữ. Vui nhất là kẹt chữ T. Tôi bàn với
Xuân Bảo lấy chữ L thay chữ T, trông cũng khá giống. Xuân Bảo phì cười: “Cái thằng
kỹ sư địa chất, nhà văn cấp phường này, vậy khi đánh tới…”Chúng tôi ôm nhau cười.
CHÚNG TÔI ĐI THỰC TẾ VỚI
NHỮNG NGƯỜI LÁI MÁY BAY.
Khi
Hội Văn học – Nghệ thuật Đồng Nai đã ra báo đến số thứ tư, nhà văn Lý Văn Sâm bảo
chúng tôi: “Chúng ta (Đồng Nai) có may mắn ở gần sân bay. Vừa qua những người
lái máy bay của sân bay Biên Hòa đã hỗ trợ tốt cho chiến trường bạn. Các cậu bố
trí anh em đi viết về Không quân”.
Chúng tôi lại hứa với
anh như lần trước. Tuần lễ sau, đã làm việc xong với anh hùng Nguyễn Văn Bảy,
Tư lệnh của binh chủng Phòng không – Không quân. Anh Bảy giới thiệu chúng tôi với
chủ nhiệm chính trị sư đoàn Không quân phía Nam. Chúng tôi được xe quân sự của
Bộ Tư lệnh về đón tận sân bay Biên Hòa để lên sân bay Tân Sơn Nhất. Ở đây chúng
tôi được tiếp đón như những người thân mới đi xa trở về. Chúng tôi từ chối
phòng khách và xin được nghỉ cùng cùng với phòng các sĩ quan kỹ thuật.
Ngày
đi nghe báo cáo, xuống phân xưởng sửa chữa, lên đài chỉ huy, ra phòng trực chiến.
Lúc về phải đi qua dãy nhà sĩ quan dẫn đường (bay). Các chàng sĩ quan có bằng kỹ sư và hàm cấp tá nhưng còn rất trẻ,
ưa hài hước. Họ nuôi một chú khỉ rất “ranh ma”. Các chiến sĩ nữ đi qua hãy coi
chừng, nó phóng ngay lên vai, gở mũ và tháo dây nơ, kẹp tóc. Còn cánh đàn ông
chúng tôi, nó cũng làm vậy và lấy thứ khác. Chúng tôi đi ngang qua và Xuân Bảo
lãnh ngay cú “cẩu đầu vân” của chú khỉ. Xuân Bảo chỉ kịp kêu lên ối một tiếng
thì “hậu duệ” của Tôn Ngộ Không đã ở trên ngọn cây và khoe cây viết vừa cướp được.
Một sĩ quan dẫn đường bay vừa đi tới, huýt gió nghe chói tai và nói: “Thằng trời
đánh sống 500 tuổi kia, trả ngay bút cho nhà văn”. Có thể đó lời nói của Đường
Tăng, con khỉ ngoan ngoãn leo xuống trả bút cho Xuân Bảo.
Ngày
hôm sau chúng tôi được anh Tám Đức (Mai Văn Đức, chỉ huy trưởng Đoàn bay lên thẳng
(917) chiến đấu phía nam bố trí cho “bay thực tế” với các chiến sĩ lái. Vào
ga-ra máy bay chúng tôi thấy hai người lái đang đẩy chiếc OV10, nhỏ như đồ chơi
trẻ con. Chúng tôi nói cho bọn mình bay cái này cũng được. Hiền An Giang vốn yếu
đuối nói thêm: “Có lẽ bay cái này an toàn hơn”. Những người lái trả lời chúng
tôi là người lính chấp hành theo quân lệnh nên không thể chiều các đồng chí, vả
lại cái này không có đủ chỗ ngồi.
Xuân
Bảo cười vui: “Không sao. Vậy cho phỏng vấn nhanh. Các cậu có tham gia chiến
trường bạn vừa qua không?” Người lái khoát tay nói giọng rất lính: “Suýt chết đấy
“các cụ ạ”! Bọn mình chỉ điểm cho pháo cối bắn vào đội hình quân tháo chạy của địch,
nhìn thấy cả đạn cối bay qua đầu, nói dại nó mà rớt trúng đầu thì tiêu. Còn lần
khác đi thả truyền đơn ở Niết Lương, máy bay tự nhiên mất độ cao. Đành phải hạ
cánh bắt buộc. Chúng tôi nhảy ra, tay lăm lăm khẩu K54 vừa tự bảo vệ vừa tìm sự
cố kỹ thuật. Hú hồn, hóa ra có một tập truyền đơn kẹt vào cáp lái…Cái thứ này
có lẽ cho các cháu ở vườn trẻ rồi!
Trước
khi bay, chúng tôi được ăn sáng bếp tiểu táo của người lái: bánh mì patê gan, một
quả trứng gà luộc, một ly càphê sữa nóng và mỗi người được trang bị một mũ chống
tiếng ồn. Người lái chính bảo chúng tôi, lát nữa các anh sẽ được hưởng cái thú
rơi tự do! Hiền An Giang mặt mày xanh lét ôm lấy tôi, bảo: “Cho tao xuống
ngay”. Chúng tôi đành phải thả Hiền An Giang xuống giữa cánh đồng Củ Chi để anh
ngồi đó. Hai mươi ba phút sau máy bay lại đỗ xuống đón Hiền An Giang.
