Trang

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

126. Làng mới

LÀNG MỚI  

      hay là ĐẤT NÂU, CÂY XANH, VÀNG TRẮNG và NGÓI ĐỎ
                                                                            
                                                                                                Xuân Bảo


1.Cao su-ngươi từ đâu tới

          Brasil, (Châu Mỹ La-tinh) rộng lớn nằm ở gần kề đường xích đạo từ 30 đến 350 vĩ nam bán cầu, có con sông Amazôn hùng vĩ dài hơn 6500 cây số, chảy qua hầu hết đất nước từ đông sang tây rồi đổ ra Đại Tây Dương.
          Trong rừng mưa Amazôn cách đây mười thế kỷ, thổ dân Mainas đã biết dùng nhựa của một loài cây tẩm vào quần áo để chống ẩm ướt và tạo ra những quả bóng vui chơi trong những dịp hội hè.
          Thổ ngữ Mainas từ Caouchouk có nghĩa là “nước mắt của cây”.Cao là gỗ, uchouk là chảy ra hay là khóc.
          Chín thế kỷ sau, năm 1839 nhân loại phát minh ra công nghệ lưu hóa đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu bằng chính cây cao su cho các thành phố Manaus (bang Amazonas) và Belem (bang Pará ) của Brasil.
          Cao su vượt ra khỏi quê hương- nơi sản sinh ra nó. 2800 hạt (4%) trong số 70.000 hạt giống xuất dương đã nẩy mầm. Sau khi thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa, cây cao su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa Anh. Người Anh thường tự mãn cho rằng “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất Anh”.
 Châu Á là nơi đầu tiên cây cao su được gieo trồng. Năm 1883 cây cao su có mặt tại vườn thực vật Buitenzorg (Malaysia)và  đến năm 1893, một đồn điền cao su đã được thành lập tại Malaya.  
         Cây cao su có danh pháp hai phần: Hevea brasiliensis là một loài thân gỗ thuộc về họ Đại kích (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Chiều cao cây cao su có thể tới 30 mét. Nhựa mủ thường là màu trắng (cũng có khi màu vàng) có trong mạch nhựa ở vỏ cây. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây hướng tay phải, tạo một góc khoảng 30 0 với mặt phẳng. Khi cây đạt độ tuổi 5 – 6 năm thì cho mủ. Và tuổi thọ của cao su chỉ đạt tới 25 đến 30 năm.
           Công dụng của cây cao su thật đa dạng: Mủ cao su là nguyên liệu chính dùng trong sản xuất săm lốp ôtô, bánh máy bay,xe máy môtô,xe đạp và các loại bánh hơi khác. Ngoài ra còn dùng mủ cao su cho sản xuất đồ dùng như đế giày, dép và đồ chơi trẻ em.Đặc biệt, khi tôi viết những dòng này thì đất nước Brasil – quê hương của cây cao su - đang tưng bừng ngày hội Bóng đá toàn cầu. Đó là FIFA WORLD CUP 2014 BRASIL.Tôi lại như đang trông thấy trong ruột những trái bóng Brazuca đang lăn trên các sân có phần đóng góp của cao su. Không biết bây giờ trình độ khoa học cao người ta chứa hơi vào quả bóng bằng loại hơi gì mà không còn thấy như ngày xưa những cái vet-si- (ruột bóng) màu đỏ bằng cao su, có vòi để mỗi lần bóng xẹp thì dùng bơm xe đạp bơm căng lên. Và những chùm bóng bay làm bằng mủ cao su, đủ màu sắc tung lên trời trong lễ khai mạc làm cho không khí ngày hội càng thêm tươi vui và náo nhiệt.Gỗ cây cao su là nguyên liệu cho sản phẩm đồ mộc.Nó được đánh giá cao vì thớ gỗ dày, ít co, mầu sắc nhẹ nhàng thanh thoát.Nó cũng được coi là loại gỗ “thân thiện môi trường” do việc khai thác gỗ cao su sau khi cây cao su kết thúc chu kỳ sản sinh ra mủ.Quả cao su là quả nang có ba mảnh vỏ ghép thành ba buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay hình cầu,đường kính 2 cm, có hàm lượng dầu khá .Hạt cao su có thể chế biến thành dầu dùng cho sản xuất sơn dầu và sơn al-kit (alkid paint) và sản xuất xà phòng.
          Tuy nhiên cây cao su có nhiều yếu tố gây độc hại cho con người, nhất là độc tố trong mủ cho nên phải thận trọng trong các khâu từ chăm sóc vườn cây đến cạo mủ, nhất là khâu chế biến.

