Trang

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2021

349.Ông ngoại tôi lâm vào canh phá sản do thực dân Pháp

 

Câu chuyện thứ 2.-(Kỳ 3)- Thời 9 năm ông ngoại tôi lâm vào cảnh phá sản do thực dân Pháp

 

Trịnh Công Sơn có bài hát:

“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây.”

                   Cuộc xâm lăng lần thứ nhất là ngày 1 tháng 9 năm 1858.

Sự thực thì “nô lệ giặc Tây” không tới một trăm năm, kể từ tiếng súng xâm lăng nổ ra trên  bờ biển bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng ngày 01 tháng 9 năm 1858 do liên quân Pháp và Tây –ban- nha gây ra.

Người chỉ huy hạm đội Pháp là Phó Đô đốc Giơnuiy (R. de Genouily), đã từng chinh chiến nhiều năm trên chiến trường Nga và Trung Quốc. R. de Genouily có trong tay 14 tàu chiến và 3000 quân. Ngoài ra trên mặt trận Đà Nẵng còn có 500 quân Tây Ban Nha do đại tá Landarôt (lanzarotte) chỉ huy, mà một số sách lịch sử đã gọi là “liên quân Pháp – Tây Ban Nha”. Quân Tây Ban Nha có mặt trong cuộc chiến tranh xâm lược vì họ cũng bị kích động “trả thù” cho các giáo sĩ dòng Đa Minh của họ bị Tự Đức sát hại.

Rạng sáng 1-9-1858, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư, quân Pháp đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà. Quân triều đình bắn trả, nhưng do vũ khí lạc hậu và không được luyện tập thường xuyên nên kém hiệu quả, không thể ngăn chặn được Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Vũ khí hiện đại đã tạo cho liên quân Pháp-Tây Ban Nha lợi thế ngay từ đầu, các đồn An Hải và Điện Hải (Trà Sơn) bị vỡ, quân triều đình phải lui về Hòa Vang.

Cuộc xâm lăng thứ 2 là vào ngày 23 tháng 9 năm 1945.

 Ngày 2 tháng 9 năm 1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập. Chỉ 21 ngày sau, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam lần thứ 2. Vậy là, người dân Sài Gòn, người dân Nam bộ chỉ được hưởng không khí độc lập đúng 21 ngày.

Ngày 2-9-1945, Nam bộ tổ chức mít tinh chào mừng Ngày Độc lập. Hơn 1 triệu đồng bào từ các tỉnh, thành phố đã nô nức tề tựu về Sài Gòn để được chào mừng Ngày Độc lập

                  “Quốc dân hãy sẵn sàng chiến đấu!... Đứng lên! Ngày độc lập bắt đầu từ nay! Tiến tới, vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi! Không một thành lũy nào ngăn nổi chí của muôn dân trên đường giải phóng!”.

 

                Kết thúc  hơn 87 năm nô lệ giặc Tây

 

                 Ngày 9 tháng 3 năm 1945, là ngày Pháp bị Nhật hất cẳng khỏi Đông Dương. Tính ra, từ ngày 1 tháng 9 năm 1858 đến ngày 9 thảng năm 1945, thực dân Pháp đã đô hộ nước ta 87 năm, 5 tháng 9 ngày.                                              Thực dân Pháp mất Đông Dương vào tay Nhật Bản. Như thế Pháp chỉ đô hộ Việt Nam chỉ có hơn 87 năm và mấy tháng, mấy ngày.

 

 

Gọi là bản A sửa 19-10-2014         

Xung đột    Đông Dương

Đối phương          Kết quả

Khởi nghĩa Trương Định (1859 - 1864)

Lực lượng Trương Định ở Nam Kỳ

  Đế chế Pháp

Thất bại

•        Khởi nghĩa bị đàn áp

Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân

(1859 - 1874)

Lực lượng Nguyễn Hữu Huân ở Nam Kỳ

        

Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực

(1861 - 1868)

Lực lượng Nguyễn Trung Trực ở Nam Kỳ

        

Khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 - 1873)

Lực lượng Trần Văn Thành ở Nam Kỳ

        