Sau
chuyến bay có một trong đời trên chiếc HU1A của Mỹ, chúng tôi về phòng chỉ huy
của Đoàn trưởng Tám Đức. Anh kể cho chúng tôi nghe chuyện tập bay, chuyện anh
cùng đồng đội bay cho Dầu khí và chuyện năm 1975 anh bay về thăm cha mẹ ở Cà
Mau, quần đảo trên rừng dừa và tràm chim quê mình mà thấy lạ hoắc vì chiến
tranh tàn phá!
***
Chúng
tôi trở vế báo cáo với anh Lý Văn Sâm là sẽ có bài cho những số sau. Thế còn
bây giờ, Tết đến nơi không có cánh bay trong báo như là Tết không có bánh tét.
Và
chuyến đi thực tế xuống Hố Nai cũng đầy kỷ niệm. Chúng tôi xuống đó vì nghiệp vụ
cần phải viết một điển hình. Giáo xứ Ngọc Đồng tổ chức thu mua heo vượt kế hoạch.
Cùng đi có nhà văn Nguyễn Khải và nhà thơ Nguyễn Duy. Cha xứ Ngọc Đồng tiếp
chúng tôi như một lão nông tiếp bạn cũ về quê. Ông hút thuốc lào với cái thú
ngâm nga của người biết quý cái hương vị dân dã. Nhà thơ Nguyễn Duy cũng bắn điếu
cày liên tục với phong cách rất lính. Hôm ấy Cha xứ nói trước đây đọc tiểu thuyết
của Nguyễn Khải “Cha và con…” cứ tưởng ông Nguyễn Khải là người có đẳng cấp
trong Giáo hội. Sau này nhà văn nói với chúng tôi: “Nói thật với các cậu, mình
có thể làm lễ như một cha xứ có nghề”.Thế mới biết nhà văn Nguyễn Khải đã sống
như thế nào để viết những trang viết được mọi độc giả ưu ái đến như vậy.
Nhà văn Lý Văn Sâm dặn
chúng tôi biên tập kỹ và trao lại bài vở cho anh mang lên duyệt. Cuối thư, nhà
văn còn bảo cho anh Chín Thức thuốc nhức đầu. “ảnh sụn rồi” (nguyên văn anh Lý
Văn Sâm viết).
Hồi
đó Duy Thinh cũng nhận được thư anh Lý Văn Sâm. Anh nhắc chúng tôi bố trí cho
anh em đi thực tế và chọn một sồ bài để in chung với anh trong tập Bến Xuân.
Có
lần giữa hội nghị anh Lý Văn Sâm cự tôi (Nguyễn Duy Thinh): Tại sao báo lần này
không có bài ký nào cả? Tôi thưa không có ai gửi, đặt bài gấp quá họ không viết
kịp. Anh bảo: Cậu có cái nào đưa đây. Tôi nói có. Nhưng tôi là biên tập lại
biên tập cho chính mình, hơi kỳ. Anh lại la, thì cứ đưa đây, mình chịu trách
nhiệm. Tôi đưa anh bài ký “Những tín hiệu từ ven sông Đồng Nai” viết về một
nhóm phóng viên Thông tấn xã thường trú ở Đồng Nai. Xong hội nghị, anh trả lại
bản thảo với bút phê: Được, đưa Hiền An Giang lên ma-két. Cái măng-sét Xuân Bảo
thiết kế vẫn dùng.(1)
Nhân
viết đến anh Lý Văn Sâm, xin Ban biên tập cho tôi viết thêm vài dòng nữa về nhà
văn. Năm nay anh đã cao tuổi và còn sống với chúng ta. Trong bức thư nói ở trên
kia, cuối thư anh viết: “…mình sẽ nghĩ lại, một kiểng đôi quê cực quá (vừa ở Hội
Văn Nghệ Giải phóng, vừa ở Hội Văn Nghệ Đồng Nai). Nay vỏ xe Honda hư rồi…” Hồi đó tôi đã kiếm cho anh vỏ xe để có phương
tiện đi lại. Nhưng tôi còn nợ anh, chưa viết xong bài ký anh vượt ngục ở Tân Hiệp
– Biên Hòa tháng 12 năm 1956, với tựa đề dự kiến “Cùng vượt ngục với những người
anh hùng”.
***
Hai
mươi năm đã đi qua, tôi luôn luôn nói với chúng tôi: “Đã đành tre già măng mọc,
nhưng măng có mọc thẳng hay không cần phải dựa vào tre già”. Riêng ở Đồng Nai,
anh Lý Văn Sâm, anh Hoàng Văn Bổn chính là những cây tre già, “có mảnh áo cũng nhường cho con”, như
Nguyễn Duy đã viết.
Thu 1999
X.B – D.T
(1). Anh Hai Lý phân công Xuân Bảo vẽ
cái măng-set báo Văn Nghệ Đồng Nai. Tôi có đoạn Hồi ký Tôi vẽ măng – set tờ Văn
Nghệ Đồng Nai, đã in vào sách Truyện ngắn và Ký sự 1.Giờ đây, tôi đăng lại đoạn
này để hầu bạn đọc:
TÔI
VẼ MĂNG-SET TỜ VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI.
