Trang

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

164. TÔI ĐI TÌM LẠI VÙNG ĐÁT DỰNG NGHIỆP ĐẾ CÙA NHÀ NGUYỄN

       2.TÔI ĐI TÌM LẠI VÙNG ĐẤT DỰNG   NGHIỆP ĐẾ CỦA NHÀ NGUYỄN
.
Thực sự, tôi giật cái tít tiểu mục này hơi to tát. Vì rằng từ xa xưa đã có rất nhiều công trình viết về nhà Nguyễn. Kể từ năm 1558  đến nay, -  thời điểm tôi đang viết cái bút ký này, thảng 3 năm 2016 thì đã 458 năm trôi qua. Năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết, tôi có chuyến về thăm quê, ngang qua Ái Tử và đã có bài thơ Qua Ái Tử:

Nghĩa rằng: Ái Tử mẹ yêu con
Trắng xóa lô nhô những cát cồn
Chúa cũ đâu rồi thời mở cõi?!
Nước đầy bẩy vại nặng tình son *
--------
            *Khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Đàng Trong

 (1558) dân bản địa Quảng Trị mang 7 chum (vại) nước dâng

 Chúa để tỏ lòng quy phục.
         
Trong chương trình về Quảng Trị lần này tôi

 có đề ra mục tiêu là về Trà Liên để tìm hiểu

 về Ngài Nguyễn Ư Dĩ, cậu ruột của chúa 

Nguyễn Hoàng – người có công nuôi dạy 

cháu từ lúc 2 tuổi – cho đến khi lập được sự

 nghiệp vẻ vang của một vương triều lừng lẫy 

chiến công mở đất. Tôi muốn tìm về nguồn 

cội về di tích một địa danh – mà ở đó đã là đất

 dựng nghiệp của một triều đại.


.Theo sử sách, Thái phó Uy quận công Nguyễn Ư Dĩ, thấy cháu “tướng mạo khôi ngô, vai lân lưng hổ”, biết là “bậc phi thường” nên khuyên sớm kiến công lập nghiệp. Năm 1558, Nguyễn Hoàng khi ấy 34 tuổi được Nguyễn Ư Dĩ phò tá. Ngài là người được Nguyễn Hoàng tin cậy, thân chinh đến gặp Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm hỏi về vận nước. Trang Trình đã nói “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Nguyễn Hoàng đã chọn đất Ái Tử lập dinh trại. Nhờ danh tiếng của Nguyễn Ư Dĩ mà hào kiệt tìm về, biến vùng đất này thành nơi màu mỡ, trù phú.
 Ái Tử trở thành kinh đô đầu tiên của Đàng Trong trong suốt 68 năm (từ 1558 đến 1626), gắn liền với tên tuổi của chúa Nguyễn Hoàng và công lao của Nguyễn Ư Dĩ. Khi mất đi, ông được đúc tượng đồng để thờ.
Hàng thế kỷ nay, người dân thôn Trà Liên Tây (xã Triệu Giang, Triệu Phong, Quảng Trị) xem tượng đồng tạc ngài Nguyễn Ư Dĩ là vật linh thiêng… Trải qua 400 năm, bức tượng vẫn tồn tại, trở thành linh vật của dân làng Trà Liên, nơi ngài Nguyễn Ư Dĩ có công mở cõi. Tượng Nguyễn Ư Dĩ được đúc bằng đồng vào khoảng thế kỷ 17, ở tư thế ngồi ghế thấp, cao 0,62 m, phần vai rộng 0,3 m. Mặt tượng chữ điền, mũi cao, cằm vuông, râu dài, tai to, đội mũ quan hai lớp, chân đi hia để lộ phần mũi.Toàn thân được khoác tấm áo choàng rộng phủ từ vai xuống, vắt trên hai chân.
Thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, làng có ngôi chùa Liễu Bông với 3 gian thờ thì gian chính giữa thờ Nguyễn Ư Dĩ. Năm 1972, ngôi chùa bị tàn phá, nhưng bức tượng vẫn còn. Một năm sau, Hiệp định Paris được ký kết, bom đạn ngừng rơi nên người dân dựng lại nhà thờ tạm bằng tre.
Bức tượng quý nhiều lần bị kẻ trộm nhòm ngó nhưng đều được phát hiện. Năm 1976, kẻ trộm khiêng tượng ngài đi rồi vùi dưới cát bên bờ sông Thạch Hãn, đoạn gần làng. Người dân phát hiện tượng bị mất nên vô cùng nóng ruột, hò nhau đi tìm khắp làng. Lúc bấy giờ, mùa hè nước cạn, bà con thấy dấu vết ở bờ sông nên dùng thanh sắt chọc xuống, cuối cùng cũng tìm thấy. Bình thường thì 4 người gánh tượng Ngài không nổi, nhưng lúc đó tìm đưọc mừng quá, nên mọi người gánh băng băng đi nhẹ nhõm. Sau lần đó, dân làng mang tượng về đặt sát bên đình làng, xây gian thờ nhỏ kín 3 mặt, bên dưới quây thép đổ bê tông. Ấy vậy mà kẻ trộm còn dám cắt mũ quan, cưa hông bên trái vào 2-3 cm, nhưng rồi cũng không lấy trộm được.
Cách đây hơn 10 năm, một đoàn cán bộ văn hóa đến nghiên cứu bức tượng nhưng không thông qua dân làng, đập bỏ tường bao thì bị dân phát hiện, kiên quyết không cho làm. Ngành văn hóa tỉnh Quảng Trị sau đó phải xin lỗi dân, bồi hoàn tiền để làm lại nhà thờ.
 Về sự kỳ lạ của bức tượng, có câu chuyện những năm chiến tranh, có một đơn vị ra đa về đóng quân gần nơi thờ cúng Ngài, nhưng ra đa không hoạt động, bất chấp mọi nỗ lực khắc phục. Cuối cùng, đơn vị này phải chuyển đến làng kế bên mới hoạt động được.
 Tượng ngài Nguyễn Ư Dĩ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh, được dân làng tôn thờ. Khoảng 6-7 năm trở lại, nhận thấy ý nghĩa của tượng Nguyễn Ư Dĩ trong giáo dục truyền thống, trường Tiểu học xã Triệu Giang nhận chăm sóc khuôn viên đặt bức tượng. Mỗi dịp khai giảng, tổng kết, nhà trường đều có những buổi nói chuyện về lịch sử địa phương và công lao của Ngài.
Về việc bảo vệ bức tượng quá mức, dân làng rất “áy náy” khi phải quấn chân Ngài bằng thép, đổ bê tông. Nhưng không làm thế thì dân làng rất sợ tượng Ngài bị trộm. Huyện Triệu Phong từng mở hội thảo lớn nói về công của Nguyễn Hoàng và Ngài Nguyễn Ư Dĩ. Riêng dân làng chỉ đề xuất xin xây một nhà thờ to đẹp hơn để thờ cúng.
Ông Lê Đình Hào, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Quảng Trị nói: Tượng Nguyễn Ư Dĩ được xếp vào “10 báu vật” của tỉnh. Đơn vị này đang làm hồ sơ để đưa tượng trở thành bảo vật quốc gia, với hy vọng nhận được sự đầu tư, bảo vệ xứng đáng hơn.
 Nguyễn Hoàng, sinh năm 1525, con thứ hai của Nguyễn Kim. Ông nội là Thái phó Nguyễn Hoằng Dụ từng giúp vua Lê Tương Dực lật đổ Lê Uy Mục (1509). Nhưng rồi hai ông vua họ Lê này số phận cũng chẳng ra sao. Chỉ còn hai đời vua Lê cuối cùng nữa thôi để rồi rơi vào tay nhà Mạc. Sử sách thường ghi: Thời Lê mạt.
           Nguyễn Hoàng là em Ngọc Bảo, Ngọc Bảo lấy Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm thâu tóm hết mọi quyền lực, lấn át vua Lê, loại bỏ uy thế các em vợ: Nguyễn Uông bị hãm hại. Nguyễn Hoàng cáo bệnh giữ mình.
Nguyễn Hoàng nhờ chị gái Ngọc Bảo xin anh cho đi trấn thủ Đàng Trong, miền Thuận Quảng. Tuân chiếu vua Lê Anh Tông (1556-1573), năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Cùng đi có hàng ngàn binh mã bản bộ và họ hàng ở Tống Sơn, (bấy giờ là Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Hà Trung, Thanh Hóa); Đông đảo nhất có các họ tộc Nguyễn, Lê, Trương, Trần. Lúc đầu Nguyễn Hoàng đóng dinh tại Ái Tử, còn gọi là Dinh Cát, thuộc phủ Đăng Xương. Cùng với cậu ruột Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Hoàng vỗ về quân dân, thu dụng hào kiệt, khẩn hoang lập làng; tiếp tục đón nhận di dân từ Đàng Ngoài vào mà phần đông là dân nghèo ở các làng mạc của các trấn Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
 Khi nhà Mạc chiếm ngôi vua Lê. Nguyễn Kim đem con vua lánh sang Ai Lao, ở đây ông thu nạp hào kiệt. Năm Canh Tý (1540) ông đem quân về chiếm lại Nghệ An. Hai năm sau, năm 1542 cùng vua Lê ra Thanh Hóa chiếm lại Tây Đô – là thành lũy ở Vĩnh Lộc của Hồ Quý Ly. Hồ Quý Ly là người cướp ngôi nhà Trần trong biển máu, chiếm đoạt chính quyền bằng bạo lực tàn bạo nhất trong lịch sử, làm vua một năm rồi nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương (1400), xây thành Tây Giai sau đổi là Tây Đô và đổi Thăng Long ra thành Đông Đô.Nhà Hồ chỉ làm vua được hai đời, cộng 7 năm (1400-1407) rồi bị quân Minh bắt cả hai cha con về Trung Quốc. Đông Đô cũng chỉ tồn tại được 7 năm.
   Năm 1545 Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 78 tuổi. Từ đó quyền hành rơi vào tay con rể Trịnh Kiểm.
            Mặc dù ở Đàng Trong ngày càng lớn mạnh, nhưng Nguyễn Hoàng với ý thức trung quân vẫn làm tròn nghĩa vụ với nhà Lê. Hàng năm nộp 400 cân vàng bạc, 500 tấn lúa…Vua Lê đánh Mạc thiếu thốn quân dụng, lương thực. Nguyễn Hoàng đem của cải ra giúp vua và ở lại Bắc tới 7 năm. Nguyễn Hoàng có công lớn trong việc đánh dẹp các dư đảng nhà Mạc nên được phong nhiều chức tước quan trọng: Trung quân Đô đốc Thủ phủ, Tả Đô đốc Chưởng phủ sự, Thái úy Đoan Quốc Công.Năm 1599, Nguyễn Hoàng được phong làm Hữu tướng.
     .
Đoàn người của Nguyễn Hoàng đổ bộ lên cửa sông Thạch Hãn, thường gọi là cửa Việt Yên, còn gọi là cửa Việt Khách (theo Sùng Nham hầu Dương Văn An – Ô Châu cận lục) dựng trại ở Ái Tử thuộc huyện Vũ Xương, phủ Triệu Phong. Đây là nơi bắt đầu khởi dựng cơ nghiệp của nhà Nguyễn. Năm 1570 Nguyễn Hoàng chuyển dinh trấn về Trà Bát (nay là làng Trà Liên). Những địa danh Ái Tữ, Trà Bát, Dinh Cát đã mang một sứ mệnh lớn lao. Chính vì lẽ đó mà khi Phú Xuân trở thành kinh đô, các chúa, vua nhà Nguyễn đã không quên tôn vinh vùng đất ‘dung thân’ của các bậc tiên phụ trên đất Quảng Trị là Cựu dinh.
Ngày nay, chúng ta – những người đang sống hạnh phúc trên mảnh đất đã từng thấm máu và mồ hôi, nước mắt của các bậc tiên hiền, của những người đầu tiên đi mở đất – không thể không nhắc đến công lao to lớn của các chúa Nguyễn mà tiêu biểu và tiên phong là Đoan quốc công Nguyễn Hoàng.
Tôi muốn tìm về nơi đây để tìm nguồn cảm hứng cho ý tưởng sáng tạo nghệ thuật. Bắt đầu là “khơi nguồn dựng nghiệp”. Ngay cái việc dân bản địa dâng bảy chum nước khi Nguyễn Hoàng đến Ái Tử đã là một điềm lành. Ngài Uy Quốc công Nguyễn Ư Dĩ đã khải tấu lên Chúa Tiên: “Đây là phúc trời cho đó.Việc trời tất có hình tượng. Nay Chúa thượng mới đến mà dân đem “nước” dâng lên, có lẽ là điềm “được nước” đó chăng? Truyền thuyết về bảy chum nước ngọt mà người dân bản địa chắt chiu giữa hoang mạc này dâng lên Chúa là dâng cả tấm lòng thuần phục. Bởi vì Chúa biết vỗ về quân dân, thu dụng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục.
Lòng dân là như vậy, nhưng thế nước thì “nghìn cân treo sợi tóc”. Hạ Khê Hầu Nguyễn Hoàng 13 năm ở Tây Đô là 13 năm nơm nớp nằm trong tầm gươm của Trịnh Kiểm (1545-1558). Cầm trong tay Trấn tiết của vua Lê Anh Tông như là đã có trong tay tấm bùa hộ mệnh.  
Năm 1600, sau khi dẹp yên bọn nội loạn Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khê xong, Nguyễn Hoàng dong ra biển về thẳng Đàng Trong, chỉ để lại con trai thứ năm là Hải và cháu nội là Hắc làm con tin.