Chiến tranh Pháp-Thanh

(1884 - 1885)

  Nhà Thanh

Hỗ trợ:

•        Nhà Nguyễn

•          Quân Cờ Đen

  Cộng hòa Pháp

Pháp chiến thắng

•        Hòa ước Thiên Tân 1885

•        Nhà Thanh công nhận Đại Nam thuộc quyền bảo hộ của Pháp

Khởi nghĩa Yên Thế (1884 - 1913)

Lực lượng Hoàng Hoa Thám ở Bắc Kỳ

  Cộng hòa Pháp

  Liên bang Đông Dương

  Nhà Nguyễn

Thất bại

•        Khởi nghĩa bị đàn áp

Phong trào Cần Vương (1885 - 1896)

Triều đình kháng chiến Hàm Nghi

Lực lượng Phan Đình Phùng ở Trung Kỳ

Lực lượng Đinh Công Tráng ở Trung Kỳ

Lực lượng Mai Xuân Thưởng ở Trung Kỳ

Lực lượng Tống Duy Tân ở Trung Kỳ

Lực lượng Nguyễn Thiện Thuật ở Bắc Kỳ

Lực lượng Đốc Ngữ ở Bắc Kỳ

Lực lượng Đèo Văn Trị ở Bắc Kỳ

  Cộng hòa Pháp

  Liên bang Đông Dương

  Nhà Nguyễn

Thất bại

•        Hàm Nghi bị bắt

•        Phong trào tan rã

Chiến tranh Pháp-Xiêm (1893)

  Cộng hòa Pháp

  Liên bang Đông Dương

  Xiêm La thời Nhà Chakri

Pháp chiến thắng

•        Lào sáp nhập vào Liên bang Đông Dương

Phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ

(1908)        Nhân dân Trung Kỳ

  Cộng hòa Pháp

  Liên bang Đông Dương

  Nhà Nguyễn

Thất bại

•        Phong trào bị dập tắt

Hà Thành đầu độc (1908)

Binh lính và đầu bếp nổi dậy ở Bắc Kỳ

  Cộng hòa Pháp

  Liên bang Đông Dương

Thất bại

•        Quân nổi dậy bị bắt giam và xử tử

Khởi nghĩa N'Trang Lơng (1911 - 1935)

Các bộ lạc Tây Nguyên

         Thất bại

•        Khởi nghĩa bị đàn áp

Phong trào Quang phục Quân

(1913 - 1925)

  Việt Nam Quang phục Hội

  Việt Nam Quang Phục quân

  Cộng hòa Pháp

  Liên bang Đông Dương

  Nhà Nguyễn

Thất bại

•        Phong trào bị dập tắt

Phong trào hội kín Nam Kỳ

(1913 - 1916)

Lực lượng Phan Xích Long ở Nam Kỳ

  Liên bang Đông Dương

Thất bại

•        Phong trào bị dập tắt

Khởi nghĩa Thái Nguyên (1917)

Nghĩa quân Thái Nguyên

         Thất bại

•        Khởi nghĩa thất bại

Phú Riềng Đỏ (1930)

  Đảng Cộng sản Việt Nam

         Thất bại

•        Pháp đã tiến hành bắt giữ tất cả các lãnh đạo của phong trào Phú Riềng

Khởi nghĩa Yên Bái (1930)

  Việt Nam Quốc dân quân

  Cộng hòa Pháp

•          Liên bang Đông Dương

•          Nhà Nguyễn

Thất bại

•        Lực lượng khởi nghĩa bị đánh bại

•        Đảng viên bị Pháp truy nã, giam cầm, lưu đày, hành quyết

Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931)

  Đảng Cộng sản Việt Nam

•        Xứ ủy Trung Kỳ

•        Tự vệ Đỏ

         Thất bại

•        Nhiều cuộc biểu tình tự vệ vũ trang kết hợp yêu sách chính trị, kết hợp đấu tranh bạo động và đấu tranh chính trị nổ ra.

•        Cuối cùng bị quân đội Pháp trấn áp và tan rã.