Ban
Chấp hành phân công anh Hai Lý giữ chức chủ tịch, anh Chín Thức giữ chức phó chủ
tịch. Tôi còn nhớ mấy anh chị trong Ban Chấp hành mới gồm anh Nguyễn Văn Sâm (tức
Tám Sâm), trưởng ty Văn hóa – Thông tin, anh Phạm Minh, phó trưởng ty và một số
người khác mà giờ đây tôi không còn nhớ rõ. Trụ sở Văn phỏng Hội đóng tại nhà số
1, đường Võ Thị Sáu, (tên cũ là đường Công Lý), phường Quyết Thắng, đối diện
khách sạn Hòa Bình. Cán bộ, nhân viên văn phòng chỉ có 3 người. Đó là cô Đào
Minh, cậu Đào Thanh Chương và cậu Lân lái xe.
Sau
đại hội vài tuần, tôi được anh Chín Thức bảo sang Văn phòng bàn việc ra tờ báo
của Hội. Tôi đề nghị hai anh cho mời Nguyễn Duy Thinh cùng dự bàn. Trong cuộc họp
này có anh Tám Sâm và anh Nguyễn Hiệp, cán bộ biên tập của tạp chí Văn hóa Đồng
Nai cùng dự. Mở đầu cuộc họp anh Hai Lý nói rõ mục đích ý nghĩa của việc xuất bản
tờ báo. Báo Văn nghệ Đồng Nai là cơ quan ngôn luận, là diễn đàn nghiên cứu lý
luận, phê bình, sáng tác của Hội Văn học – Nghệ thuật Đồng Nai. Tên tờ báo là
Văn nghệ Đồng Nai. Báo đặt dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, trưởng
ban là ông Lê Quang Thành, ủy viên Thường vụ Tinh ủy và phó trưởng ban là ông
Lê Tư Huyền, tên thật là Từ Đình Phiến, thường gọi là ông Tư Huyền. Chủ tịch Hội
kiêm tổng biên tập là nhà văn Lý Văn Sâm. Báo xuất bản nửa tháng một kỳ mà hồi
đó chúng ta thường gọi là bán nguyệt san. Tôi và Nguyễn Duy Thinh được phân
công tổ chức bài vở và tổ chức in ấn. Trước mắt tôi được giao nhiệm vụ vẽ
măng-set báo. Tôi đã vẽ 3 phác thảo. Sau đó lại có một cuộc họp của Thường trực
Hội để bàn bạc nhất trí thông qua. Lần họp này có thêm hai họa sĩ là anh Đặng
Sĩ Nguyên và anh Thanh Thanh. Một phác thảo của tôi được thông qua và bắt tay
vào việc xuất bản. Nhà in được chọn là Xí nghiệp In của Ty Văn hóa – Thông tin
do anh Ba Nhỏ làm giám đốc. Bài vở do tôi và Nguyễn Duy Thinh chọn và biên tập
trước. Thường anh em tôi làm việc ngay tại nhà riêng của tôi, số nhà 100/23, Quốc
lộ 1, nay là đường Hà Huy Giáp với số nhà mới là 134/1/1.
Bài
vở lúc này chủ yếu là những cây bút phần đông là giáo viên của Ty Giáo dục và
các trường học trong tỉnh. Lớp người đầu tiên
có tác phẩm đăng trên Văn nghệ Đồng Nai là Nguyễn Sĩ Bá, Hoàng Trung Thủy,
Trần Trung Phụng, Búi Quang Tú, Tiêu Thanh Giang…Bên Bộ chỉ huy Quân sự có Đỗ
Tiến Khải, NGuyễn Sĩ Trung Kỳ…Sư đoàn Không quân có Trần Hồng Thái, bút danh
Thiên Hương và một vài người nữa tôi không nhớ tên. Tôi đặt bài cho Trần Gia
Minh, phóng viên báo Đồng Nai và sau đó 2 tác phẩm đầu tay của Trần Gia Minh được
chọn đăng là Bạn của đất (Ký chân
dung) và Người trở về (Truyện ngắn).
Báo
Văn nghệ Đồng Nai hồi đó in typo. Công nhân xí nghiệp in gắp từng con chữ cho
vào khuôn, sau đó đúc chữ chì. Bản in thử được dập ra 2 bản. Tôi 1 bản và Duy
Thinh 1 bản. Chúng tôi sửa lỗi chính tả (morasse) và trình anh Hai Lý duyệt lần
cuối rồi chuyển lại cho nhà in.
(Biên
Hòa, Tháng 12 năm 2014 – Kỷ niệm 35 năm Ngày thành lập Hội Văn Nghệ Đồng Nai
22/12/1979 – 22/12/2014).
Nhà
thơ Xuân Bảo.