(Viết bên bờ Phước Long Giang, rằm tháng Hai, Bính Thân, tức ngày 23/3/2016)

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2016

163.chuyến về quê Quảng Trị, tháng 3 năm 2016

163.CHUYẾN VỀ QUÊ QUẢNG TRỊ THÁNG 3

 NĂM 2016
                                                               
                                                          Xuân Bảo.

1.PHÚ BÀI - NƠI 75 NĂM TRƯỚC TÔI ĐÃ TỪNG SỐNG.

             Chuyến bay Vietjet.Air mang số hiệu VJ. 304 trên chiếc Airbus 321, đáng lý phải khởi hành lúc 6h20 , ngày 7 tháng 3 năm 2016, nhưng phải trễ đến 30 phút. Nều không trễ thì chỉ bay khoảng 1 tiếng 20 phút. Máy bay hạ cánh  xuống sân bay Phú Bài hồi 8h10. Rời ga, đúng 8h30. Phan Quang Kỳ đã đứng sẵn ở lối ra. Kỳ mặc bộ complet khá chững chạc. Hai bác cháu ôm chầm lấy nhau và Kỳ đón lấy chiếc xe đẩy hành lý ra xe. Anh Nguyễn Hậu cùng đi với Kỳ lúc sáng sớm từ làng Thượng Phước. Triệu Phong, Quảng Trị. Tính ra khoảng cách từ nhà vào Phú Bài cũng non 80 cây số.
            Phú Bài! Nơi đây trước năm 1945 là một vùng đất hoang vu, đầy cỏ dại và cát biển. Tôi còn nhớ, khi ba tôi còn ở trong quân ngũ của 5è.  Brigate (Sư đoàn 5 của quân đội viễn chinh Pháp), ông được bố trí cho cả vợ con ở trong Camp Marié, thường gọi là Trại Con Gái. Phú Bài lúc đó có rất nhiều bọ chét. Năm 1941, tôi mới 6 tuổi chưa đến tuổi đi học. Năm sau, 1942 ba tôi được điều về đồn Mang Cá và tôi được cắp sách tới trường Nhà binh, đóng trong Trại Con Gái Mang Cá. Tôi vào học lớp Đồng ấu, học cùng một lúc cả tiếng Ta lẫn  tiếng Tây. Lớp này gọi là cours Enfantin (lóp 5), học từ a bê xê (a,b,c,) rồi lên lớp Dự bị, tiếng Tây gọi là cours Préparatoire (lớp 4), rồi lên lớp Sơ đẳng, tiếng Tây gọi là cours Élémentaire (lớp 3). Kết thúc 3 năm tiểu học thì đi thi để lấy bằng Sơ học Yếu lược. Cuối niên khóa 1944-1945, tôi đi thi ở Trường Hương Trà. Và tôi đã đậu cao, thứ 11 trong 1600 thí sinh dự thí. Trát sức báo tin tôi đã đậu Yếu lược về làng Đại Hào, (lúc này thuộc tổng An Cư, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Ông nội tôi đã cho mổ bò khao làng. Thời gian này ông tôi đang làm lý trưởng, còn gọi là ông Xạ (Xã trưởng nhưng tiếng Quảng Trị hay đọc dấu ngã  thành dấu nặng).
          Tôi còn nhớ những năm thập kỷ 70,  đồng bào Thượng từ bắc Quảng Trị đến nam Thừa Thiên,  người Pakôh, người Vân Kiều và một vài bộ tộc khác đều lấy họ Hồ, họ của Bác Hồ làm họ của mình. Thời gian này nhà văn Hồ Phương đi B. và đã viết thành công tiểu thuyết Kan Lịch, cháu của anh hùng Vai. Kan Lịch sau này cũng được tuyên dương Anh hùng Quân đội. Đồng bào ở đây rất thật thà chất phác. Họ thích đồng hồ đeo tay, nhưng phải là loại đồng hồ có “điện Phú Bài và 2 cửa sổ”. Đó là chiếc đồng hồ dạ quang, ban đêm trông rõ quầng sáng mặt  trong và hai cửa sổ là lịch ngày và lịch thứ. Nếu đổi đài (loại radio bán dẫn) thì nhất thiết trong cái đài transitor đó phải có 2 nghệ sĩ Châu Loan và Hồng Lê ( người Quảng Trị) ngâm thơ. Thành ra phải chờ tới đêm khuya, khi Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi tiết mục "đọc chuyện đêm khuya" thì mới có thơ ngâm của 2 nghệ sĩ này!
          Tôi bàn với anh Hậu ghé thăm cháu Minh Hiền, con gái anh Nguyễn Minh Tự (anh ruột anh Hậu), một trong ba chiến sĩ cộng sản đầu tiên của làng – thời Tiền khởi nghĩa Tháng Tám, 1945). Minh Hiền cùng chồng là Lê Văn Nghệ (cán bộ kháng chiến chống Mỹ đã từng giữ nhiều chức vụ chủ chốt của tỉnh trước và sau giải phóng), được Nhà nước bố trí ở Cư xá Đống Đa, trung tâm thành phố Huế,  từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam (30/4/1975). Căn phòng này hiện nay, vợ chồng Hiền Nghệ đã ngăn ra làm hai. Một bên cho thuê bán cà phê. Bên còn lại, phía trong có mấy phòng trọ cho thuê. Tôi hỏi Nghệ: Lương hưu của Nghệ được bao nhiêu? Nghệ bảo: Cũng bưa (bưa, tiếng Huế đồng nghĩa với đủ) dùng. Nghệ còn cho biết thêm là Minh Hiền không có lương hưu!
          Anh Hậu và Kỳ uống cà phê. Tôi được cháu Hiền mua cho một tô bún bò Huế. Tôi gọi điện cho nhà văn Nguyễn Thanh Song Cầm. Song Cầm bận tiếp một giáo sư nước ngoài nên khất lại lần sau. Nhà văn nữ này có cuốn tự truyện Cánh chim trong bão tố khá nổi tiếng. Tôi viết Lời tựa Cánh chim không mỏi và Phó giáo sư Tiến sĩ khoa Ngôn ngữ - Văn học Hồ Thế Hà viết bài giới thiệu Hành trình tâm hồn của Nguyễn Thanh Song Cầm. Cuốn sách đã được ông Tôn That Dzien ở Hoa Kỳ chuyển sang Anh ngữ với tựa sách là WINGS IN THE STORM. Cuốn sách này gặp sự cố khi tái bản lần thứ nhất. Không hiểu Nhà Xuất bản Hội Nhà văn sơ sót thế nào mà bản tái bản lại có thêm một số đoạn trước đây khi tôi biên tập lần đầu đã gạch bỏ. Cục Xuất bản ra lệnh thu hồi, không cho phát hành.
       Ăn uống xong, chúng tôi đến thăm anh chị Trần Văn Hối. Anh Hối là người làng Thượng Phước, học sinh Quảng sinh Bình Trị Thiên, được gủi ra học ở Hà Tĩnh hồi năm 1948 – một trong ba tỉnh bắc Liên khu 4 không bị giặc Pháp chiếm đóng. Đây là lớp người đào tạo sẵn cho ngày đất nước sạch bóng giặc. Anh Hối là giảng viên trường Đại học Sư phạm Vinh, cùng thời với giáo sư Nguyễn Duy Bình. Giáo sư Bình là cán bộ Đoàn trường lúc đó (khoảng năm 1956, 1957) đã lên sân khấu trao thẻ đoàn viên và huy hiệu Đoàn cho nữ sinh viên Hà Thị X. Sự kiện này được tờ Đất Mới, tờ báo xuất bản lậu của một nhóm sinh viên trường Đại hoc Tổng hợp Hà Nội ấn hành. Có chi tiết thày giáo Bình chạm tay hơi lâu vào ngực sinh viên X. Thời gian này cũng rộ lên các tờ báo Nhân Văn và tạp chí Giai phẩm Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông của nhóm Nhân văn Giai phẩm. Tở Trăm Hoa của nhà thơ Lỡ bước sang ngang a dua theo trào lưu “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” của nhóm Đinh Linh. Tả Lâm bên Trung Quốc. Và tận bên Đông Âu cũng lại dấy lên phong trào phản kháng chế độ như nhóm văn nghệ sĩ Câu lạc bộ Pêtophi của Hunggari, vụ bạo loạn Pôznan ở Ba Lan… Cuối cùng thì tất cả những tờ báo và tạp chí đó đều bị đóng cửa. Nhà Xuất bản Sự thật đã cho ra mắt bạn đọc cuốn “Lên án bọn Nhân văn - Giai phẩm” để bóc trần và đập tan luận điệu vu khống xuyên tạc chủ nghĩa xã hội và củng cố niềm tin cho nhân dân và cán bộ.  Văn nghệ sĩ là phải đi đúng hướng “Văn nghệ phải phục vụ chính trị”.  Và tính đảng trong văn nghệ là sợi chỉ đỏ có tính xuyên suốt cao nhất cần phải tuân thủ.