                                                          ***
                                       
          Thực dân Pháp, sau khi thôn tính Việt Nam đã nghĩ ngay đến việc bóc lột tài nguyên và sức lao động bản xứ. Lấy xong Lục tỉnh, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã gửi ngay thư về “mẫu quốc Phú –Lang-Sa”. Thư viết rằng: “Đẩy mạnh sản xuất và thương mại của thuộc địa bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ”. Paul Doumer cũng là tên thực dân cáo già muốn đẩy nhanh tốc độ khai thác thuộc địa nên đã có ý tưởng đề xuất xây dựng cầu Long Biên, trước mặt Hà Nội để nối các đầu mối giao thông đường sắt thành một hệ thống hoàn chỉnh.Cầu Long Biên có thời được mệnh danh là Pont Doumer (cầu của ông Doumer).Và giờ đây chiếc cầu này đã đi vào lịch sử, được phong tặng danh hiệu “Di sản lịch sử của Thăng Long-Hà Nội.
          Người Pháp đưa cây cao su vào Việt Nam lần đầu tiên tại Vườn Thực vật Sài Gòn từ năm 1878 nhưng không sống được. Mãi tới năm 1892, Pháp lại thấy đất đai mầu mỡ của những vùng đất bazan và cả đất xám ở miền Đông Nam kỳ rất hấp dẫn với loại cây này nên chúng đã nhập 2.000 hạt cao su từ Indonésia vào nước ta. Có 1.600 cây nẩy mầm thì 1.000 cây được giao cho Trạm Thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Thủ Dầu Một).200 cây giao cho bác sĩ Alerxandre John Emil Yersin, dân Pháp gốc Thụy Sĩ – người đã tìm ra cao nguyên Lang Biang và xây dựng Đà Lạt thành nơi nghỉ dưỡng lý tưởng, trồng thử ở Suối Dầu, cách Nha Trang khoảng 20 km.
          Công ty cao su đầu tiên được thành lập có tên là Suzannah đặt tại Dầu Giây, (Long Khánh, Biên Hòa).Tên chủ người Pháp tên là W.Bazet đã chọn Hàng Gòn để mở plantation (đồn điền) cao su.Và ở đây năm 1927 nhà khảo cổ học người Pháp J. Bouchet đã phát hiện ra ngôi mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn,có niên đại từ 150 đến 240 năm sau công nguyên. Xã Hàng Gòn là 1 trong 6 xã của tỉnh Đồng Nai thuộc Nhóm 1 đạt chuẩn Chương trình xây dựng Nông thôn mới đủ 19 tiêu chí.
          Như vậy, ở Việt Nam từ năm 1907 cây cao su mới thực sự bám rễ và phát triển. Các plantation (đồn điền) cao su mọc lên: Plantation de Courtenay, thuộc tập đoàn tư bản Riveaux của Pháp rải khắp các thuộc địa.Ở Đông Nam Bộ có SIPH, SPTR, CEXO, MICHELIN…Các nhà tư sản dân tộc Việt Nam cũng thành lập một số đồn điền.Năm 1920, Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng là 3.000 tấn. Năm 1923, cao su được trồng thử ở Cao nguyên Lâm Viên trên những vùng đất cao từ 400 dến 600 mét so với mực nước biển và phát triển tốt trong thời gian 1960 – 1962, sau đó bị ngưng do chiến tranh.
          Năm 1954, Hiệp nghị Genève tạm thời chia cắt đất nước ta thành hai miền.Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, để tự túc nguồn nguyên liệu thiên nhiên này cho nền công nghiệp. Ngay trong những năm đánh Mỹ cây cao su đã được trồng vượt vĩ tuyến 170 ở các tỉnh Khu Bốn cũ và tỉnh Phú Thọ được khoảng 6.000 ha.Và ngay ở Hà Nội đã xây dựng một nhà máy có tên là nhà máy Cao su Sao Vàng trong cụm công nghiệp Cao- Xà- Lá ở Khu Đống Đa.Nhà máy này đã cho ra đời hàng triệu bộ săm lốp xe đạp cung cấp cho tiêu dùng cần thiết của người dân và hàng vạn bộ săm lốp ôtô và xe máy công trình phục vụ cho hậu phương lớn miền Bắc và chi viện vận chuyển vũ khí khí tài, nhân tài vật lực cho chiến trường miền Nam. Đoàn Vận tải Quân sự Quang Trung là đơn vị sử dụng nhiều nhất săm lốp ôtô các loại do nhà máy Cao su Sao Vàng cung ứng.
***

          Sau ngày Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, diện tích cao su cả nước còn khoảng 76.000 ha, tập trung phần lớn ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha.Hầu hết các đồn điền cao su đều được Nhà nước tiếp
quản. Tập đoàn Cao su Việt Nam, tên giao dịch là VietNam Rubber Group, viết tắt là VRG là doanh nghiệp chủ đạo của ngành cao su.Còn lại một số ít cao su tiểu điền thuộc tư nhân và các đơn vị kinh tế nhỏ của một vài địa phương.
          Đến nay, sau gần 40 năm giải phóng, cây cao su không ngừng phát triển. Diện tích cao su được phân bố như sau:Bắc Trung Bộ 9,5%, Tây Nguyên 33%, Đông Nam Bộ 46%, Tây Bắc 4,85%. Đặc biệt ở tỉnh Điện Biên đã trồng theo hình thức đại điền.Cây cao su đã cắm rễ trên mảnh đất lịch sử này với gần 3.500 ha ở huyện Điện Biên, Mường Chà, Tuần Giáo.Riêng Mường Chà chiếm 1.125 ha trồng ở Mường Mơn, Sa Lông, Na Sang. Dù khác khí hậu, khác thổ nhưỡng và những điều kiện khắc nghiệt khác, cao su Điện Biên đã cho những dòng vàng trắng, góp phần làm giàu cho vùng đất nổi tiếng khó khăn: ruồi vàng, bọ chó, gió Tây Trang.

2.   Làng mới cao su Đồng Nai
           
          Quốc hội thống nhất cả nước chuẩn y việc thành lập tỉnh Đồng Nai   bởi việc sáp nhập các tỉnh Biên Hòa, tỉnh Bà Rịa-Long Khánh và thị xã Vũng Tầu.  
          12 ngày sau khi đất nước thống nhất, tức là ngày 12 tháng 5 năm 1975, ông Lê Sắc Nghi*,Khu ủy viên Khu ủy Đông Nam Bộ, Thư ký Ban Chấp hành Công Đoàn Cao su miền Nam đã triệu tập các chủ đồn điền người Pháp và những người giúp việc của họ để nghe công bố chủ trương của Cách mạng.
Ông đanh thép nói rằng: Cây cao su hiện có trên đất Việt Nam là do chính công sức của công nhân cao su Việt Nam trồng và chăm sóc. Tư bản Pháp đã bóc lột công sức lao động của công nhân một cách thậm tệ để vơ vét nguồn tài nguyên ấy trong mấy chục năm qua. Nhân dân Việt Nam, trong đó có công nhân cao su đã đứng lên làm cách mạng lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc, xóa bỏ áp bức bóc lột.Bây giờ Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, chính quyền Cách mạng đã được thành lập thì chính người Việt Nam phải làm chủ nguồn tài nguyên trên đất nước mình.Công nhân cao su phải làm chủ các đồn điền cao su!
_________
·                                                                                                                                        Ông Lê Sắc                              *Ông Lê Sắc Nghi quê Triệu Phong, Quảng Trị theo chân bố mẹ đi phu cong-tra từ tháng 7 năm1932,khi mới 7 tuổi. 11 tuổi ông đã ra lô làm công nhân lai ghép hoa cao su, lai ghép da rồi trở thành phu cạo mủ thực thụ.Đến tuổi trưởng thành ông tham gia các phong trào đấu tranh của công nhân cao su và được kết nạp vào Đảng.Năm 1975 ông là Khu ủy viên Miền Đông Nam Bộ,phụ trách Công đoàn với chức danh Thư ký Công đoàn Cao su Miền Nam.Sau giải phóng ông được Khu ủy phân công về tiếp quản, tổ chức khôi phục lại sản xuất các đồn điền của tư bản Pháp tại Đồng Nai.Sau đó ông làm giám đốc Công ty Cao su Đồng Nai rồi Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su Việt Nam.