178. HÀ NỘI NỖI NHỚ
HÀ
NỘI NỖI NHỚ
Tết Đinh Dậu năm nay,
nhân kỷ niệm 228 năm Chiến thắng Ngọc Hồi
Đống Đa, (1789 – 2017, mùa Xuân năm Kỷ Dậu), tôi cho đăng lại đoạn Hồi ức này để
tỏ lòng biết ơn các bậc tiên hiền, tiên liệt đã làm nên những chiến công hiển
hách, đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi, giành lại non sông, cứu giang sơn Đại
Việt ra khỏi vòng kiềm tỏa của lũ giặc Bắc phương.
Ngày
10/10/1954. Hành quân bộ suốt 1 tháng 20 ngày,sau ngày khóa tuyến (20 -8- 1954), Trung đoàn 271 của Quảng Trị về đến địa điểm
tập kết tại làng Tiên Điền, quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, bên hữu ngạn Sông Lam, Cửa Hội.
Phái
đoàn Chính phủ gồm các ông Bồ Xuân Luật, bộ trưởng không bộ (ministre sans
portefeuille), ông Lê Nam Thắng, tư lệnh Liên khu IV, bà Lê Thị Xuyến, chủ tịch
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và một vài thành viên khác, trong đó có nhạc sĩ
Tô Hải về thăm Trung đoàn.
Vài
hôm sau, một số chiến sĩ Trung đoàn có
trình độ văn hóa cấp 2 trở lên được triệu tập cho đi học, trong đó có tôi. Lớp
kế toán cấp tốc chỉ có học trong thời gian 3 tháng (từ giữa tháng 10 đến cuối
tháng 12 thì bế giảng).Lớp học được tổ chức tại Chợ Liệu, Kim Liên, Nam Đàn,
quê của Bác Hồ. Chúng tôi được phân công về công tác tại Chi sở Mậu dịch đặc biệt
tỉnh Thanh Hóa, lúc này đóng ở Bái Thượng, huyện Thọ Xuân. Đây là nơi Lê Lợi dấy
binh khởi nghĩa Lam Sơn. Sau 10 năm nằm gai nếm mật ông cùng với các chiến hữu
và nhân dân Đại Việt đuổi hết giặc Minh ra khỏi bờ cõi, dựng nên nhà Hậu Lê. Lê
Thái Tổ mang gươm về kinh đô Thăng Long trả gươm báu lại cho Thần Kim Quy tại hồ
Lục Thủy. Từ đây Thăng Long có Hồ Hoàn Kiếm hay
còn gọi là Hồ Gươm.
Ông
Hà Uyên là Chi sở trưởng, sau này ông ra Hà Nội giữ chức thứ trưởng Bộ Nội
Thương. Thời kỳ ông Đỗ Mười làm bộ trưởng và ông Hoàng Quốc Thịnh làm thứ trưởng
thường trực. Khoảng mùa hè năm 1955 (lúc này bọn Pháp vẫn còn đóng tại Hải
Phòng, theo Hiệp nghị Genève còn được ở lại miền bắc 300 ngày), Đến ngày 15
tháng 5 thì tên thực dân cuối cùng rút khỏi miền bắc. Chúng tôi lại được chọn
đi học ở Trường Trung cấp Thương nghiệp Hà Nội.Trường dựng vội bằng tranh tre nứa
lá đặt tại 66 đường Hoàng Hoa Thám. Phía trước là làng hoa Ngọc Hà, có nhà máy
bia Ô-mèn của Pháp, sau đổi tên là nhà máy Bia Hà Nội, phía sau là Xí nghiệp
Tàu điện, nhà máy thuộc da Thụy Khuê.
Thế là từ đó, tôi trở
thành công dân Thủ đô cho đến khi giải phóng hoàn toàn miền nam Việt Nam (1955
– 1975) mới về Đồng Nai công tác.
***
Hà
Nội đã trở thành quê hương thứ hai của tôi.Tôi lấy vợ là người Hà Nội chính
kinh tên là Nguyễn Thúy Minh, con của nhà tư sản dân tộc Nguyễn Viết Điền. Ông
bà Nguyễn Viết Điền vốn người làng Ước Lễ, huyện Thanh Oai ra làm ăn ở Hà Nội từ
mấy đời trước. Ông bà có cửa hiệu Cơm tám giò chả Tân Việt nổi tiếng ở ngôi nhà
60A, phố Huế (xế Chợ Hôm) và được đưa vào diện cải tạo công thương nghiệp tư bản
tư doanh. Người con gái cả của ông bà tên là Nguyễn Thị Ngọc Bích - hoa khôi Hà
thành một thời - kết hôn với "cậu ấm kháng chiến" Cao Minh Thanh từ
núi rừng Yên Bái về tiếp quản Thủ đô. Cuộc tình này chỉ kéo dài được 18 ngày, hết
tuần trăng mật. Cậu bị bắt vì tội biển lận. Tờ báo tư nhân Thời Mới của ông chủ
bút Hiền Nhân đăng feuilleton (bài đăng nhiều kỳ) “Đám cưới 20 triệu” và nhà viết
kịch Trần Huyền Trân có kịch bản Ngược chiều.Vợ chồng chúng tôi sinh được ba đứa
con.