          Đến đường Phan Bội Châu, tôi nhớ mang máng là anh chị Hối ở số nhà 254. Kỳ cho xe chạy quá gấn tới cầu Bến Ngự. Tôi xuống xe, hỏi một chị đi bộ; Nhà thầy Hối thì chị ta xăng xái dẫn tôi vảo một con hẻm hẹp và gọi tên thầy Đối ra có người gặp, Tôi là một ông già tuổi trên tám mươi, tai bị nghễnh ngãng đã đành còn chị ta mới 55 tuổi, sao lại nghe Hối ra Đối được nhỉ? Thế là phải ra lại đường chính và hỏi người khác. Đến đúng số nhà anh Hối. Tôi gọi cửa, anh chị mừng rỡ đón vào nhà. Anh chị nhắc lại một vài kỷ niệm hồi chúng tôi ở phố Hàng Đào, Hà Nội. Có lần anh ra thủ đô cùng với giáo sư ngữ văn Nguyễn Việt Anh để biên soạn cuốn Văn học sử Việt Nam, anh đã nghỉ lại nhà tôi. Nhưng nhớ nhất là chúng tôi về dự đám cưới của anh chị. Chị Nụ là sinh viên năm cuối khoa ngữ văn, quê ở Yên Khánh, Ninh Bình. Đoàn đồng hương Quảng Trị chúng tôi gồm anh Phan Hào, chồng chị Đào, anh rể anh Trần Văn Hối, anh Trần Đức Lương, phóng viên Việt Nam Thông tấn xã và tôi. Thời gian đó việc mua vé xe ca Hà Nội đi các tỉnh rất khó khăn, nên anh Hào (đang công tác tại Văn phòng Bộ Giao thông Vận tải) phải lấy giấy giới thiệu của Bộ, bến xe mới ưu tiên bán vé cho.
          Tôi và anh Hậu đến anh Hối còn có một việc quan trọng. Anh Hối là một nhà trí thức tầm cỡ, có uy tín. Năm nay anh đã 86 tuổi và là một trong những trí thức còn lại của làng. Chúng tôi trình anh bản “Dự thảo Xây Nhà bia tưởng niệm các liệt sĩ, anh hùng của làng Thượng Phước”. Trong Lời đề dẫn, chúng tôi có đề cập đến một làng quê nhỏ bé như Thượng Phước, trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đánh Pháp và đuổi Mỹ ròng rã ba mươi năm trời đã cống hiến cho Tổ quốc gần 70 liệt sĩ và có tới 10 Bà Mẹ Việt Nam anh hung. Chưa kể đến những người dân yêu nước của làng đã bị quân thú mổ bụng, moi gan, chôn sống.
          Địa điểm để xây dựng Nhà bia là một quả đồi thường gọi là Cồn Cự, rộng chừng gần 4 hecta, nằm ngay khu vực trung tâm của làng. Mặt trước là con đường bằng bêtông, có khu dân cư hiện hữu và mé ngoài là con sông Thạch Hãn đưa nước từ thượng nguồn chiến khu Ba Lòng, xuôi về biển Đông. Cồn Cự hiện có những ngôi mộ của các dòng tộc chôn cất người quá cố nằm rải rác, không theo một quy định nào. Phần lớn diện tích còn lại là trồng rừng keo lai. Công ty Thống Nhất Ninh Bình khi thi công con đường cứu hộ, cứu nạn từ đầu cầu phía bắc Thạch Hãn – nơi có tượng đài 19 giọt máu của trung đội anh hùng Mai Quốc Ca -  trong "mùa hè đỏ lửa - 1972", lên tới chân đập Trấm, thường gọi là công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, dài non chục cây số. Công ty đã ủng hộ làng một con đường rải đá cấp phối chạy quanh Cồn Cự. Như vậy, nếu lãnh đạo xã Triệu Thượng và Huyện ủy. Ủy ban Nhân dân huyện Triệu Phong, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị cho phép xây Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ thôn Thượng Phước thì Cồn Cự cũng sẽ thành công viên vĩnh hằng (hay gọi cách khác là Nghĩa trang Nhân dân) cho người dân nơi đây.
          Anh Hối chăm chú nghe tôi đọc bản Dự thảo. Nghe xong, anh nói: Hay lắm, không có gì hơn là chúng ta – những người còn sống đến hôm nay phải luôn luôn nhó đến những đồng bào, đồng chí đã ngả xuống! Nhưng rối anh cũng thấy nam giải bởi một câu hỏi giản đơn: Tiền xây dựng Nhà bia lấy ở đâu ra? Mặc dù trong “Dự thảo”, chúng tôi có đề cập đến phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhưng dân làm là chủ yếu”. Anh Hối nói vui: Xuân Bảo xung phong đóng góp 20 triệu đồng trước đi, rồi bà con sẽ noi theo mà góp công, góp của. Nếu “dự án” được tỉnh thông qua thì chắc chắn là làm được.
          Chị Nụ vừa làm bếp vừa lắng nghe câu chuyện của chúng tôi trao đổi. Chị nói: nếu được duyệt cho xây Nhà bia thì chị cũng sẵn sàng đóng góp. Một lúc sau, cháu Phong, con trưởng của anh chị đánh  ôtô về. Cháu nói về rước các con đi học. Tôi nhờ Phong chụp cho mấy kiểu ảnh làm kỷ niệm. Anh chị mời chúng tôi ở lại dùng cơm trưa, nhưng chúng tôi xin khất lại làn sau.
          Phan Quang Kỳ là một giám đốc xây dựng. Kỳ có quan hệ mật thiết với nhiều doanh nghiệp ở Huế. Kỳ cũng rất rành các nhà hàng ở đất thần kinh nay. Tôi bảo Kỳ kiếm tiệm cơm nào ngon, có đặc sản Huế. Kỳ cho xe chạy lên ga Huế. Đến đây tôi lại nhớ về dĩ vãng. Ga Huế ngày xưa có tên là ga Trường Súng. Mỗi khi hè về, hoc sinh được nghỉ vacance, ba mạ tôi cho chứng tôi về quê Quảng Trị nghỉ và chơi trong mấy tháng hè, thường đi tàu lửa từ ga này về ga Quảng Trị rồi đi xe tay về làng (xe tay là loại xe do người kéo). Cơm nước  xong thì đã gấn 2 giờ chiều, Chúng tôi thẳng tiến về Quảng Trị trên con đường thiên lý bắc nam mà bây giờ gọi là Quốc lộ 1A.
     (Kỳ sau tiếp)