Đại diện Công ty SIPH, tiến sĩ kinh tế học Rouneaux  biết rằng chỉ còn có con đường rút lui, nhưng trước khi ra đi ông ta còn thách thức: Các ông đuổi thì chúng tôi đi, nhưng chúng tôi tin chắc rằng các ông không đủ sức quản lý công ty này!?
Sang ngày 13 tháng 5 năm 1975, bốn ông chủ người Pháp cuối cùng buồn bã ra đi,chấm dứt gần 70 năm chúng ngự trị vùng đất cao su này.
Công ty Cao su Đồng Nai được thành lập ngày 2 tháng 6 năm 1975 trên cơ sở tiếp quản 12 đồn điền cao su thuộc 4 công ty tư bản Pháp gồm:
-Công ty Những đồn điền Đất Đỏ (Société des plantations des Terres Rouges). Tên tắt là SPTR, được thành lập năm 1910, Trung tâm đặt tại Quản Lợi.Ở Đồng Nai có hai đồn điền của Công ty này là Bình Sơn và Cẩm Mỹ.
-Công ty Đồn điền cao su Xuân Lộc (Société des plantations d’ Hévéas Xuân Lôc) Tên tắt là SPHX, được thành lập năm 1911.Công ty này chỉ có 1 đồn điền ở Hàng Gòn – nơi có ngôi mộ Cự Thạch nổi tiếng.
-Công ty Cao su Đồng Nai (Les caouthoucs du DoNai).Tên tắt là LCD, thành lập năm 1908 có 3 đồn điền Trảng Bom, Cây Gáo và Túc Trưng.
-Công ty Đồn điền cao su Đông Dương (Société Indochinoise des plantations d’ Hévéas).Tên tắt là SIPH, thành lập năm 1935 có 6 đồn điền:An Lộc,Dầu Giây,Ông Quế, Bình Ba,Bình Lộc và Long Thành.

Trên đà phát triển, mấy năm sau Công ty Cao su Đồng Nai mở thêm 6 nông trường.Đó là các nông trường Thái Hiệp Thành, An Viễng, Cẩm Đường, Hòa Bình, Xà Bang và Cù Bị.Đến năm 1994 do tách tỉnh, Công ty tách 4 nông trường gồm Hòa Bình, Xà Bang, Cù Bị và Bình Ba về thuộc Công ty Cao su Bà Rịa có tổng diện tích là 13.559 ha, (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu).
  Hồi tưởng lại thời kỳ đầu khi mới tiếp quản, có đến 21.054 ha cây già cỗi, suy kiệt. Nay Công ty đã nâng lên tầm Tổng Công ty có tên trên thương trường quốc tế với tên giao dịch tiếng Anh là DONGNAI RUBBER CORPORATION, tên viết tắt là DONARUCO.
Đến nay Tổng công ty Cao su Đồng Nai có 13 nông trường chuyên trồng va khai thác cao su thiên nhiên với diện tích vườn cây là 34.266 ha.Trong đó diện tích vườn cây khai thác là 24.789 ha, vườn cây xây dựng cơ bản gốm có các giống mới: GT1 chiếm 36,19%, RR600 chiếm 19,33%, PB 235 chiếm 15,73%, VM 515 chiếm 9,28%. Các giống thử nghiệm khác (RR 6233, VM 514) chiếm 19,49%.
Điều đáng mừng là cây cao su Đồng Nai đã đứng nới chân ra tận Cao nguyên Lâm Viên, với 2.000 ha liên doanh với Bảo Lâm, Lâm Đồng ( Công ty Cổ phần Cao su Đồng Nai – Bảo Lâm) và 3.000 ha cao su Đồng Nai đã đâm chồi mọc rễ ở tỉnh Kratié-Campuchia.(Công ty Cổ phần Cao su Đồng Nai – Kratié Campuchia)
Nếu như 10 năm đầu sau giải phóng (1975-1985) sản lượng mủ cao su Đồng Nai đã đạt tới non 200 ngàn tấn, nhưng đã chiếm đến 50% tổng sản lượng toàn ngành.Song hiện nay với đà phát triển của cao su Việt Nam được trồng rộng khắp đất nước thì cao su Đồng Nai cũng chiếm tới 10% sản lượng toàn ngành.
Đội ngũ lao động của Cao su Đồng Nai thật là hùng hậu, gần 15 ngàn người.Trong đó lao động nữ chiếm 47,3%, dân tộc ít người là 3%.Khu vực trực tiếp sản xuất kinh doanh có 14 ngàn lao động,chiếm tỷ lệ 95,4%.Trong đó lao động khai thác là hơn 10 ngàn người, kiến thiết cơ bản 1075 người, chế biến có 342 người, quản lý phục vụ có 2073 người. Tổng công ty có 1 xí nghiệp Chế biến sản phẩm, quản lý 5 nhà máy sơ chế mủ cao su với công suất ổn định tư 40.000 đến 47.000 tấn/năm.
                                                ***

Trong Suy nghĩ và nhớ lại của ông Lê Sắc Nghi có một đoạn:
“Do có Đảng Cộng sản,có phong trào đấu tranh buộc chúng phải thay đổi một số chính sách quản lý, nhưng việc đánh đập công nhân vẫn giữ nguyên như cũ.Từ 4 giờ sáng,(giờ điểm danh) cho đến 5 giờ chiều lúc nào tôi cũng thấy xu,cai,xếp đánh dân.Thùng dơ:Đánh. Dao lụt: Đánh.Giao mủ trễ:Đánh…Sáng ra, cai phải đi lãnh roi chiều về nộp roi cho chủ Tây. Cây roi nào không cùn thì cai quản phải nằm xuống cho xếp đánh.Cai đánh đục, đục đánh vào công nhân.Ăn uống thiếu.Ở không có vệ sinh, bị tra tấn đánh đập, nạn bệnh dịch, sốt rét, thương hàn, ghẻ lở gây ra chết hàng loạt công nhân. Làng tôi có ngày có đến 4 công nhân đào huyệt,hai xe bò liên tục kéo xác người đi chôn.Nghĩa địa 97, núi Đỏ chật hết chỗ chôn người, chủ phải san ủi mặt bằng để chôn lớp khác…”
Ngày đó, phu cao su là bà con nông dân từ miền Bắc, miền Trung được chủ Tây tuyển mộ, thường gọi là phu công-tra.
Cố nhà thơ Tố Hữu đã có những câu thơ đi vào lịch sử cao su:

…Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ
          Con chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi mấy đồng xu
Năm xương vùi gốc cao su mấy tầng…
         
          Người phu công tra đến đây không còn tên họ mà chỉ được mang số thứ tự từ số 1 cho đến n. Năm 1914 những dân phu đầu tiên đến đồn điền Courteney (Bây giờ là nông trường Cao su Cẩm Mỹ) mang số 1 đến 31. Ông Bốn Mọi, Bốn là chỉ số 4, Mọi là vì ông lấy vợ người dân tộc Châu Ro nên chúng gọi một cách khinh miệt như vậy. Thậm chí có người đã làm đến chức cai vẫn không được mang họ và tên của mình như ông 3000.
          Nơi ở của phu là những lán trại được bọn chủ Tây cai quản theo chế độ trại lính. Mỗi làng (Tây gọi là section) chúng nhốt 400 người và bắt dân ta làm tôi mọi với hình thức bóc lột dã man hon cả thời trung cổ.
          Đã có những câu thơ ai oán:

          Kiếp phu đổ lắm máu đào
          Máu loang mặt đất, máu trào mủ cây
          Trần gian địa ngục là dây
          Đồn điền Đất Đỏ nơi Tây giết người

Tôi nhắc lại một đoạn lịch sử ngắn đau buồn để rồi so sánh với những gì mà cách mạng đã mang lại cho người công nhân cao su trong gần 40 sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng.Đó là người công nhân cao su thực sự làm chủ vận mệnh của mình với tất cả các quyền con người được Hiến pháp bảo hộ.
          Đó là những thành tựu mà Tổng Công ty Cao su Đồng Nai đã thu hái được: 100% nhà ở của cán bộ, công nhân cao su Đồng Nai đã được ngói hóa.Và bên trong những ngôi nhà ấy có đầy đủ tiện nghi cho cuộc sống hôm nay.Tiêu chí tối cần thiết cho đời sống nông thôn là điện, đường, trường, trạm thì ở đây đã đáp ứng được.Ở mỗi nông trường đều có đủ nhũng công trình công cộng: bệnh xá, trường học, khu vui chơi giải trí.Điện về tỏa sáng khắp vùng.Những con đường nắng bụi mưa lầy đã được trải nhựa phẳng lỳ, êm thuận.

                                      ***
Giờ đây, Tổng công ty Cao su Đồng Nai hướng tới mục tiêu: Dân giàu nước mạnh bằng cách đa dạng hóa ngành nghề (không còn đơn giản là việc trồng trọt và chăm bón, khai thác cây cao su).Các loại hình dịch vụ thương mại như thương nghiệp bán buôn, sản xuất các sản phẩm bằng hạt PE, các sản phẩm bằng nguyên liệu cao su, sản xuất bao bì và các sản phẩm mộc gia dụng, dụng cụ thể thao… được mở ra.
Tổng công ty còn mở rộng các dịch vụ vận tải, xây dựng dân dụng và công nghiệp, giao thông, xay dựng cơ sở hạ tầng cụm dân cư, kinh doanh địa ốc, xây lắp thủy lợi, khai thác chế biến các loại đá xây dựng, chế tạo gia công sửa chữa thiết bị cơ khí, thiết kế thi công hệ thống điện sinh hoạt, công nghiệp.Tổng công ty kêu gọi sự hợp tác đầu tư với mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Phát huy truyền thống vẻ vang là Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới, Tổng công ty Cao su Đồng Nai không ngừng phấn đấu vươn lên để xứng đáng là một đơn vị mạnh mang tính ổn định và là hình mẫu của ngành cao su Việt Nam.
 Và đây là bức tranh chấm phá xứ sở “vàng trắng”Đồng Nai:
Màu xanh cao su bát ngát
         Bởi đất bazan nặng tình
Dòng vàng trắng sáng lung linh
Nông trường đỏ tươi ngói mới
           
                              Biên Hòa, mùa World Cup Brasil 2014
                                                          Tháng 6-2014
                                                         















Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014

125. Hà Nội nỗi nhớ

HÀ NỘI NỖI NHỚ
           (Viết nhân kỷ niệm 60 năm giải phóng thủ đô)
Cột cờ Hà Nội

Ngày 10/10/1954. Hành quân bộ suốt 1 tháng 20 ngày,sau ngày khóa tuyến (20 -8),  Trung đoàn 271 của Quảng Trị về đến địa điểm tập kết tại làng Tiên Điền,quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, bên hữu ngạn Sông Lam, Cửa Hội.

Phái đoàn Chính phủ gồm các ông Bồ Xuân Luật, bộ trưởng không bộ (ministre sans portefeuille), ông Lê Nam Thắng, tư lệnh Liên khu IV, bà Lê Thị Xuyến, chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và một vài thành viên khác, trong đó có nhạc sĩ Tô Hải về thăm Trung đoàn.