Tôi
sống, học tập, trưởng thành và trở thành nhà báo, nhà thơ của Hà Nội với nhiều
bút danh: Xuân Bảo, Trực Ngôn, Tú Sừng…Hà Nội trong tôi mang đậm dấu ấn của một
thời khốc liệt và hào hùng của những năm đánh Mỹ. Vì vậy, khi Hà Nội chuẩn bị kỷ
niệm 1000 năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, tôi và nhà thơ Võ Nguyện đã hoàn
thành công trình Thơ mang tựa đề là Trời
Nam thương nhớ, lấy ý từ bài thơ Nhớ Bắc của nhà thơ-chiến sĩ (còn được tôn
vinh là Thi tướng) để dâng lên Đức Lý Thái Tổ.
Thế
mà đã bốn năm trôi qua, nay Hà Nội lại bước vào kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng
Thủ đô. Là giai tế Hà Nội tôi nghĩ mãi không có món quà nào dâng tặng Hà Nội
thân yêu nên viết bài Tản văn này, coi đó là chút tình nhớ và thương gửi về nơi
mà đã cưu mang tôi suốt một thời trai trẻ.
Ngàn lần yêu thương nhớ
về Hà Nội!
Dưới đây là bài viết:
LÝ
CÔNG UẨN – MỘT KIẾN TRÚC SƯ ĐÔ THỊ VĨ ĐẠI
Lý
Công Uẩn quê ở châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang, (nay thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh).
Mẹ là họ Phạm, đi chơi chùa Tiên Sơn, cùng với người thần giao cấu rồi có chửa,
sinh ra vua vào ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình, nhà Đinh
năm thứ 5 (974). Ông làm quan nhà Lê được thăng dần lên chức Điện tiền chỉ huy
sứ. Đến khi Ngọa triều Lê Long Đĩnh băng hà. Lý Công Uẩn tự lên ngôi vua, đóng
đô ở Thăng Long, ở ngôi 18 năm, thọ 55 tuổi, băng ở Điện Long An, chôn ở Thọ
lăng”. (Đại Việt sử ký toàn thư – Kỷ nhà Lý – trang 257).
Lý
Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đại xá thiên hạ. Đó
là việc làm thuận ý trời, hợp lòng người, biểu hiện lòng nhân nghĩa của một đấng minh quân. Với tầm nhìn của một bậc cao
minh, vua thấy đất Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn
dời đi nơi khác nên đã xuống chiếu nói rằng: ( Đời sau thường gọi là Thiên đô chiếu).
Nguyên
văn chữ Hán.
THIÊN ĐÔ CHIẾU *
Tích Thương gia chỉ Bàn Canh ngũ
thiên. Chu Thương đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam đại chỉ số quân tuẫn vu kỷ
tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế;
thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cấu hữu tiện triếp cái. Cố quốc tộ diên
trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh,
võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại bất trường,
toán số đoản xúc, bách tính hao tổn,vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chí, bất
đắc bất tỉ.
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành,
trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hưởng bối chi
nghi. Kỳ địa quảng nhi thân bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn
điếm chi khổn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng
địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm
dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà ?
Bản
dịch quốc ngữ:
CHIẾU DỜI ĐÔ
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm
lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam
đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở
chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý
dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giầu thịnh.
Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo
việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận
số ngắn ngủi, trăm họ tốn hao, muôn vật không hợp, Trẫm rất đau đớn, không thể
không dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của
Cao Vương, ở giữa khu vực của trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa
nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng
phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết
sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ
hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm
muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
*-Thiên
đô chiếu – Chiếu dời đô dài 214 chữ, do vua Lý Thái Tổ tự tay viết và ban chiếu
vào mùa xuân năm 1010 để chuyển kinh đô Đại Cồ Việt từ Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
ra thành Đại La, Hà Nội ngày nay.Bản dịch sang tiếng Việt là của Viện Khoa học
– Xã hội Việt Nam in trong Đại Việt sử ký toàn thư.NXB Khoa học – Xã hội ,Hà Nội
– 1993.
Thiên
đô chiếu vỏn vẹn 214 từ nhưng đã toát lên một yếu tố hết sức quan trọng. Đó là
thành Đại La ở giữa khu vực trời đất, là nơi thắng địa của nước Việt ta. Thật
đáng tự hào cho một thủ đô có sức sống lâu bền mà không phải nước nào trên thế
giới đều có sức sống đó.
1000 năm! Phải, 1000
năm oai hùng và bi thương, thăng trầm để chúng ta có ngày hôm nay! Hà Nội, thủ
đô hòa bình, tượng trưng cho lương tri và phẩm giá con người!