Chiến dịch Đông Dương (1940)

  Quốc gia Pháp

•          Liên bang Đông Dương

  Đế quốc Nhật Bản

•          Lục quân Đế quốc Nhật Bản

Thất bại

•        Nhật Bản chiến thắng

•        Nhật chiếm đóng Đông Dương

 

           QUÊ MẠ PHƯỜNG SÃI

 

                   Ngày Toàn quốc kháng chiến là ngay 19 tháng 12 năm 1946, nhưng trên thực tế cuộc kháng chiến 9 năm từ ngày Pháp trở lại xâm chiếm Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945 đến Hiệp nghị Jenève 20 tháng 7 năm 1954, kết thúc.

Cuộc Trường kỳ kháng chiến 9 năm- 1945 – 1954

Cuộc chiến đấu Vệ quốc thời 9 năm của Việt Nam là một cuộc chiến không cân sức giữa một bên là trang bị vũ khí đến tận chân răng: đại bác, xe tăng, tàu bay,súng trường, tiểu liên,trung liên và có đội quân thiện chiến với một bên là gậy tầm vông vạt nhọn, gậy tầy, lựu đạn, súng kíp và gươm giáo. Đội quân này có loại vũ khí vô địch là lòng yêu nước vô bờ bến!

 

Kinh thành Huế, tiếng súng xâm lược lần thứ 2.

Triều đình Hàm Nghi rút khỏi kinh thành, tiếp tục kháng chiến

Theo báo cáo của tướng De Courcy sáng ngày 5 tháng 7 cho Toàn quyền Đông Dương:

"Huế, ngày 5/7 vào lúc 3 giờ sáng. Phái bộ và Mang Cá bị bất ngờ tấn công bởi toàn bộ binh lực của Kinh thành. Toàn thể khu vực của Thủy Quân lục chiến bằng nhà tranh xung quanh Phái bộ đều bị đạn pháo và người đốt cháy. Tòa nhà phái bộ nguyên vẹn. Không có tổn thất gì đáng kể. Không có tin tức gì về Mang Cá là nơi đóng quân của tiểu đoàn 3 lính Phi châu. Kinh thành bị bốc cháy nhiều nơi; súng lớn và súng nhỏ nổ nhiều. Tôi nhìn theo hướng của hỏa lực, tôi chắc rằng địch đã bị đẩy lui. Tôi bảo vệ được căn nhà tranh đặt điện thoại. Tôi đã ra lệnh cho Hải Phòng đưa quân đóng ở đó vào. Tôi không thấy có gì đáng lo ngại.

De Courcy

Huế, ngày 5 tháng 7 vào lúc 11 giờ sáng".

  

Sáng ngày 23, vua Hàm Nghi rút lui khỏi Huế, xa giá nghỉ ở Trường Thi một lát rồi lên đường đi Quảng Trị. Nguyễn Văn Tường được lệnh ở lại thu xếp mọi việc. Trưa hôm ấy, ông nhờ Giám mục Caspard đưa ra gặp thống tướng De Courcy, ông Tường được đến trú tại Thương bạc viện và bị đại úy Schmitz coi giữ. Pháp buộc ông ta nội hai tháng phải thu xếp cho yên mọi việc. Ông Tường gửi sớ ra Quảng Trị xin rước Tam cung[về lại kinh thành.

         Với kết quả chiến đấu, kìm chân địch đến ngày 5-2-1947 (50 ngày đêm), quân, dân Thừa Thiên - Huế đã viết nên những trang sử hào hùng về lòng dũng cảm, chí khí kiên cường, tình đoàn kết trong những ngày Toàn quốc kháng chiến.

         Đúng 2 giờ 30 phút ngày 20-12-1946, sau hàng loạt phát đại bác bắn vào các vị trí tiền tiêu của địch ở Mo-rin, chiến dịch Huế mở màn. Quân ta đồng loạt nổ súng tiến công vào các cứ điểm địch; Nhà máy Điện Huế bị điểm hỏa, toàn bộ điện thị xã Huế bị cắt, bọn Pháp chìm trong bóng tối cố thủ. Các mũi tiến công của ta chia cắt địch không cho chúng co cụm đối phó. Phía Bắc cầu Trường Tiền, cầu Giả Viên bị phong tỏa, cắt đứt; phía Tây và Tây Nam cầu Ga, cầu Bến Ngự, Phú Cam, Lò Rèn, An Cựu... bị khóa chặt. Toàn bộ quân Pháp bị nhốt lại ở khu Tam Giác (Nam sông Hương).