Vài hôm sau, một số chiến sĩ Trung đoàn  có trình độ văn hóa cấp 2 trở lên được triệu tập cho đi học, trong đó có tôi. Lớp kế toán cấp tốc chỉ có học trong thời gian 3 tháng (từ giữa tháng 10 đến cuối tháng 12 thì bế giảng).Lớp học được tổ chức tại Chợ Liệu, Kim Liên, Nam Đàn, quê của Bác Hồ. Chúng tôi được phân công về công tác tại Chi sở Mậu dịch đặc biệt tỉnh Thanh Hóa, lúc này đóng ở Bái Thượng, huyện Thọ Xuân. Đây là nơi Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa Lam Sơn. Sau 10 năm nằm gai nếm mật ông cùng với các chiến hữu và nhân dân Đại Việt đuổi hết giặc Minh ra khỏi bờ cõi, dựng nên nhà Hậu Lê. Lê Thái Tổ mang gươm vê kinh đô Thăng Long trả gươm báu lại cho Thần Kim Quy tại hồ Lục Thủy. Từ đây Thăng Long có Hồ Hoàn kiếm hay  còn gọi là Hồ Gươm.
Ông Hà Uyên là Chi sở trưởng, sau này ông ra Hà Nội giữ chức thứ trưởng Bộ Nội Thương. Thời kỳ ông Đỗ Mười làm bộ trưởng và ông Hoàng Quốc Thịnh làm thứ trưởng thường trực. Khoảng mùa hè năm 1955 (lúc này bọn Pháp vẫn còn đóng tại Hải Phòng, theo Hiệp nghị Genève còn được ở lại miền bắc 300 ngày), Đến ngày 15 tháng 5 thì tên thực dân cuối cùng rút khỏi  miền bắc. Chúng tôi lại được chọn đi học ở Trường Trung cấp Thương nghiệp Hà Nội.Trường dựng vội bằng tranh tre nứa lá đặt tại 66 đường Hoàng Hoa Thám.Phía trước là làng hoa Ngọc Hà, có nhà máy bia Ô-mèn của Pháp, sau đổi tên là nhà máy Bia Hà Nội, phía sau là Xí nghiệp Tàu điện, nhà máy thuộc da Thụy Khuê.
Thế là từ đó, tôi trở thành công dân Thủ đô cho đến khi giải phóng hoàn toàn miền nam Việt Nam.(1955 – 1975) mới về Đồng Nai công tác.

Hà Nội đã trở thành quê hương thứ hai của tôi.Tôi lấy vợ là người Hà Nội chính kinh tên là Nguyễn Thúy Minh, con của nhà tư sản dân tộc Nguyễn Viết Điền. Ông bà Nguyễn Viết Điền vốn người làng Ước Lễ huyện Thanh Oai ra làm ăn ở Hà Nội từ mấy đời trước.Ông bà có cửa hiệu Cơm tám giò chả Tân Việt nổi tiếng ở ngôi nhà 60 phố Huế (xế Chợ Hôm) và được đưa vào diện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh.Người con gái cả của ông bà tên là Nguyễn Thị Ngọc Bích - hoa khôi Hà thành một thời - kết hôn với "cậu ấm kháng chiến" Cao Minh Thanh từ núi rừng Yên Bái về tiếp quản Thủ đô. Cuộc tình này chỉ kéo dài dược 18 ngày hết tuần trăng mật. Cậu bị bắt vì tội biển lận. Tờ báo tư nhân Thời Mới của ông chủ bút Hiền Nhân đăng feuilleton (bài đăng nhiều kỳ) Đám cưới 20 triệu và nhà viết kịch Trần Huyền Trân có kịch bản Ngược chiều. Vợ chồng chúng tôi sinh được ba đứa con.

 Tôi sống, học tập, trưởng thành và trở thành nhà báo, nhà thơ của Hà Nội với nhiều bút danh: Xuân Bảo, Trực Ngôn, Tú Sừng…Hà Nội trong tôi mang đậm dấu ấn của một thời khốc liệt và hào hùng của những năm đánh Mỹ. Vì vậy, khi Hà Nội chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, tôi và nhà thơ Võ Nguyện đã hoàn thành công trình Thơ mang tựa đề là  Trời Nam thương nhớ, lấy ý từ bài thơ Nhớ Bắc của nhà thơ-chiến sĩ (còn được tôn vinh là Thi tướng) để dâng lên Đức Lý Thái Tổ.

Thế mà đã bốn năm trôi qua, nay Hà Nội lại bước vào kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng Thủ đô. Là giai tế Hà Nội tôi nghĩ mãi không có món quà nào dâng tặng Hà Nội thân yêu nên viết bài Tản văn này, coi đó là chút tình nhớ và thương gửi về nơi mà đã cưu mang tôi suốt một thời trai trẻ.
Ngàn lần yêu thương nhớ về Hà Nội!

Chùa Diên Hựu thường gọi Chùa Một cột ỏ Thăng Long

 Dưới đây là bài viết:

LÝ CÔNG UẨN – MỘT KIẾN TRÚC SƯ ĐÔ THỊ VĨ ĐẠI

“Lý Công Uẩn quê ở châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang, (nay thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh). Mẹ là họ Phạm, đi chơi chùa Tiên Sơn, cùng với người thần giao cấu rồi có chửa, sinh ra vua vào ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình, nhà Đinh năm thứ 5 (974).Làm quan nhà Lê được thăng dần lên chức Điện tiền chỉ huy sứ. Đến khi Ngọa triều Lê Long Đĩnh băng hà.Lý Công Uẩn tự lên ngôi vua, đóng đô ở Thăng Long, ở ngôi 18 năm, thọ 55 tuổi, băng ở Điện Long An, chôn ở Thọ lăng”. (Đại Việt sử ký toàn thư – Kỷ nhà Lý – trang 257).

Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đại xá thiên hạ. Đó là việc làm thuận ý trời, hợp lòng người, biểu hiện lòng nhân nghĩa của một  đấng minh quân. Với tầm nhìn của một bậc cao minh, vua thấy đất Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác nên đã xuống chiếu nói rằng ( Đời sau thường gọi là Thiên đô chiếu).

Nguyên văn chữ Hán.
                                        THIÊN ĐÔ CHIẾU *

Tích Thương gia chỉ Bàn Canh ngũ thiên.Chu Thương đãi Thành Vương tam tỉ.Khởi Tam đại chỉ số quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cấu hữu tiện triếp cái. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại bất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn,vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chí, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc  Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hưởng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thân bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khổn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà ?



Bản dịch quốc ngữ:
                                         CHIẾU DỜI ĐÔ

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa,làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giầu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tốn hao, muôn vật không hợp, Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực của trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

*-Thiên đô chiếu – Chiếu dời đô dài 214 chữ, do vua Lý Thái Tổ tự tay viết và ban chiếu vào mùa xuân năm 1010 để chuyển kinh đô Đại Cồ Việt từ Hoa Lư tỉnh Ninh Bình ra thành Đại La, Hà Nội ngày nay.
Bản dịch sang tiếng Việt là của Viện Khoa học – Xã hội Việt Nam in trong Đại Việt sử ký toàn thư.NXB Khoa học – Xã hội ,Hà Nội – 1993.