          2.TÔI ĐI TÌM LẠI VÙNG ĐẤT DỰNG NGHIỆP ĐẾ CỦA NHÀ NGUYỄN.

Thứ Hai, 29 tháng 2, 2016

162.NHỚ VỀ NGÀY 17/2/1979

NHỚ VỀ NGÀY 17 THÁNG 2 NĂM 1979

KHÚC BI HÙNG CHỐT MÁU PHA LONG.

Tráng ca
 Tưởng niệm 26 linh hồn người linh trẻ biên cương

                                                                  XUÂN BẢO.
Chương 1.Ngày 17 tháng 2 năm 1979 đen tối.

Pha Long, Pha Long
Mờ sáng, con chim rừng chưa thức
 gió mùa rít từng cơn lạnh buốt thấu xương.
trạm gác Lô Cô Chín  
Dưới mái lá tranh tre ghép tạm
Chiến sĩ ta chỉ có năm người
Đã rút sang cao điểm
Một sáu Chín Hai.
Chúng nó, hai trung đoàn bộ binh thầm lặng
Chẳng khác những tên khoét vách đục tường
vào nhà láng giềng như những tên ăn trộm.
Chúng bắn  xối xả hòng chiếm lĩnh điểm cao
Chính trị viên Trần Ngọc chỉ huy trận đánh
Lệnh điều quân lên phía bắc tăng cường
Cùng đồng đội   Cửa khẩu
Quyết cầm chân địch quanh pháo đài Lê Đình Chinh
Bộ Tư lệnh điều ba đại đội phối thuộc
Chốt máu Pha Long vang lời thề 
Hãy giữ yên từng tấc sông phân núi
!
Chương 2. Chúng đã quên đi lời ca nghĩa tình sâu đậm

Pha Long, Pha Long
Văng vẳng trong hàng quân lời bài hát
“Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông
Chung một biển đông, chung tình hữu nghị
Sáng như vầng đông...”
Chúng đã quên đi cửa ải Nam Quan
Được chính họ đổi tên thành Mục
Thế mà giờ đây chúng trơ tráo trở mặt
Xua quân sang suốt sáu tỉnh phía bắc nước ta
Còn đâu tiếng hát
Núi liền núi, sông liền sông ?!


Chương 3.”Bình nhất hà Việt Nam quốc thổ”

Pha Long, Pha Long
Bia trấn ải còn ghi rõ:
“Nguyên Thần Bổn Mệnh giữ núi non*
Nam Sơn bốn cõi tựa sách trời định
Thiên thiên nhật nguyệt linh linh ứng
Tuyệt tuyệt long phụng bảo quốc an
Bình nhất hà Việt Nam quốc thổ” 

Đồn Pha Long giữa núi rừng Mường Khương
Bốn ngày đêm giữ chốt
Chúng có đủ hỏa lực
 có pháo tầm xa đến pháo bộ đi cùng
Bốn ngày đêm Pha Long làm nên kỳ tich
Lũ quân hèn bỏ xác tám trăm tên.
Máu chúng loang tanh tưởi cả miền biên ải.

Chương 4.Tổ quốc luôn vỗ về các anh

Pha Long, Pha Long
Ngả xuống nơi đây Hai mươi sáu người lính trẻ  
Bất khuất hai mươi sáu linh hồn
Tuổi mười tám đôi mươi trắng trong trinh tiết
Ngả xuống để đất nước trường tồn
Còn đó mãi mãi lời thề biên cương
Pha Long, Pha Long, Lời thề son sắt
Chốt máu kiên cường!  
----------------------
*Tạm dịch nghĩa:

“Nguyên Thần được giao sứ mệnh giữ núi non

Núi Nam bốn cõi đã quy định trong sách trời

Nghìn nghìn mặt trời, mặt trăng linh thiêng và ứng nghiệm (điều đó).
(Có) rồng phượng tuyệt vời bảo vệ an nguy Tổ quốc
.
Đất Việt Nam yên bình nhất là  đây”

Bia Trấn ải với nội dung bi ký trên được dựng, bên cổng đồn Biên phòng Pha Long, do quân và dân tỉnh Lào Cai dựng từ tháng 3 năm 2013 để ghi nhớ chiến công oanh liệt của 9 chiến sĩ  Đồn  Pha Long và 3 đại đội tăng cường phối thuộc đã ngoan cường đánh trả 2 trung đoàn bộ binh của bọn xâm lược, trụ vững trong 4 ngày đêm từ sáng 17 đến 20 tháng 2 năm 1979. Bên địch hơn 800 tên bị tiêu diệt, Bên ta, 26 chiến sĩ hy sinh, tuổi đời còn rất trẻ.
                                                            -0-
                                                                                                                             XUÂN BẢO

            (viết bên bờ Phước Long Giang từ ngày 17 dến ngày 20 tháng 2 năm 2016)

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

161.Vị sơ tổ thiền phái Trúc Lâm

https://mail.google.com/mail/u/0/images/cleardot.gif
https://mail.google.com/mail/u/0/images/cleardot.gif
                    VỊ SƠ TỔ CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ.