 

Thừa Thiên - Huế bao vây, tiến công địch 50 ngày đêm

        Ngày 28-1-1947, quân Pháp từ Đà Nẵng đánh ra, chúng dùng 8 ca nô đổ bộ vào khu vực Lăng Cô. Ngày 29-1-1947, địch tấn công Truồi, đổ bộ cửa Tư Hiền. Quân và dân các huyện Phú Lộc, Phú Vang, Hương Thủy phối hợp với Tiểu đoàn 18 của Chi đội Trần Cao Vân chặn đánh địch quyết liệt, không cho chúng giải vây cho quân Pháp ở Huế. Trong 16 ngày hành quân, trên đoạn đường chưa đầy 60km, hàng trăm tên địch bị ta tiêu diệt thì quân Pháp mới đến được Huế để giải vây đồng bọn.

          Ngày 5-2-1947, địch từ ba mặt Thuận An, Thanh Thủy, Bãng Lãng đánh vào Huế. Quân địch từ bên trong đánh ra cung An Định, trường Việt An, ga Huế. Ngày 6-2-1947, quân địch bên ngoài và bên trong gặp nhau.

           Tính đến ngày 5-2-1947, quân và dân Thừa Thiên - Huế đã bao vây địch suốt 50 ngày đêm trong thành phố Huế.

 

Quảng Trị đi vào cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm

 

Ngaỳ 12 tháng 2 năm 1947, Pháp chia 2 mũi tiến công nống chiếm Quảng Trị. Mũi thứ nhất từ Huế ra với hàng ngàn bộ binh, máy bay và xe tăng, đại bác. Và mũi thứ hai cũng được trang bị vũ khí hiện đại từ Savanakhet , Lào xuống Đông Hà. Đến 15 giờ cùng ngày  thì chúng hội quân tại thị xã Quảng Trị.

Như vậy, dân Quảng Trị được hưởng độc lập từ ngày 23 tháng 8 năm 1945, do ông Trần Hữu Dực, chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời tuyên bố, sau khi chính phủ Trần Trọng Kim bị giải tán, đến ngày 12 tháng 2 năm 1947 là 1 năm, 5 tháng 9 ngày.

Nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Quảng Trị nói riêng chịu nhiều đau thương và mất mát về người và của cải!

 

Ông ngoại tôi bị phá sản vì chiến tranh

Phần lớn không những nhà giàu mà cả những người nghèo đều bị tán gia bại sản vì cuộc chiến tranh bẩn thỉu này.

Theo tộc phả Nguyễn Văn, cụ Nguyễn Văn Cơ, còn gọi là Cố Nghi, vốn người gốc Giáp Nê, làng Đông Hán, xã Thuần Trung, tổng Thuần Trung, huyện Lương Sơn, phủ Anh Sơn, trấn Nghệ An, nay là thôn Đông Bích, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Cụ được Chúa Sãi cho theo vào Quảng Trị và được triều đình ban hàm Thất phẩm sơ lại, tương đương với cấp huyện ngày nay, nhậm chức tại phủ Triệu Phong. Ở đây Cụ lấy người vợ hai. Người vợ cả ở quê Đông Hán có hai người con gái. Người vợ thứ sinh được một người con trai duy nhất đặt tên là Nguyễn Văn Thùy.

Làng mới của những di dân có tên là Xuân An, nhưng Cụ Cơ đã xin triều đình đi khai hoang lập ấp ở miền sơn cước.Đó là phường Xuân Sơn, thường gọi là Phường Sãi.