Thiên đô chiếu vỏn vẹn 214 từ nhưng đã toát lên một yếu tố hết sức quan trọng. Đó là thành Đại La ở giữa khu vực trời đất, là nơi thắng địa của nước Việt ta. Thật đáng tự hào cho một thủ đô có sức sống lâu bền mà không phải nước nào trên thế giới đều có sức sống đó.
1000 năm! Phải, 1000 năm oai hùng và bi thương, thăng trầm để chúng ta có ngày hôm nay! Hà Nội, thủ đô hòa bình, tượng trưng cho lương tri và phẩm giá con người!

Lý Công Uẩn đã có một tầm nhìn của một kiến trúc sư đô thị vĩ đại.Một đô thị với 36 phố phường sầm uất, có nền văn hiến đã in dấu ấn lên mọi thời đại.Nơi đây có Bút Tháp, Đài Nghiên, có trường đại học đầu tiên (1070) do nhà Lý sáng lập. Văn miếu Quốc tử giám thờ Đức Vạn thế sư biểu Khổng Tử và thờ người thầy dạy học Chu Văn An của dân tộc Việt Nam. Nơi đây là nơi đã đào tạo ra hàng trăm, hàng trăm bậc hiền tài. Thân Nhân Trung đã đề bia:

Hiền tài quốc gia chi nguyên khí
.Nguyên khí thịnh tác quốc thể cường dĩ

Hoàng thành Thăng Long vừa được khai quật mấy năm vừa qua đã chứng minh rằng. Nước Việt đã từng có một kinh đô với kiến trúc cổ, có Điện Kính Thiên, Thái Hòa…Hoàng thành là nơi vua và triều  đình làm chốn triều nghi. Những mảnh gốm xưa, gạch cổ, rồng đá (thời Lý) còn lại là vật chứng cho một thời hoàng kim của các vua chúa.
Nơi đây có thế rồng chầu hổ phục, đất đai bằng phẳng dựa vào thế núi hình sông. Có địa hình chiến lược phòng thủ khi có giặc ngoại xâm. Bởi thế, ba lần chiến thắng Nguyên-Mông, bao lần đối mặt với quân thù Bắc phương thì có bấy nhiêu lần vua tôi rút khỏi Thăng Long, nhưng rồi “giặc đến Bồ Đề, giặc lại tan”.
Chiến công hiển hách  của vua Quang Trung Nguyễn Huệ đánh tan hai mươi vạn quân Thanh xẩy ra ngày 30 tháng 1 năm  1789. Xác giặc chất thành đống gò Đống Đa. Tôn Sĩ Nghị  chui ống đồng trốn về nước.
Cành đào báo tiệp của Quang Trung từ Thăng Long gửi gấp về Phú Xuân cho Ngọc Hân trong ngày Tết Kỷ Dậu  là ca khúc khải hoàn của một nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

Sau gần hai trăm năm chiến thắng Ngọc Hồi, ngày 19 tháng 12 năm 1946 Hà Nội lại vang lên lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.Người Hà Nội tạm xa thủ đô yêu dấu để cùng với cả nước làm nên cuộc trường kỳ kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ. Để rồi có ngày mùng mười tháng mười, Hà Nội sạch bóng thực dân Pháp xâm lăng:

Rầm rập quân reo năm cửa ô
Từ đây Hà Nội sạch quân thù…
(Thơ Xuân Bảo)

Nhân kỷ niệm 60 năm giải phóng thủ đô, xin gửi về Hà Nội thân yêu bài thơ:

 THẾ DẤT RỒNG BAY

Đại La thế đất dáng rồng bay
Hạo khí non sông tụ xứ này
Hổ phục oai phong nơi núi Tản
Rồng chầu lẫm liệt chốn hồ Tây
Xuất quân Kỷ Dậu, Tàu tan tác
Chiến thắng Điện Biên, Pháp chạy dài
Giấc mộng Thăng Long rồng gặp nước
Diệu kỳ Hà Nội chính là đây.
                                                  Biên Hòa, ngày 9 tháng 10 năm 2014
                                                                 Nhà thơ Xuân Bảo


   

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

124.MỘT THOÁNG BALI

MỘT THOÁNG BALI
                                                Ký sự

Chiếc máy bay Boeing 777 của hàng không Singapore đưa chúng tôi đi từ sân bay Tân Sơn Nhất, sau một giờ hai tám phút đã đáp xuống sân bay Changi – một sân bay hiện đại nhất châu Á.

Sau ba tiếng đồng hồ chờ quá cảnh, chúng tôi lại lên máy bay nhằm thẳng phương nam để tới thủ phủ Denpasar của Bali.Đoạn bay này dài 1672 km, toàn bay trên biển. Ở độ cao gần 10 nghìn mét, từ khung cửa sổ máy bay nhìn xuống chỉ thấy những đám mây trắng xốp như bông và màu xanh nước biển. Máy bay bay hơn hai giờ mới hạ cánh.
Máy bay đáp xuống  phi trường lúc 19 h, giờ địa phương, sớm hơn múi giờ Việt Nam một tiếng. Thành phố Denpasar đã lên đèn. Sân bay có rất nhiều máy bay cánh quạt cỡ nhỏ cho đường bay nội địa và cũng có đủ đường băng cho những loại máy bay phản lực cỡ lớn như Boeing 777, Air Bus…hạ cất cánh. Chạy dài suốt mặt tiền nhà ga trung tâm này là dòng chữ: BANDAR UDARA NGURAH RAI BALI. Người Bali dùng quốc ngữ của mình ( một thành tựu hơn 300 năm khai hóa của người Hà Lan ).Nếu dịch ra tiếng Pháp thì là NGURAH RAI INTERNATIONAL AIRPORT ( Sân bay quốc tế Ngurah Rai).
                            Indonésia là một đất nước có tới ba nghìn hòn đảo. Có mấy trăm đảo chưa có người cư trú.Bali là một trong 33 tỉnh của Indonésia, nằm phía cực tây của quần đảo Nusa Tenggara, nằm giữa đảo Java về phía tây và đảo Lombok về phía đông.Diện tích là 5632 kilômét vuông và dân số hơn 3 triệu người. Dân tộc bản địa, người Bali chiếm 89%. Tôn giáo chính là đạo Hindu, chiếm 93,18%. Các tôn giáo khác chỉ không đầy 8% gồm Phật giáo 0,64%, Kitô giáo  0,72%, Đạo Tin lành o,66% và Hồi giáo 1,79%.
                              Hình thế Bali gần giống như một con cá, đầu chúc về phía đông, đuôi ngửng lên ở phía tây. Ngọn núi Agung có độ cao 3142 mét như con mắt của đảo.Tây Bali có Vườn Quốc gia mang tên West Bali National Park, chiếm một phần ba diện tích toàn đảo.Bali có rất nhiều núi lửa: Núi lửa Bromo,Semeru và klamari. Những núi lửa thôi phun trào để lại những cái hồ tuyệt đẹp. Dân cư Bali sống vòng quanh đảo, nơi có nhiều bờ biển và chủ yếu làm nghề khai thác thủy sản biển. Núi rừng còn mang nặng tính hoang sơ và rừng nguyên sinh hầu như nguyên vẹn. Với chiều dài 300 năm đô hộ, thực dân Hà Lan cũng chỉ mới khai thác rừng với nguồn nguyên liệu đinh hương là chủ yếu. Và cái được của người dân Indonésia là có chữ viết bằng mẫu tự la-tinh. Ngày 17 tháng Tám năm 1945, cách mạng Indonésia lật đổ chế độ thực dân Hà Lan và tuyên bố độc lập.
                              Người anh hùng dân tộc Sukarno tên là Kusno Sosrodihardja sinh ngày 1-6-1901 và mất ngày 21 -6-1970.Ông được nhân dân Indonésia tôn vinh gọi là Bung (Anh cả).Ông làm tổng thống đầu tiên từ năm 1945 cho đến năm 1967. Trong chuyến thăm chính thức của Bác Hồ tới Bandung, tổng thống Sukarno đã có một sự trọng thị rất đáng nể và rất cảm động. Ông đã tự tay che dù cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và gọi Bác là Bung Ho.
                                                                  ***