           1.TƯỢNG ĐÁ AN KỲ SINH
            Cách đây đúng một năm, ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi, gia đình chúng tôi hành hương về Yên Tử. Yên Tử là địa danh mà người đời sau vì kiêng húy tên của vua nên đã gọi chệch sang từ An sang Yên. Về sự tích vì sao có tên gọi địa danh Yên Tử thì ở đ
ây có pho tượng đá nguyên khối lạ kỳ nhất trên non thiêng Yên Tử. Bao năm qua người ta vẫn đến đây lễ bái, phụng thờ nhưng chưa ai thực sự hiểu được huyền tích ra đời của pho tượng. Theo sử sách, ngay từ thủa sơ khai, Yên Tử đã là một ngọn núi thiêng nổi tiếng khắp nước Việt. Chính vì vậy, vào thế kỷ thứ III trước CN đã có đạo sỹ tên An Kỳ Sinh - đạo sỹ giỏi nối tiếng xứ Trung Hoa đến đây tu luyện rồi hóa đá. Dấu tích xưa nay vẫn còn lại một pho tượng          đá cao 2m,hình người,đứng chắp tay hướng về phương Bắc.
                  Pho tượng đá An Kỳ Sinh (hay còn gọi là Yên Kỳ Sinh) tọa lạc ngay giữa đỉnh Yên Tử, đoạn từ chùa Vân Tiêu đi lên chùa Đồng. Là tượng đá nguyên khối, lại đứng giữa đất trời hàng nghìn năm nên rong rêu bám đầy. Nhiều người dân ở đây cho rằng tượng đá An Kỳ Sinh là một khối đá thiên tạo, dáng hình giống một nhà sư mặc áo chùng thâm, hai tay cung kính chắp trước ngực, nhà sư thanh thản đứng giữa đất trời, tà áo bay trong gió. Tượng được dựng đứng trên một khối đá hình nấm, dưới chân tượng được cố định bằng xi măng. Trước mặt tượng được xây một bệ thờ ba bậc, bằng xi măng và đặt một bát hương rất to. Bên phải có một bệ thờ nhỏ, cũng đặt một bát hương. Không ai biết đích xác đó là bệ thờ ai, chỉ nghe tương truyền đó là bệ thờ một vị đệ tử của đạo sĩ An Kỳ Sinh. Bên trái có một biển bằng xi măng cắm trên một cột bê tông hình chữ nhật, nét chữ sơn vàng ghi: "Tượng An Kỳ Sinh - di tích có giá trị, đã được xếp hạng bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm".




    Khi đi ngang qua tượng An Kỳ Sinh du khách thập phương thường kiên nhẫn đứng lại, chờ đến lượt mình được vào lễ bái.    

Thật lạ là trong khi đường leo núi, đoạn từ tháp 7 tầng đi lên chùa Đồng, đoạn nào cũng dốc, đá núi lởm chởm thì chỗ đặt tượng thờ An Kỳ Sinh lại bằng phẳng. Người ta quan niệm, tượng An Kỳ Sinh là một pho tượng kỳ lạ nên ẩn chứa trong đó nhiều phép màu huyền bí. Bởi vậy, khi đến đây người đi chùa thường lấy một tờ tiền mới, chà lên mình tượng để cầu phúc, cầu sức khỏe và tài lộc. Cũng có người cho rằng tượng là hiện thân của An Kỳ Sinh - một vị đạo sỹ tinh thông bách bệnh, từng luyện nên linh đan trường sinh bất tử nên khi nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo, vô phương cứu chữa đã đến đây lập đàn cúng tế, xin cho bệnh tật tiêu tan, tai qua nạn khỏi đã rất linh ứng.
                Tương truyền đó chính là tượng An Kỳ Sinh và hai ngôi mộ là mộ hai học trò của ông. Tượng không phải là đá mọc tự nhiên mà là do con người dựng, chính vì thế dưới chân tượng mới có nhiều khối đá lớn như bệ để giữ cho tượng không bị đổ. Nếu quan sát kỹ sẽ thấy ở phần ngực tượng có một khung hình chữ nhật khắc lõm, qua năm tháng đã bị mờ. Theo phỏng đoán của PGS Hinh thì đó có thể do ngày xưa khi đặt tượng người ta đã khắc tên An Kỳ Sinh như một cách yểm tâm tượng thường thấy trong dân gian. Đó cũng chính là dấu vết của một sự gia công. Gần tượng xưa còn có động Dược am và Thung am (am thuốc và am luyện thuốc).
         Đại đa số người dân qua nhiều thế hệ đều chỉ biết rằng tượng đá là hiện thân của thiền sư An Kỳ Sinh - vị thiền sư đầu tiên đến tu tập trên đỉnh Yên Tử. Yên Tử trong chữ Hán An và Yên đều viết giống nhau. Có truyền thuyết cho rằng kiêng húy tên vua có chữ An nên người Việt chuyển sang gọi là Yên.Yên Tử theo sách An Nam Chí của Cao Hùng Trưng ban đầu có tên là Tượng Đầu sơn.  
                   Sách "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú có dẫn bài thơ "Thủy văn tùy bút" của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Bài thơ này đã nhắc đến Yên Kỳ Sinh như một vị tiên giả từng tu luyện linh đan trên đỉnh cao nhất của Yên Tử. Như vậy, ngay từ thời Trần trên núi Yên Tử đã có di tích An Kỳ Sinh và An Kỳ Sinh là đạo sĩ chứ không phải là thiền sư. Riêng về nguồn gốc của vị đạo sỹ này, trong sách "Liệt tiên truyện" của Trung Quốc cho biết rằng, An Kỳ Sinh là người Phụ Hương ở Lang Gia (vùng Chư Thành, tỉnh Sơn Đông ngày nay), chuyên bán thuốc ven biển Đông Hải, người bấy giờ gọi là Thiên Tuế Ông. Tần Thủy Hoàng đi tuần phương Đông đã từng nói chuyện với ông và tặng ông kim hoàng cùng ngọc bích nhưng đã bị ông bỏ lại trong đình Phụ Hương cùng một bức thư, một đôi giày bằng xích ngọc để báo đáp, bảo mấy năm sau Tần Thủy Hoàng hãy đến núi Bồng Lai tìm ông. Theo lời dặn, mấy năm sau Tần Thủy Hoàng sai Từ Thị (Từ Phúc), Lô Sinh đem mấy trăm người ra biển tìm ông nhưng chưa đến núi Bồng Lai thì gặp bão nên phải quay về. Tần Thủy Hoàng cho lập hơn 10 chỗ thờ ông ở đình Phụ Hương và ven biển Đông Hải. Nhà Tần mất, ông ở cùng người bạn thân là Khoái Thông. Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ từng mời ông ra làm quan, ông bèn đi nơi khác, không biết chết ở đâu. Trong một số thư tịch và sử liệu Trung Hoa cũ còn cho biết thêm, An Kỳ Sinh đã từng tìm được cây thạch xương bồ để cứu một người qua cơn thập tử nhất sinh và cũng chính nhờ uống loại cây kỳ diệu này mà trở nên trường sinh bất tử, sống đến nghìn năm.
         Tuy nhiên, có một điều mà nhiều người trở nên thắc mắc, tại sao Trung Quốc nổi tiếng với vô số núi thiêng như Hoằng Sơn, Thiên Thai, Nga Mi, Vũ Ang, Ngũ Nhạc... sao An Kỳ Sinh lại không ở đó mà đến Yên Tử?
Sách "Đại Nam nhất thống chí" có ghi rõ ngay tại tỉnh Sơn Tây, huyện Tam Dương và Lập Thạch (thuộc vùng đất Quảng Ninh và Phú Thọ ngày nay) có cây thạch xương bồ mọc rất nhiều trên đỉnh núi. Như vậy có thể An Kỳ Sinh từng tìm đến Yên Tử tìm cây thạch xương bồ để cứu người hoặc luyện linh đan sau đó ở lại nơi đây tu luyện. "Một vấn đề khác cũng rất quan trọng, đó là vấn đề quan hệ đi lại giữa Giao Châu với miền ven biển Đông Hải thời Tần Hán khá thuận lợi. Những di tích khảo cổ học thời Ân Thương ở Quảng Đông và nước ta đã chứng tỏ mối quan hệ khó tưởng giữa hai nước. Do vậy, khả năng Aên Kỳ Sinh đến Yên Tử vào thế kỷ III trước CN là có khả năng xảy ra".
                                                ***
                           2. NON THIÊNG YÊN TỬ