Lý
Công Uẩn đã có một tầm nhìn của một kiến trúc sư đô thị vĩ đại.Một đô thị với
36 phố phường sầm uất, có nền văn hiến đã in dấu ấn lên mọi thời đại.Nơi đây có
Bút Tháp, Đài Nghiên, có trường đại học đầu tiên (1070) do nhà Lý sáng lập. Văn
miếu Quốc tử giám thờ Đức Vạn thế sư biểu Khổng Tử và thờ người thầy dạy học
Chu Văn An của dân tộc Việt Nam. Nơi đây là nơi đã đào tạo ra hàng trăm, hàng
trăm bậc hiền tài. Thân Nhân Trung đã đề bia:
Hiền tài quốc gia chi
nguyên khí
Nguyên khí thịnh tác quốc
thể cường dĩ
***
Hoàng
thành Thăng Long vừa được khai quật mấy năm vừa qua đã chứng minh rằng. Nước Việt
đã từng có một kinh đô với kiến trúc cổ, có Điện Kính Thiên, Thái Hòa…Hoàng
thành là nơi vua và triều đình làm chốn
triều nghi. Những mảnh gốm xưa, gạch cổ, rồng đá (thời Lý) còn lại là vật chứng
cho một thời hoàng kim của các vua chúa.
Nơi
đây có thế rồng chầu hổ phục, đất đai bằng phẳng dựa vào thế núi hình sông. Có
địa hình chiến lược phòng thủ khi có giặc ngoại xâm. Bởi thế, ba lần chiến thắng
Nguyên-Mông, bao lần đối mặt với quân thù Bắc phương thì có bấy nhiêu lần vua
tôi rút khỏi Thăng Long, nhưng rồi “giặc đến Bồ Đề, giặc lại tan”.
Chiến
công hiển hách của vua Quang Trung Nguyễn
Huệ đánh tan hai mươi chín vạn quân Thanh xẩy ra ngày 30 tháng 1 năm 1789 (năm Kỷ Dậu). Xác giặc chất thành đống
gò Đống Đa. Tôn Sĩ Nghị chui ống đồng trốn
về nước.
Cành
đào báo tiệp của Quang Trung từ Thăng Long gửi gấp về Phú Xuân cho Ngọc Hân
trong ngày Tết Kỷ Dậu là ca khúc khải
hoàn của một nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
Sau
gần hai trăm năm chiến thắng Ngọc Hồi, ngày 19 tháng 12 năm 1946 Hà Nội lại
vang lên lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.Người Hà Nội tạm xa thủ đô
yêu dấu để cùng với cả nước làm nên cuộc trường kỳ kháng chiến ba ngàn ngày
không nghỉ. Để rồi có ngày mùng mười tháng mười, Hà Nội sạch bóng thực dân Pháp
xâm lăng:
Rầm rập quân reo năm cửa ô
Từ đây Hà Nội sạch quân thù…
(Thơ
Xuân Bảo)
Nhân kỷ niệm 60 năm giải
phóng thủ đô, xin gửi về Hà Nội thân yêu bài thơ:
THẾ ĐẤT RỒNG BAY
Đại
La thế đất dáng rồng bay
Hạo khí non sông tụ xứ này
Hổ phục oai phong nơi núi Tản
Rồng chầu lẫm liệt chốn hồ Tây
Xuất quân Kỷ Dậu, Tàu tan tác
Chiến thắng Năm Tư Pháp chạy dài
Chiến thắng Năm Tư Pháp chạy dài
Giấc mộng Thăng Long rồng gặp nước
Diệu kỳ Hà Nội chính là đây.
VĂN
HIẾN THĂNG LONG
Nghìn năm văn hiến chính là đay
Hoàn trả Linh Quy kiếm báu này
Lục Thủy Đài Nghiên soi sóng nước
Thanh Thiên Tháp Bút lộng trời mây
Quang Trung báo tiệp cành đào thắm
Lê Lợi bình Ngô vía giặc bay
Còn mãi Ba Đình lờii Bác vọng
Thăng Long cất cánh vẻ vang thay
Biên Hòa, ngày 9 tháng 10 năm 2014
Nhà thơ Xuân Bảo
Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2017
176.B-Nha Trang ơi ! Tạm biệt chim én nhé (Phần 2)
176.B.
NHA TRANG ƠI, TẠM BIỆT CHIM ÉN NHÉ! (Phần 2).
Ngày hôm sau, tôi cùng với anh bạn người
Huế tên là Phan Quang lên Ban Tổ chức Thành ủy Hà Nội gặp người chú của anh tên
là Nguyễn Minh C. đưa đơn xin chuyển công tác. Ông Minh C., sau khi xem đơn ông
phê vào đơn mấy chữ “Đồng ý cho đồng chí Nguyễn Xuân Bảo chuyển công tác về
Công ty Bông Vải Sợi – May mặc Hà Nội”.
Tối hôm đó tôi không đến dự cuộc họp
kiểm thảo tôi nữa. Người lồng lộn hơn ai
hết là bí thư Chi đoàn Thanh niên Ng. C. Hai ngày sau thì Phan Quang mang về cho
tôi tờ Quyết định chuyển công tác. Tôi đưa ngay cho anh Trợ, bí thư Đảng ủy.
Anh nói thêm rằng anh cũng rất không muốn bày cái trò kiểm thảo tôi làm gì. Dự
luật “Hôn nhân và gia đình” sắp được Quốc hội thông qua không có điều khoản nào
nói về hành vi đính hôn mà chỉ nói về
hôn nhân chính thức mà thôi.