             Từ đời nọ đến đời kia, các cụ và ông ngoại tôi đã khai sơn phá thạch xây nên một cơ đồ rất đáng khâm phục. Ngoài đất đai trồng tỉa các loại hoa màu, khoảng ba mẫu tại Phường Sãi, các cụ đã khai hoang khoảng hơn hai chục mẫu ruộng ở Khe Bội. Ruộng ở đây phần lớn là nằm dưới hác, hai bên là sườn đồi. Đầu nguồn, ông đắp một cái đập ngăn, cho dòng nước cặp theo khe nước có nước quanh năm, cho nên có thể gieo lúa cả hai vụ chiêm mùa.Bên sườn đồi có những mảnh đất bằng phẳng thì ông tôi lập vườn trong cây lưu niên như mít, chè…Ông tôi dựng mấy nếp nhà tranh đủ chỗ cho các người làm nơi sinh hoạt ăn uống, ngủ, nghỉ. Cạnh đập nước có một ngôi nhà, sau này tôi được biết là ông cho người bác họ của tôi tên là Nguyễn Ngọc …?, thường gọi là bác Chắt – người làng Đại Hào ở để trong nom ruộng nương. Cuối nguồn ông làm một ngôi nhà khá rộng rãi. Chính ngôi nhà này, những tháng ngày 9 năm,ông tôi đã dùng làm nơi ở tản cư những ngày Tây lên lùng.

         Đến giữa năm Ất Dậu – 1945, đàn bò hơn 200 con bị ôn dịch bắt đi , chỉ còn lại đúng 1 con, dàn trâu cũng còn lại đúng  1 con.

         Ngôi nhà rường 3 gian 2 chái bị Tây đốt, cháy 3 ngày đêm mà lửa chưa tàn. Hầm chứa chén bát kiểu hiệu Nhựt Bổn dưới nền nhà khi bới lên thì rã  như bột.

         Tôi còn nhớ, 5 gian được xếp đặt như sau: đầu hồi là một bộ ghế ngựa bằng gõ, phía trong có một cái buổng nhỏ.Gian thứ hai có bộ tràng kỷ, phía trong có một buồng nhỏ.Gian thứ ba, phía trong là giường thờ ( người Quảng Trị gọi là giường thờ thay cho chữ ban thờ), phía trước để trống, để mỗi khi có việc kỵ giỗ hay ngày Tết thì trải chiếu làm nơi  hương bái.Gian thứ tư, phía bên trong là kho đựng vật tế tự.Phía ngoài có một cái sập gỗ mun đen bóng, trên mặt sập có nhiều ngăn cửa mở, có khóa. Mặt sập là chỗ nằm của ông tôi. Tôi thấy có treo hai cái giá sách. Giá làm bằng một miếng gỗ mỏng chuông vuông 30 phân tây, gắn vào hai bên tấm gỗ là hai thanh gỗ, trên đầu có một thanh ngang có móc để treo.Sách xếp vào trên tấm gỗ đó. Trên sập đặt một chiếc gối xếp 4 tầng. Trên giá sách ông tôi có trọn bộ :Tứ thư, Ngũ kinh…Và nhiều sách thuốc của Hải Thượng Lãn Ông, của Tuệ Tĩnh, (các danh y nước Đại Nam) và của Hoa Đà, Biển Thước…của Trung Hoa.

Ông thường thức dậy rất sớm. Chú Đáo đã bắc lên cái siêu đồng trên bếp hỏa lò, đun nước pha trà. Khi ấm réo sôi thì ông thong thả lấy ấm pha trà rót nước sôi vào tráng ấm.Ông lấy hộp trà Chính Thái ra, lấy một bụm cho vào cái ấm đất độc ẩm rồi rửa trà bằng nước sôi.Nước tráng ấm và rửa trà được đổ vào cái ống nhổ bằng đồng. Ông chờ trong giây lát cho trà ra, rồi ông rót váo cái chén tống thời Khang Hy. Khi đó, ông mới chuyên trà vào cái chén mắt trâu cũng của thời Khang Hy bên Tàu.Ông uống đến tuần trà thứ hai thi ngưng và bắt đầu ngâm thơ. Thường thì những bài thơ Đường luật của Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu và Truong Kế…Tôi còn nhớ bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu mà ông thường hay ngâm. Tôi còn được ông dạy cho nhớ cả chữ Nho lẫn chữ ta:

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ[2] châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

.