          Yên Tử - nơi cách đây hơn 700  năm -  vua Trần Nhân Tông nhường ngôi báu lại cho con là Trần Anh Tông để chuyên tâm nghiên cứu về Phật học. Ngài chọn vùng  núi Yên Tử để tu hành.
           Trần Nhân Tông tên húy là Trần Khâm, sinh ngày  11 tháng 11 năm Mậu ngọ nhằm  ngày 7 tháng 12 năm 1258. là con trưởng của vua Trần Thánh Tông, tên húy là Hoảng, mẹ là Hoàng thái hậu Nguyên Thánh. Ngài là cháu đích tôn của vua Trần Thái Tôn, tên húy là Cảnh. Năm 1274, Ngài 16 tuổi được lập làm Đông cung thái tử. Cũng trong năm đó Ngài kết duyên cùng công chúa Quyên Thánh, trưởng nữ của Hưng Đạo đại vương. Năm 21 tuổi (1279) Ngài được vua cha truyền ngôi.
Trước họa xâm lăng của quân Nguyên – Mông, năm 1282 vị vua 24 tuổi này đã chủ trì Hội nghị Bình Than và sau đó 2 năm, năm 1284 Ngài chủ trì Hội nghị Diên Hồng.
           Chiến thắng Nguyên – Mông lần thứ nhất vào năm 1285 và chiến thắng Nguyên – Mông lần thứ hai vào năm 1288 là do toàn dân nhất trí một lòng diệt giặc bảo vệ non sông nước Đại Việt mà Ngài là vị thống soái.  Sau chiến thắng Ngài cùng với vua cha làm Lễ Hiến phù tại phủ Long Hưng (Thái Bình) có dẫn giải một số tù binh và những tên đầu sỏ Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc dâng mừng Đại thắng. Trước lăng mộ Trần Thái Tông, vua Trần Nhân Tông đã đọc hai câu thơ cảm khái:

 “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”

(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng)


                            ***
Năm 1301, vua Trần Nhân Tông làm cuộc viễn du sang Chiêm quốc. Vua hứa gả con gái rượu của mình cho vua Chiêm. Chế Mân dâng Đại Việt hai châu Ô và Rý làm sính lễ cầu hôn. Về Chiêm Thành, Huyền Trân sinh được một hoàng tử. 11 tháng sau thì vua Chế Mân tịch và Huyền Trân đáng phải lên giàn hỏa nhưng đã được Trần Khắc Chung và Đặng Văn sang cứu về. Tôi có bài thơ Giọt lệ Huyền Trân viết hồi năm 2007 nhân kỷ niệm 700 năm Huyền Trân về làm hoàng hậu Chiêm Thành 1307 -2007.


                                       GIỌT LỆ HUYỀN TRẦN
                                       (Nước non ngàn dặm ra đi,mối tình chi…)
                                                                 Ca Huế
                     Cung vàng Chiêm quốc tím chiều hoang
           Vẵng khúc Nam Ai quá bẽ bàng
           Tình nghĩa trăm năm người cách trở
            Nước non ngàn dặm lệ tuôn tràn
Phụ hoàng…còn xót con lưu lạc !
Trần Khắc…thấu chăng thiếp lỡ làng ?
Chín vạn bông trời sao sáng nở
Thôi đành bội ước với tình lang !



*** 

  Vua Trần Nhân Tông  là một ông vua văn võ kiêm toàn. Ngài đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng. Rất tiếc nhiều thi tập như Việt âm thi tập, Trần Nhân Tôn thi tập, Đại hương Hải Ân thi tập,Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ ngữ, Trung Hưng thực lục, Truyền Đăng lục…phần lớn thất truyền. Thơ Trần Nhân Tông đạm bạc có hơi ấm của cuộc đời. Những bài tả mùa xuân, tả trăng, tả cánh đồng, tả chiều hôm…chứng tỏ là Trần Nhân Tông có một tâm hồn nghệ sĩ, thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên và nhìn vẻ đẹp đó dưới con mắt của người nhuốm tư tưởng thiền. Đặc biệt Ngài có một bài phú có tên là Cư trần lạc đạo phú. Đây là tác phẩm chữ Nôm đầu tiên của nước ta. Bài phú có 10 hội, mỗi hội số chữ dài ngắn khác nhau. Hội thứ nhất gieo vần bằng, hội thứ hai gieo vần trắc. Cứ thế các vần thay nhau bằng trắc cho đến hết 10 hội. Phần kết có bài kệ tứ tuyệt. Cư trần lạc đạo phú ca tụng cảnh tu hành ở nơi núi non, lời cổ kính nhưng rất đời và rất thực. Và bài phú này là chủ thuyết của Thiền Phái Trúc Lâm.
 Trần Nhân Tông là vị vua sáng lập ra dòng Việt Phật Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. Ngài là vị vua Phật đầu tiên ở đất nước Đại Việt với tôn hiệu “Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”.
Theo sử cũ, Ngài xá báo an tường, thâu thần thị tịch ngày mùng 1 tháng 11  Mậu Thân (1308), thọ thế 51 năm. Trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ Pháp Thân Thường Trụ: “Nhất thiết pháp bất sanh. Nhất thiết pháp bất diệt. Nhược năng như thị giải. Chư Phật thường tại tiền. Hà khứ lai chi hữu”.  “(Tất cả pháp không sanh. Tất cả pháp không diệt. Ai hiểu được như vầy. Thì chư Phật hiện tiền. Nào có đến có đi)”.
                                                             ***
           Tôi đã làm hai bài thơ theo thể Đường luật để bái vọng lên Ngài để tưởng nhớ một vị vua anh minh và vị Sơ tổ của nền Phật giáo Việt Nam.
.
           Bài thứ nhất:

MINH QUÂN – THÁNH CHÚA

Tìm về Yên Tử chốn quan san
Lập phái Trúc Lâm giữa đại ngàn
Trước diệt Nguyên Mông yên xã tắc
Sau xây Đại Việt vững âu vàng
Cửu trùng phổ độ rời ngôi báu
Vạn tuế chuyên tâm hướng Niết bàn
Điều ngự giác hoàng ngời chánh pháp
“Cư trần lạc đạo” sáng trời nam*

*Cư trần lạc đạo phú của vua Trần Nhân Tông,chủ thuyết của phái Thiền môn Trúc Lâm.

Bài thứ hai:

VỊNH CHÙA BA VÀNG, BẢO QUANG TỰ

Hai sườn xanh ngắt cánh rừng thông
Lưng dựa thế núi phía trước sông
“Ánh sáng quý” ngời ngôi cổ tự *
Bình minh lên rạng mặt trời hồng
Nơi đây hạ đoạn bình phong thủy
Kìa chốn  thượng môn mạch giếng nguồn
Hổ phục oai linh, thiêng đuốc tuệ
Rồng chầu hùng vĩ hướng Chùa Đồng

*Ánh sáng quý tức Bảo Quang Tự


                                     Nhà thơ Xuân Bảo

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2016

160.Kỷ niệm 1 năm về Hà Nội.

Ngày này năm ngoái, tội đi thăm lại những người ban cố tri. Nhân đây tôi đăng lên blog của tôi để nhớ về ngày ấy bài viết này.

             VÀO  CHÙA HÀ GẶP GỠ NGƯỜI TRONG MỘNG.

Sau Ngày Thơ Việt Nam ở Quốc Tử Giám, tức ngày 16 tháng Giêng Ất Mùi, lại nhằm vào ngày thứ 6, mùng 6 tháng 3 năm 2015. Sáng ra, vợ chồng tôi lên tận lầu 7 khách sạn để ăn sáng và uống cà phê. Nhìn ra sông Hồng, tôi thấy cầu Long Biên mờ mờ trong mưa bụi. Lòng bỗng thấy nôn nao nhớ về bài thơ Đưa em lên cầu Long Biên. Bài thơ này tôi viết trong một chiều rét ngọt cũng mưa, cũng lạnh như sáng nay, lúc tôi ngồi ở một quán cà phê cóc góc phố Ô Quan Chưởng.  Bài thơ đó như sau:

 Năm xưa
Anh cùng em
Đứng trên cầu Long Biên
Nhìn lên Bãi Giữa
Nương ngô mút mắt trời Chèm
Mạn Lương Yên ca nô tàu thủy
Tấp nập vào ra chật bến Phà Đen

            Con rồng thép uốn mình qua đôi bờ Hà Nội
Chở tuổi thanh xuân những cô gái chàng trai
Đi vào cuộc trường chinh đánh Mỹ
Còn đây những nhịp cầu gãy…
Chứng tích thương đau

Ta muốn nghe tiếng búa cạo rỉ
Của những người thợ sơn cầu
Như bản hòa tấu âm vang thế kỷ
Thao thiết chảy vào dòng sâu Nhĩ Hà

Chiều nay trời trở lạnh
Ta đưa em lên cầu Long Biên
Để nhớ về kỷ niệm
Nụ hôn đầu giữa trời đất mênh mang.