Tôi rời cơ quan và ra ở nhờ nhà người
bạn ở ngõ Yên Thái, gần rạp Hồng Hà, đối diện chợ Hàng Da. Hơn vài tháng sau,
tôi đang ngồi trong phòng làm việc ở 13 phố Phan Bội Châu thì nàng tới thăm tôi.
Đoạn văn sau đây là lúc tôi viết cái bút ký Hà Nội cơn lốc tháng bảy, viết vào mùa EURO 1988, Và hiện tại thời
gian này châu Âu cũng đang diễn ra EURO 2016, cách nay đúng 28 năm. Bút ký có
đoạn:
… “Giờ đây,
anh đang sống với dĩ vãng. Ký ức anh còn ghi: Sau khi cưới, có một lần em đến
thăm anh. Hình như đã qua tuần trăng mật của em thì phải. Em đến đem theo cả một
vầng sáng tràn ngập phòng anh. Anh đã phải mất vài giây định thần lại sau một
thoáng trời đất quay cuồng để nhìn em, nhìn lại em cho rõ. Có phải là người mà
anh hằng yêu dấu đó chăng? Anh hỏi: Em có được hạnh phúc không? Em đáp: Hạnh phúc!
Trong hai tiếng ngắn ngủi đó sao anh lại nghe văng vẳng như biết bao lời oán trách,
mai mỉa! Và em đã lại ra đi, để lại cho anh biết bao nỗi buồn! Đó là một buổi sáng
tháng ba, năm 1960, khi Hà Nội vẫn còn những cơn rét ngọt, buốt thấu xương…”
Anh biết “khi ván đã đóng
thuyền”.
Số mệnh là số mệnh, duyên phận là duyên phận. Dù yêu em, thương em đến mấy anh
cũng chỉ dồn nén lai trong lòng. Biết làm sao được? Trong thâm tâm anh luôn cầu
mong cho em có hạnh phúc. Và em, hãy coi anh như cái bóng thoáng qua đời em. Có
gì đâu, những giọt lệ sầu! Dòng đời cứ thế trôi đi, còn gì cho nhau nữa!.
***
Mỗi miền đất nước đều có những đặc sản
riêng. Hà Nội có cốm vòng khi chớm
thu.Và đặc biệt là món Chả cá Lã Vọng,
đã đưa vào danh mục ẩm thực thế giới. Hải
Dương, Hải Phòng có món rươi khi thời
tiết sang đông “tháng chín đôi mươi, tháng mười mùng năm”. Huế có bánh khoái quanh năm. Đà Nẵng và Hội An
thì có mì Quảng và cao lâu. Quảng Ngãi có cá bống Sông Trà. Phú Yên thì có sò huyết Vũng Rô. Nha Trang có món bún sứa. Các tỉnh Đông Nam Bộ và Đồng bằng
sông Cửu Long đều có đặc sản riêng.
Tôi nói với chị Băng, sáng nay cả
nhà sẽ thưởng thức món bún sứa. Bún sứa Nha Trang ngon nổi tiếng. Tiệm bún sứa ở
đường Tô Hiến Thành rất đông thực khách. Dùng xong bữa sáng cả nhà lên xich-lô
đi dạo thành phố. Chị Băng và Bích Hạnh ngồi một xe. Vợ chồng Hoàng Châu ngồi một
xe. Thúy Bắc ngồi một xe. Tôi ngồi một xe. 4 chiếc xich-lô rồng rắn ra đường Trần
Phú. Chúng tôi chọn một nhà hàng cà phê nổi tiếng. Ngồi đây có thể nhìn thấy biển
và Hòn Chồng. Nhìn thấy Hòn Chồng, tôi sực nhớ đến nhiều lần dự Trại Sáng tác của
Hội Nhà Văn. Tôi đã làm một bài thơ Đường luật có tựa đề: Xứ Hòn Chồng như sau:
Ta về thăm thú xứ Hòn Chồng
Bên biển Nha Trang lắm kẻ trông
Cổ tháp Lin-ga* bày cạnh núi
Khánh Sơn Yo-ní* trải bên đồng
Đồi trên mạnh bạo măng trồi mụt
Vườn dưới xum xuê cải trổ ngồng
Nữ sĩ Xuân Hương mà sống lại
Khối tình cọ mãi có mòn không?
----------
*Lin-ga,
Yo-ni: bộ phận sinh thực khí của con người
Cũng tại Nhà Sáng tác này, mấy
năm trước tôi gặp nhà thơ Hải Anh. Nàng nhìn nhầm tôi thành ông trung tá Quân lực
Cộng hòa, chỉ huy đồn tại Đồi Charles ở Kon Tum. Tôi chối vì tôi không phải là
ông trung tá đó. Hải Anh bảo rằng hồi đó em là phóng viên của tờ Tiền Tuyến do
tướng Cao Văn Viên làm chủ bút. Em tới thăm chốt và gặp anh tại nơi đó mà.
Nhưng dù sao tôi cũng được hưởng một đêm Nha Trang đầy thơ mộng. Và đây là bài
thơ tôi ghi lại cảm xúc đó:
NHA
TRANG ĐÊM HUYỀN ẢO.