Dịch nghĩa:

 

Lầu Hoàng Hạc

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,

Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc

Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại

Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không

Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một

Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi

Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?

Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!

                    ***

Tôi còn nhớ: Bữa ăn của ông tôi rất đạm bạc. Trên chiếc mâm đồng ba chân, bày biện một đọi canh, thường là canh rau me đất nương nhà, nấu với cá hanh bàu Nước Xanh, sông Thạch Hãn. Cá hanh là một loài thủy sản quý. Ông thường cho tôi theo câu cá. Mồi là một con tôm sông nhỏ bằng đầu đũa, trong bụng tôm nhét một hột tiêu sọ, rồi mắc vào lưỡi câu, thả vào nơi nước sâu có đến bốn, năm thước. Giật được chừng dăm con thì ông cháu ra về. Những con còn sống khỏe thì rọọng vào cái độộc, để dành ngày hôm sau; một dĩa cá kho, thường là cá sòng hoặc cá thu kho tiêu; một đĩa rau khoai lang hoặc rau chêêng luộc; một chiếc om cơm gạo ngự. Ông ngồi ăn một mình, còn mệ ngoại tôi thì ăn cơm ở nhà ngang cùng với chị Thản và chú Đáo, người ở thường xuyên trong nhà.

Có một lần, tôi thấy ông đang ăn thì có khách đến. Ông mời khách ngồi vào bộ trường kỷ và ông xin lỗi dùng xong bữa, rồi mới ra tiếp khách! Sau nay, ông có lần nhắc cho tôi biết, vì sao ông không cho thu dọn chén dĩa mà ông vẫn ngồi ăn. Bởi vì, khách có trông thấy bữa ăn đạm bạc của ông thì ông không ngại họ chê mình nghèo!

Gian thứ năm, tôi thường thấy mệ ngoại tôi và chị Thản ở, cả gian làm phòng nghỉ và có cửa  ra vào.

                   Bước xuống, là nhà ngang, nơi có bếp và ang nước.

                   Cho đến ngày Pháp nống chiếm Quảng Trị thì người làm trong nhà về quê của họ. Thành ra, ruộng ở Khe Bội bị bỏ hoang. Còn lại, một diện tích không đáng kể ở trên biền, ông cho trồng sắn, khoai tía, khoai ngà, và khoai từ; hơn một sào, trước đây là ràn bò thì trồng ớt và thuốc lá. Mảnh đất thấp trước lùm miệu ông vẫn sạ lúa ngự.

                   Thế là ông tôi lại trở về làm một nông dân tri điền. Có một lần tôi đã được ông cho theo vào Khe Bội từ gà gáy canh ba. Đến quá hác Sủng Moong thì gặp cọp, đàn trâu quay đít vào trong để bảo vệ mấy con nghé, còn sừng thì tua tủa ra ngoài. Ông bảo tôi cứ ngồi yên trên lưng trâu và hô to huơ là huơ. Cọp thấy khó xơi nên cọp bỏ đi. Ông và tôi tiếp tục cho trâu đi.

                   Gia sản của ông mệ ngoại tôi coi như mất gần hết. Còn cái sừng tây  ngu, ông luôn mang theo bên người. Đến khi ông mất thì một trong mấy người con của cậu Diêu Xoan tôi nắm giữ. Anh Nguyễn Minh Chẩm, con của cậu nói có thấy chiếc sừng đó khi gia đình cậu tản cư.

                   Như vậy, kể từ đời Cụ Cố Nghi từ Nghệ An vào, họ Nguyễn Văn của ông tôi, từ hai bàn tay trắng xây nên một trang ấp khá đồ sộ ở Phường Sãi, nhưng bọn Phú Lang Sa đã tàn phá hết.

                   Chiến tranh, dù là chiến tranh nào đi nữa cũng chỉ đem lại  chết chóc và đau thương cho người dân mà thôi.

                   Tôi căm ghét chiến tranh !

 

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 22 tháng 7 năm 2021.

Nhà thơ Xuân Bảo.

Viết lại, có bổ sung vài chi tiết,đăng lại toàn văn. Bên bờ Phước Long Giang ngày 1 tháng 8 năm 2021, nhằm ngày 22 tháng 6 năm Tân Sửu.