                   Ô Quan Chưởng, chiều rét ngọt 03-04-2007.

Bài thơ được đăng trên tờ báo văn nghệ của Hội Nhà Văn Hà Nội. Thời gian này nhà thơ Vũ Xuân Hoát làm tổng biên tập. Bài thơ cũng đã được in vào sách thơ Trăng Giêng của tôi do Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 2007.
Tháng 10 năm 2010, Hà Nội rầm rộ tổ chức Đại lễ mừng 1.000 năm Thăng Long. Từ thủ đô, Bích Hạnh gọi điện báo cho tôi biết bài thơ trên được Ban Tổ chức cho viết bằng thư pháp và trưng bày trong Festival Cầu Long Biên. “Hiện mẹ con em đang đứng trên cầu và đang xem bài thơ ấy”. Tôi nói: Em và con chụp một tấm ảnh làm kỷ niệm và gửi vào cho tôi.
Tôi đang đưa hồn về dĩ vãng. Nhà tôi thấy vẻ mặt trầm ngâm của tôi bất giác nàng hỏi: Hôm nay anh có đi thăm Bích Hạnh không? Tôi giật mình thảng thốt: Có, nhưng trời đang mưa, anh ngại quá. Thúy Minh nói: Anh gọi taxi mà đi, ngại gì.
Tôi nhờ cô lễ tân gọi xe. Chỉ dăm phút sau là xe tới. Tôi tế nhị mời vợ cùng đi, nhưng nhà tôi cũng tế nhị: anh đi một mình đi, sáng nay em có hẹn bà Bảy, bà nội của Lôbô rồi.
Tôi bảo cậu lái xe: Hãy đi theo chỉ dẫn của tôi. Cậu cho xe chạy một vòng quanh Hoàng thành, bắt đầu từ Cửa Đông rồi chạy dọc phố Lý Nam Đế (phố Nhà binh theo cách gọi của nhà văn Chu Lai). Tôi muốn nhìn lại con đường chạy quanh Hoàng thành và nhớ về bài thơ tôi viết Đêm Hoàng thành. Hồi đó, Hà Nội đêm nguyệt thực nhưng vẫn báo động rồi báo yên, báo yên rồi báo động (do máy bay Mỹ vào). Tôi và em đã dạo một vòng hoàng thành xưa – nơi mà Bà huyện Thanh Quan đã than thở

 …Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Hoa sấu li ti rụng trắng mặt đường. Những ngọn gió bấc, những giọt mưa phùn. Trời thủ đô rét ngọt vào xuân. Đêm không trăng lại không đèn. Chỉ còn lại những ánh sao nơi xa lấp lánh, lấp lánh phản chiếu những giọt mưa trên vai em:

..Những vì sao xa nhấp nháy trong đêm
Đậu lên vai em tròn mịn dịu hiền…

Tôi muốn nhìn lại ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế, nơi đặt cơ quan Phòng Văn nghệ Quân đội. Những năm tuổi trẻ khi bước vào làng văn tôi được làm quen với những cây đa, cây đề Từ Bích Hoàng, Thanh Tịnh, Nguyễn Trọng Oánh…
Xe lên đến phố Hoàng Diệu rồi tới Quảng trường Ba Đình. Tôi bảo lái xe dừng lại và nhờ chụp cho tôi bức ảnh trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Tôi muốn thăm lại Vườn Bách thảo - nơi mà cách đây 55 năm, những chàng trai ưu tú của thủ đô - đã hát cho Bác Hồ và các nhà lãnh đạo các đảng cộng sản và công nhân thế giới đến dự Đai hội Đảng lần thứ III nghe. Một giàn Đại hợp xướng hơn 1.200 ca sĩ và 114 nhạc công của Nhà hát Giao hưởng Việt Nam trình diễn những bài hát ca ngợi Đảng Lao động, ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh …Trong giàn Đại hợp xướng đó có tôi ở bè trầm (basse). Và chính nơi đây đã lưu cho hậu thế tấm ảnh lịch sử “Bác Hồ bắt nhịp Bài ca Kết đoàn”. Bức ảnh này do phóng viên Thông tấn xã Việt Nam Lâm Hồng Long chụp đêm Đại nhạc hội mùng 3 tháng 9 năm 1960.
 Sau này tôi gửi bài báo “Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn” cho tờ Đại biểu Nhân dân của Quốc hội và đã được đăng. Xe chạy lên đường Hoàng Hoa Thám rồi ngoặt sang Cầu Giấy lên Chùa Hà. Đến đúng trước khuôn viên Chùa Hà, tôi hỏi mấy anh xe ôm địa chỉ: ngõ 260, ngách 93, số nhà 12, phường Quan Hoa. Họ nhiệt tình chỉ dẫn. Tôi gọi điện thoại cho Bích Hạnh. Từ ban công trên lầu 5, Bích Hạnh bảo: Em nhìn thấy anh rồi, cứ men theo con đường nhỏ ấy mà đi thêm vài chục bước nữa là đến nhà. Em sẽ xuống mở cổng. Tôi nhớ lại từ ngày mẹ con Bích Hạnh rời ngôi nhà thân thương 54 Mã Mây đến nay đã mấy lần thay đổi chỗ ở. Từ Mã Mây lên Quảng An, từ Quảng An sang Xóm Mậu, từ Xóm Mậu tới đường Âu Cơ (cùng trong quận Tây Hồ) và nay là số nhà lắm ngõ, lắm ngách của quận Cầu Giấy.
Từ trong sân, Bích Hạnh đi từng bước một ra mở cổng. Đó chính là  người mà tôi đã mệnh danh cho nàng là một trong ngũ đại mỹ nhân của Hà thành, đã đưa vào tác phẩm Hà Nội cơn lốc tháng bảy. Bích Hạnh nói rằng lần sau anh có đến thì nhìn vào cái bảng điện cạnh cổng (có số thứ tự từ số 1 đến số 6), anh bấm vào con số 5 thì tự động cánh cổng sẽ mở ra, khỏi phải chờ người ra mở cổng. Tôi thầm nghĩ, giờ đây công nghệ xây dựng thật là hiện đại: theo dõi động tĩnh từ trong ra ngoài đã có camera, nay lại có thêm cái thiết bị mở cổng quá ư thuận tiện. Tôi thú nhận với Bích Hạnh, tôi là người lạc hậu, chưa biết đến cái văn minh của kiến trúc đô thị bây giờ. Bích Hạnh dẫn tôi vào thang máy. Nàng bấm số 5 và chúng tôi có một khoảnh khắc vô cùng quý báu là chỉ có hai người trong buồng thang máy. Nhưng tôi đã để cho khoảnh khắc ấy trôi đi! Nếu không trao cho nhau nụ hôn ngày nào như hồi ở trên cầu Long Biên giữa trời đất mênh mang thì chí ít cũng tay nắm trong tay. Nhưng tôi đã không làm như vậy! Bởi vì…
Vào phòng khách, chồng Huyền Anh đứng lên bắt tay tôi rồi vội vàng đến tủ rượu lấy chai rượu và hai cái ly. Hoàng Châu là con của nghệ sĩ nhân dân, kịch sĩ Hoàng Uẩn nổi tiếng một thời trong các vai diễn kịch nói những năm thập kỷ 60, 61 thế kỷ trước. Châu là anh lính “Bộ đội Cụ Hồ” thời chống Mỹ, là kỹ sư công binh. Sau khi xuất ngũ thì làm con rể Bà Hạnh. Tôi hỏi Đúc (tên thôi nôi của Huyền Anh lúc nhỏ): Con đã đỡ chưa? Và đi lại còn khó khăn không? Huyền Anh bị tai nạn giao thông nên phải điều trị rất nhiều ngày và lúc ra viện phải dùng xe lăn. Nay thì đi lại đã bình thường, nhưng Huyền Anh không đi xe máy nữa.
Tôi ngồi cạnh Huyền Anh và nhờ Hoàng Châu chụp ảnh hai bác cháu. Bích Hạnh ngỏ ý mời tôi ở lại dùng cơm trưa nhưng tôi từ chối do có hẹn với nhà văn Hoàng Quốc Hải. Hoàng Châu tiễn tôi ra cổng. Tự nhiên tôi thốt ra một câu mà cả tôi và Hoàng Châu đều thấy xót xa: Có lẽ đây là lần cuối bác cháu ta gặp nhau!
Trời càng mưa nặng hạt!
                                                                    ***





                           LÊN PHÁO ĐÀI LÁNG THĂM HOÀNG QUỐC HẢI.