Gửi
Hải Anh
Đêm tối đen mưa rơi
Mặt Hằng Nga đẫm lệ
Những ngọn núi chơi vơi
Bồng
bềnh trôi trên biển
Nha
Trang em và tôi
Hòa
vào đêm tan biến
Cùng
những giọt mưa rơi
Ta
về miền mộng ảo
Gió
không còn mơn man
Ào
ào dâng lên bão
Chao
đảo giữa mây ngàn *
Đôi
cánh chim không mỏi
Mưa
rơi, mưa cứ rơi
Tay
cầm tay hơi ấm
Truyền
vào nhau đêm nay
Nồng
nàn trong mưa lạnh
*Thơ
Thiên Thanh
Bích Hạnh và chị Như Băng ngồi cạnh
nhau, nhắc nhiều kỷ niệm về Hà Nội những năm đầu thủ đô mới giải phóng. Tôi và
Hoàng Châu đi săn ảnh. Thúy Bắc và Huyền Anh ra ngắm biển. Dùng xong cà phê,
Huyền Anh vẫy một chiếc xe điện. Tài xế xe điện là một cô gái rất trẻ, có nụ cười
tươi như hoa và khuôn mặt bầu bĩnh, trắng trẻo dễ thương. Cả nhà lên xe. Tôi ngồi
ghế cạnh cô tài xế. Chị Băng, Bích Hạnh và Thúy Bắc ngồi hàng ghế thứ hai. Vợ
chồng Hoàng Châu và Huyền Anh ngồi băng sau. Xe chạy xuống gần Trung tâm Hải
dương học và quành lại, hết đường Trần Phú thì trời cững đã trưa. Hoàng Châu mời
cả nhà đi thưởng thức món bò nướng, một nhà hàng có tiếng của Nha Trang. Đang
giữa bữa tôi nói với mọi người: Đằng nào thì cũng phải tạm biệt nhau. Gia đình
Bích Hạnh trở về Hà Nội. Còn tôi lại phải đi về phương nam. Chị Băng lại sống với
thành phố biển xinh đẹp. Huyền Anh gọi điện cho Ga Nha Trang, lấy một vé giường
nằm về Biên Hòa. Một lúc sau, nhân viên hoả xa mang vé đến và Huyền Anh lại
tranh trả tiền. Như thế, thời gian của tôi còn lại chỉ không đầy bảy tiếng bên
những người bạn thân thiết. Tôi tranh thủ thăm người cậu họ đã ở nơi đây gần nửa
thế kỷ. Đang ngồi nói chuyện với ông cậu thì Huyền Anh gọi điện thoại mời bác Bảo
đến nhà hàng dùng các món đặc sản biển. Tôi tạm biệt gia đình cậu Quýnh ra về.
Cậu bảo tôi đừng đi taxi nữa mà để cậu chở bằng xe máy. Tôi không nỡ từ chối
nên để cậu chở đi. Đến nơi, tôi mời cậu vào nhà hàng nhưng cậu từ chối. Và hai
cậu cháu chia tay.
Về nhà chị Băng thì đã gần 7 giờ tối.
Chị đã làm bếp tự lúc nào không rõ, nhưng trên mâm thì đủ các món hải sản. Đặc
biệt, có món cá sòng kho tiêu ớt. Đây là món ăn truyền thống của người Quảng Trị.
Những năm còn bé tôi thường được mệ nội đi chợ Thuận mua cá sòng về kho tiêu ớt.
Hai mươi năm tập kết ra Bắc, sống giữa lòng thủ đô và bốn mươi năm về sống ở
Biên Hòa, tôi chưa bao giờ nhìn thấy con cá sòng quê tôi. Hôm nay lại được người
chị đồng hương thết món cá sòng làm tôi bồi hồi xúc động. Dự bữa cơm chia tay
này còn có cậu con trai của chị Như Băng nữa. Cơm nước xong, tôi xin phép về
khách sạn trả phòng và chuẩn bị ra ga.
***
Con tàu rúc từng hồi còi dài rồi từ từ
đi vào bóng đêm, xuôi nam. Ngồi một mình trên tàu, chung quanh đều là người xa
lạ. Bây giờ tôi mới thấm hai từ chia ly.
Bỗng tôi lại nhớ đến cuốn tiểu thuyết Nước mắt của một loài chim yến của một
nhà văn, khi còn tỉnh Phú Khánh (Phú Yên và Khánh Hòa sáp nhập sau ngày đất nước
thống nhất). Tác phẩm này cũng có số phận khá long đong.
Thế là kết thúc chuyến đi Nha Trang với
bao nỗi vui buồn lẫn lộn. Tôi muôn ngàn lần cảm ơn Đỗ Huyền Anh, cảm ơn Hoàng
Châu, cảm ơn Thúy Bắc và tôi nhẩm đọc mấy câu tứ tuyệt, khi Bích Hạnh ghé thăm
tôi đầu năm Bính Thân này:
Còn
đó chút tình buổi xế tà
Vượt ngàn dặm ngái đến cùng ta
Hoàng hôn tím đẫm trời Biên Trấn
Vương vấn giọt buồn nỗi cách xa.
(Bên bờ Phước Long Giang, đêm 20
tháng Chạp, năm Bính Thân)
Nhà thơ Xuân Bảo
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)