Nhà thơ Xuân Bảo.

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2021

348.Một ông vua văn võ kiêm toàn.

 

MỘT NHÀ THƠ VĂN VÕ KIÊM TOÀN

Nước Nam ta có rất nhiều ông vua đồng thời là nhà thơ. Triều Trần có đến 7 ông vua là thi sĩ. Cuối thời phong kiến, gần ta nhất có các ông hoàng Tuy Lý Vương, Tùng Thiện Vương.  Vua Tự Đức là một nhà thơ lớn.

Tuy nhiên, trong lịch sử thì có một ông vua vừa làm vua, VỪA CẦM QUÂN,vừa làm thơ nổi tiếng là vua Lê Thánh Tông.

Lê Thánh Tông, tự là Tư Thành, huý là Hạo, con trai út của Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Giao - con gái Thái Bảo Ngô Từ. Sống giữa chốn dân gian từ nhỏ đến năm lên 4 tuổi. Mẹ Nhân Tông khi đó đang buông rèm chính sự, cho đón Tư Thành về ở trong cung rồi phong làm Bình Nguyên Vương hằng ngày cùng vua Nhân Tông và các vương hầu học tập tại toà Kính Diên. Tư Thành chăm chỉ học tập, thông tuệ hơn người, được vua Nhân Tông rất yêu quý.

 Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất - 1442. Ngày 6 tháng 6 năm Canh Thìn - 1460, các quan đại thần phế truất Nghi Dân, rước Tư Thành - lúc đó 18 tuổi lên ngôi. Lê Thánh Tông hết lòng chăm lo việc nước: mở khoa thi, kén chọn hiền tài, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, mở mang ngành nghề, mở rộng giao lưu buôn bán, ban hành chế độ quân điền, coi trọng việc bảo vệ biên giới quốc gia. Bản đồ biên giới quốc gia Đại Việt được hoàn thành dưới triều Lê Thánh Tông. Và là người xuống chiếu giải oan cho Ức Trai trong vụ Lệ Chi Viên án. Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng mang niên hiệu vua Lê Thánh Tông còn lại cho đến nay là một trong những bộ luật hoàn chỉnh và có nhiều điểm tiến bộ nhất dưới thời phong kiến nước ta.  Bộ Đại việt sử ký toàn thư do sử quan Ngô Sĩ Liên biên soạn năm Kỷ Hợi - 1479 dưới sự chỉ đạo của vua Lê Thánh Tông.  Lê Thánh Tông còn lập ra Hội Tao Đàn gồm 28 ông tiến sĩ giỏi văn thơ nhất nước thời đó gọi là "Tao Đàn nhị thập bát tú" do nhà vua làm nguyên suý. Trong đó có Thân Nhân Trung – người có câu văn bất hủ, được ghi vào Văn miếu Quốc Tử Giám: Hiền tài là nguyên khí quốc gia.

                                           ***

Không có vị nguyên thủ quốc gia (ở nước Nam) lại lo cho dân đến cùng như vua Lê Thánh Tông. Ở nửa sau thế kỷ XV, trong bối cảnh cực kỳ thuận lợi của một triều đại thái bình thịnh trị, thơ Nôm được triều đình nhà Lê với vị minh quân Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng. Nhà vua đã nâng việc sáng tác thơ Nôm từ chỗ tự phát đến quy mô quốc gia. Thơ Nôm đã tuyển thành tập “Hồng Đức quốc âm thi tập”.

Lê Thánh Tông là một thi nhân hội tụ được cả 3 yếu tố không thể thiếu với một thi nhân đích thực: trí tuệ phong phú, tài năng sáng tạo thơ và tính chất lãng tử trong tâm hồn.

Ông vua hiền triết này có cái nhìn “vạn vật nhất thể”, thấy được cái vĩ đại trong cái hèn mọn, cái may trong cái rủi, cái đẹp trong cái xấu, cái sướng trong cái khổ. Thơ Lê Thánh Tông hàm chứa ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Lê Thánh Tông như một vị thánh nhân đức đã “thế thiên” đi ban phát hạnh phúc cho con người ở cõi nhân gian, cho thần dân mà ông hết lòng yêu thương.