                                  Một đoạn bờ biển Bali.
                            
                             Có thể nói, Bali là là một xứ sở của đền đài. Lịch năm Hindu chỉ có 210 ngảy thì có tới 198 ngày là ngày lễ. Nhà dân có đền riêng. Làng xã có đền của làng xã, quận huyện có đền của quận huyện. Bali có tới 20 nghìn ngôi đền.
                             Chúng tôi đến đây đúng vào dịp Tết cổ truyền của người Bali. Khắp mọi nơi treo đèn kết hoa. Đáng chú ý là nơi nào cũng thấy những con rồng kết bằng tàu và lá dừa. Indonésia  là vương quốc của dừa! Trên ngọn là đầu rồng, thân rồng là toàn bộ cành dừa uốn cong mình xuống như đang bay lượn giũa không trung bao la của trời biển. Tôi bất giác nhớ về  những năm đầu mới giải phóng thủ đô – Tôi nhớ Đoàn Nghệ thuật Indonésia sang thăm và biểu diễn tại Hà Nội. Và nhớ đến bài hát Xing xing xô âm điệu dạt dào như sóng biển. Tôi nhớ bài hát Hello Bandung và đã từng hát:
                                      …Quê hương Nam Dương nằm nghe tiếng sóng reo quanh…
                             Chúng tôi được bố trí ở tại một resort trong vịnh nhỏ Benoa Harbour. Nhìn vào bản đồ,cái thành phố nhỏ này giống như cái bụng cá của Bali. Bali được mệnh danh  là một trong những hòn đảo có nhiều bãi biển đẹp, là đảo Thiên đường xanh, là viên ngọc bích, là đảo Thần có thể sánh với Hawai. Người nước ngoài, nhất là Australia đổ xô đến đây để đầu tư khai thác du lịch. Có rất nhiều Restaurant của nhiều nước như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan…Họ đến mang theo ẩm thực truyền thống của dân tộc mình.
                             Bali nổi tiếng vì có nền nghệ thuật phát triển cao, bao gồm các ngành điêu khắc, hội họa, ca vũ nhạc…Nghề truyền thống của Bali là nghề thuộc da và nghề dệt vải cổ truyền. Nhiều sản phẩm từ da thuộc, từ vải… rất đẹp và tinh xảo.
                             Bali thờ Thần lúa Dewi sri Ubud. Họ cũng có ruộng bậc thang như ở miền Tây Bắc Việt Nam. Tượng Hải thần (Thần Biển cả) nằm giũa trung tâm thành phố hết sức hoành tráng và mỹ lệ. Đây là niềm tự hào của Bali.Đền Tanak Lot thờ Hải thần nằm trên một hòn đá to trồi lên khỏi mặt biển hết sức xinh đẹp, cách trung tâm thành phố 45 phút ôtô. Nó na ná như đảo nhỏ Chùa Bà ở Vũng Tàu.Triều lên thi ra đảo bằng thuyền. Nước xuống thì lội bộ. Đây là nơi bà Mégawati Sukarnoputri, con gái của  cố tổng thống  Sukarno – người đã kế nghiệp cha làm tổng thống Indonésia một nhiệm kỳ. Bá  đã cho dựng bia kỷ niệm danh thắng này.  
 Đền Tanah Lot