Taxi chạy vào một cái sân rộng trước  chung cư Pháo đài Láng. Hoàng Quốc Hải tay cầm ô, đứng đợi tôi dưới một mái hiên. Xuống xe, tôi bắt tay bạn và cùng đội dù đi vào trong nhà. Hoàng Quốc Hải pha trà và chúng tôi bắt đầu những câu chuyện văn chương. Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng gọi điện từ cơ quan về. Hoàng Quốc Hải đưa điện thoại cho tôi và nói: Hồng muốn nói chuyện với anh.Tôi chào nhà thơ và chúc sức khỏe. Hồng nói: Em xin lỗi, sáng nay có cuộc họp không thể vắng mặt nên để anh Hải một mình tiếp anh. Em băn khoăn lắm! Tôi bảo: không sao. Hiện bây giờ đã có cô Nga, con gái bác Hoàng Hữu Đản sang chơi và bắt tay vào việc làm bữa rồi. Hồng yên tâm đi.
Nhân có mặt Hoàng Bich Nga, tôi bất chợt nhớ tới một bài viết của nhà văn Hoàng Quốc Hải từ năm 2001 có nhan đề Hoàng Hữu Đản – nhà dịch thuật lão luyện.
       Nhà văn Hoàng Quốc Hải dù đã dốc nhiều tâm huyết vào bài viết nhưng cũng chưa nói hết được công lao và sự cống hiến của nhà dịch thuật trứ danh này. Theo tôi được biết, nhà văn Hoàng Hữu Đản vốn sinh ra trên mảnh đất Ô châu ác địa nghèo khó. Ông sinh ngày 3.4.1922 tại thôn Minh Lệ, xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông qua đời lúc 1h20 phút sáng ngày 26-3-2012 tại SàiGòn, hưởng thọ 90 tuổi. Ông là nhà văn với nhiều thể loại: Dịch thuật, sáng tác kịch, thơ, viết báo, tạp chí...Như lời Hoàng Quốc Hải thì “Thế nhưng lại có một số rất ít người bắt đầu sự nghiệp của mình từ lúc nhận thẻ hưu. Nhà giáo Hoàng Hữu Đản là một trong số những người ít ỏi ấy..,” Ông Hoàng Hữu Đản nghỉ hưu năm 1978. Và liên tiếp nhiều năm tiếp theo ông đã cho ra đời những tác phẩm dịch đồ sộ:
Bi kịch cổ điển Pháp (chung),Kịch vui GOLDONI (chung),(1983).Tuyển thơ VICTOR HUGO (chung) Song ngữ, (1985).Tuyển tập kịch CORNEILLE, (1987).Véronica, nàng là ai? (M. DEKOBRA). Di chúc tình yêu (CHR. ARNOTHY) (1990). Salammbo (GUSTAVE FLAUBERT), (1990). Nana (ÉMILE ZOLA), (1995). Paris - Saigon - Hanoi (PHILIPPE DEVILLERS) (1993). An Nam (CRISTOP BATAILLE), (1994). TAGORE (chung ) (1991). Bí mật vùng biển con, truyện thiếu nhi, (1989). David Crockett trở về nhà, truyện thiếu nhi, (1989). Promethee bị xiềng ( ESHlLE, Hy Lạp), (1982). Edipe làm vua (SOPHOCLE) (1983). Médée (EURIPIDE), (1984). Vinh quang của cha tôi (M .PAGNOL) (1996). Lâu đài của mẹ tôi (M. PAGNOL), (1996). Iliade (HOMERE) (1997). Odyssée (HOMERE) (2001). Con đường hoàng gia (ANDRÉ MALRAUX) (2001). Aristophane – hài kịch Hy Lạp. Bi kịch Hy Lạp.
          Những bản tiếng Việt và song ngữ Việt Pháp:
     Nụ cười Hollywood. (1992). Hoa hồng nhung, truyện, (1991). Bí mật vườn Lệ Chi, kịch lịch sử, (1992) và song ngữ Việt Pháp (2007). Người con gái Nguyễn Du.  Gặp gỡ tất yếu. Macrcel Pagnol, (1995). Ngụ ngôn La Fontaine, dịch, chú thích và bình luận, song ngữ. Quà muộn (Nguyên Hương), tập truyện ngắn song ngữ. Ánh trăng , tập thơ hiện đại của nhiều tác giả, dịch và giới thiệu. Vương quốc các loài hoa, Maurice Carême. Cái dải mũ POMPADOU R, Maurice Carême.Hòn bi thuỷ tinh, Maurice Carême.Từ LE CID của Corneille đến TUỒNG LỘ ĐỊCH của Thúc Gia Thị Ưng Bình.Thơ Bích Khê( từ tập 1 đến tập 17). Thơ Hàn Mặc Tử.
           Ở phần sáng tác và biên soạn tác giả Hoàng Hữu Đản cũng để lại một gia tài đồ sộ đó là: Tác phẩm Văn học Hy Lạp Cổ ( Dịch sang Tiếng Việt – từ 1 đến 5.và Kết. Những Kỷ niệm khó quên trên Văn Đàn Nước Bỉ .Về một cánh cửa của văn hóa. Phần lãng mạn trong tác phẩm của Honoré de Balzac.  Truyện Kiều và Tâm sự sâu kín của Nguyễn Du.  .Thơ Đường Luật Việt Nam. Cơ sở Cảm hứng của Thơ Ca trữ tình Phương Đông.
         Dịch giả Hoàng Hữu Đản còn có những biên khảo bằng tiếng Pháp: Đó là những cuốn -LA VERSICATION VIETNAMIENNE - Conférence à I’NALCO, Paris,1991. -COMMENT J’AI TRADUIT LE CID DE CORNEILLE - Conférence à L’ Université de Rouen, 1991. - VIETNAM, LE PAYS DU DRAGON BLEU (VIET NAM, đất nước Rồng xanh), phụ trách phần thơ, cùng với Martine Aepli phụ trách phần ảnh, NXB Hồng Kông 1995.
.
                                                        ***
          Cũng theo nhà văn Hoàng Quốc Hải, năm 1991 nhà văn Hoàng Hữu Đản nhận được một học bổng dịch giả văn học của Chính phủ Pháp. Năm 2000, nước Cộng hoà Pháp đã tặng ông Huân chương Cành Cọ Hàn Lâm hạng Ba, và năm 2008 tặng ông Huân chương Cành Cọ Hàn Lâm hạng Nhì .
          Mới đây, tức đầu năm 2016 này, khi Hoàng Quốc Hải lên Lũng Cú chào cờ Tổ quốc, tôi gọi điện lên Hà Giang hỏi: Ở nước ta bác Hoàng Hữu Đản nhận được giải thưởng nào? Trả lời: Không có. Và anh còn cho biết thêm là Chính phủ Pháp có tặng cho dich giả Hoàng Hữu Đản huân chương Bắc đẩu bội tinh.

          Hoàng Bích Nga vừa làm cơm vừa lắng nghe anh em tôi bàn luận về bố mình. Nga bảo: xin mời các anh dùng bữa. Vẫn những món ăn truyền thống của người Hà Nội, có canh bóng, có đủ các thứ giò chả. Rượu thì ta có tây có. Tôi có ý mong nhà thơ Nguyễn Thị Hồng về chung vui bữa cơm thân mật đầu năm. Hoàng Quốc Hải biết ý bảo: Nhà tôi chiều mới về cơ. Anh rót ra 3 ly rượu và nâng ly chúc mừng năm mới!
          Ngoài trời dường như đã thôi mưa. Tôi bịn rịn chia tay Hoàng Quốc Hái và Hoàng Bích Nga.

Pháo đài Láng, ngày 6 tháng 3 năm 2015,

 sau tiết Nguyên tiêu một ngày, tức 16 tháng giêng Ất mùi
Xuân Bảo.