                   
                             Đến Bali mà không ra thăm đảo Nusa Lembongan là một thiệt thòi lớn.Chúng tôi lên tàu Bounty Cruise, một loại tàu chở khách 5 sao. Chỉ mấy chục phút tàu đã cập bến. Tại đây có đủ trò chơi biển: lướt ván, lặn biển, dù bay, trượt nước…Ngay tại trên bờ  bến cảng có một nhà hàng lớn. Đó là Restaurant Beach Club. Các món ăn ở đây rất ngon bởi vì hải sản toàn là còn đang tươi sống do những ngư dân của đảo đánh bắt giao ngay trong ngày. Kiểu thưởng thức do nhà hàng chế biến là kiểu barbecue – nướng –tôm nướng, cá nướng, mực nướng và các loài nghêu sò ốc hến cũng nướng.Sau dùng bữa thực khách được ăn tráng miệng bằng trái cây Sala. Sala là đặc sản của Bali, khi chin có vỏ màu nâu, múi màu trắng, nhai nghe sần sật. Bởi vậy khi về, ai cũng mua dăm ba ký về làm quà.
                             Đảo Lembonga có làng nghề chuyên trồng rong biển xuất khẩu. Đứng trên cao nhìn xuống một vịnh nhò. Đáy toàn cát trắng làm nổi lên những ô trồng rong. Cũng vuông vắn như những thửa ruộng lúa trên đất liền, nhưng không có bờ vùng bờ thửa mà chỉ là những đoạn cây rừng khá thẳng được buộc chặt vào nhau và neo xuống biển để phân chia diện tích cho từng hộ. Dân tự sắp xếp lấy đáy biển riêng của mình, nhưng không bao giờ nhầm lẫn, không có tình trạng lấn chiếm của nhau. Nhìn những người dân thu hoạch rong mà thấy thương. Họ chèo thuyền ra vịnh, đúng nơi “ khu ruộng rong” của mình, neo thuyền lại và lặn xuống, vớt lên cho vào thuyền. Phân loại  cọng già để riêng, cọng non đem phơi khô. Rong tươi màu nâu đến khi khô chuyển sang màu trắng. Cứ 10 ký rong tươi thì được 1 ký rong khô. Giá 1 ký rong khô là 12 rupiad, bằng 24 nghìn đồng tiền Việt. Có nhiều vị mua rong đem về Việt Nam. Tôi lại nghĩ đến con số 3200 km bờ biển nước ta. Và nghề trồng rong chưa thật sự đem lại nguồn lọi lớn cho quốc gia?!Mấy đứa cháu tôi thường mua rong khô Hàn Quốc ở siêu thị, giá khá đắt, trong khi rong biển Việt Nam cũng có bán đầy ở các chợ ven biển nhưng it người mua?
                                                                   ***
                              Tôi được mời tham gia đêm Gala Dinner tại bờ biển trong khuôn viên của resort  Grand Mirage. Tôi đã đọc hai bài thơ ngắn: Chào em, cô gái Bali và Đứng trước biển. Các ca sĩ Bali hát những bài hát đặc trưng của xứ sở Thiên đường xanh. Phần nhiều là dân ca nghe rất êm ái và thiết tha.Nhiều trò chơi dân gian được biểu diễn, đem đến cho du khách những giây phút rạo rực khó quên.
                             Tạm biệt Bali nhé! Hẹn gặp lại!

                                                                             Xuân Bảo
             
                             


Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

123. Chúc văn Tưởng niệm Ngày giỗ Đại thi hào Nguyễn Du

Chúc văn

LỄ TƯỞNG NIỆM 194 NĂM NGÀY GIỖ ĐẠI THI HÀO  NGUYỄN DU (16-9-1820 –16-9-2014).

Trước linh vị kính thưa!

                                         Sóng cả Nhĩ Hà                                
                                         Đất hùng Nùng Lĩnh

Phường Bích Câu sinh đại thi hào
Đất Thăng Long dấu son thiên uyển
 Nguyễn Tiên sinh dòng dõi nho gia
Kim Vân Kiều thuộc hàng liệt truyện
Nay Hội Kiều học có Văn phòng tại Đồng Nai
Giới văn nhân khắp nơi nơi tụ về hội kiến
  Hoa tươi tinh khiết,cúi đầu bái lạy,dâng lên Ngài trầm ngát hương thơm
  Lễ bạc lòng thành,nghiêng mình kính cẩn,soạn đôi vần chúc văn khấn niệm

Nhớ linh xưa:
                             Học rộng tài cao
                             Lầu thông kinh điển

                             Làng Canh Hoạch nơi đất tổ quê nhà
                            Gốc tích lâu đời một dòng họ Nguyễn
                             Mẹ, cô thôn nữ  thôn Hoa Thiều xứ quan họ Bắc Ninh  
                             Cha, quan tể tướng huyện Nghi Xuân được sinh từ Hà Tĩnh.

          Gia biến:

                   Nguyễn Huệ khởi binh đưa quân ra Bắc Hà
                   Lấy cớ Phù Lê quyết một phen diệt Trịnh
                   Anh cả Nguyễn Khản bị khép tội mưu phản Trấn Sơn Tây
                   Một mình Nguyễn Du tìm đường tạm lánh  vào thành Gia Định
                  
                   Cuộc đào thoát không thành
                   Nằm nhà giam ba tháng
                   Sau đó được tha về lại Tiên Điền
                   Nguyễn Du viết “My trung mạn hứng”*
           
        Thời thế đổi thay:

                   Mùa thu Nhâm Tuất, Gia Long diệt nhà Tây Sơn
                   Nguyễn Du được trọng dụng bổ làm quan Tri huyện
                   Năm Quý Dậu cử làm Chánh sứ sang Triều Thanh
                   Đây là lúc Nguyễn Du có thời gian tiếp cận
                    Đoạn trường tân thanh - Thanh Tâm Tài Nhân
                   Tiểu thuyết chương hồi phân khúc phân đoạn

                  
       Kiệt tác Truyện Kiều:

                   Áng văn chuyển thể, hàng hàng châu ngọc,điệu hợp cung thương
                   Phương ngôn ngạn ngữ  tao nhã quê mùa,ngôn từ  xinh xắn
                    Thúy Kiều tự cổ chí kim tài sắc không hai, xếp hạng giai nhân
         Người đẹp văn hay thiên hương có một,đây khúc Nam ai tuyệt xướng        

     Vinh dự thay!

                   Đại thi hào Nguyễn Du được xếp vào hàng thế giới danh nhân
                    Văn chương Việt Nam có tác phẩm đệ nhất Kim Vân Kiều truyện

          Năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới Quyết  nghị tổ chức vinh danh  
          200 năm Ngày sinh Nguyễn Du, bốn biển năm châu tưng bừng kỷ niệm.

     Giờ này chúng con:  

          Nguyện cùng nhau chăm sóc Hội Kiều học Viêt Nam kết nụ đơm hoa
          Thề hiệp sức tôn vinh xây dựng Làng Thơ Kiều lâu bền vững tiến.
          Noi gương Đại thi hào nếp học hanh thông
          Chăm sóc tốt Vườn Kiều nguồn thơ hãnh diện.

Thượng hưởng!

                                                          Phụng soạn: Mai Lĩnh Sơn Xuân Bảo

                                         Biên Hòa, ngày 14 tháng 9 năm 2014,
                                         nhằm ngày 21 Mậu Tý, Tháng Tám Quý Dậu, năm Giáp Ngọ.

*---

Cảm hứng trong tù