 Chỉ riêng một sự việc của Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, vợ chàng Trương Sinh nghe con trẻ trỏ cái bóng trên tường, gọi đó là cha mình. Hãy nghe một đoạn “án oan” này của Nguyễn Dữ viết trong Truyện kỳ mạn lục:

…Qua sang năm sau, giặc Chiêm chịu trói, quân nước kéo về. Trương Sinh tới nhà thì mẹ đã từ trần, con vừa học nói. Chàng hỏi mồ mẹ rồi bế đứa con nhỏ đi thăm. Ra đến đồng đứa con trẻ quấy khóc, Sinh dỗ dành:

-         Con nín đi, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi!

          Đứa con thơ ngây nói:

-         Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.

Chàng ngạc nhiên gạn hỏi. Đứa con nói:

-         Khi ông chưa về đây, thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cùng đi, ngồi cùng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.

Tính chàng hay ghen, nghe đứa con nói vậy, tin chắc đinh ninh là vợ hư, không còn có cách gì tháo gỡ ra được.

Về đến nhà mắng vợ một bữa cho hả giận. Nàng khóc mà rằng:

-         Thiếp vốn nhà nghèo, được vào cửa Tía. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguội lòng, ngõ liễu tường hoa chưa từng bén gót. Đâu có sự hư thân mất nét như lời chàng nói. Dám xin trần bạch để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.

Chàng vẫn không tin. Nhưng nàng hỏi chuyện kia từ ai nói ra thì giấu không kể lời con nói, chỉ thường thường mắng mỏ, nhiếc móc và đánh đuổi đi. Họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng cũng chẳng ăn thua gì cả. Nàng bất đắc dĩ nói:

-                        Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia, nghi thất. Đâu ngờ ân tình tựa lá, gièm báng nên non. Nay đã bình rơi trâm gẫy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa gẫy cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.

Đoạn rồi nàng tắm gội sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:

-         Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ, điều đâu bày buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm chi diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi ngưởi phỉ nhổ.

Nói xong gieo mình xuống sông mà chết.

Chàng tuy giận là thất tiết, nhưng thấy nàng tự tận cũng động long thương, tìm vớt thây nàng nhưng chẳn thấy tăm hơi đâu cả. Một đêm phòng không vắng vẻ, chàng ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, chợt đứa con nói rằng:

Ô, Cha Đản lại đến rồi.

Chàng hỏi đâu? Nó trỏ bóng chàng ở trên vách.

Đây này!

         Sự việc chỉ có thế mà vua Lê Thánh Tông đã có đến 2 bài thơ.

Bài thứ nhất. Miếu bà Trương;

Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương

Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ

Cung nước chi cho lụy tới nàng?

Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt

Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng?

Qua đây mới biết nguồn cơn ấy

Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng

 

Và bài thứ hai Hoàng Giang, điếu Vũ nương.

Ngàn lau san sát, cỏ xanh xanh

Sảy nhớ ngày xưa kẻ tiết trinh

Cách trở bấy lâu hằng giữ phận

Hiềm nghi một phút bỗng vô tình

Hay lòng, phó mặc vầng cao thẳm

Lẻ bóng tìm nơi chốn vắng thanh

Dầu nhẫn ai ai qua đến đấy

Thương nàng hòa lại trách Trương sinh

Tâm hồn của vị vua thi sĩ dạt dào tình cảm hiện còn khắc trên đá trước cửa miếu Vũ nương tại Lý Nhân, Hà Nam.

Thơ Nôm của Lê Thánh Tông và của thời Hồng Đức là “máu mủ ruột rà”, là di sản văn hóa vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam ta cần được phổ cập đến mọi người.

Bên bờ Phước Long Giang, viết kỷ niệm ngày Hội Văn Nghệ Đồng Nai bước sang tuổi 40 . 22/12/1979 – 22/12/2018.

Nhà thơ Xuân Bảo.Bài đăng lại vao ngày hom nay, khi cao trào Co vit 19 đã xâm nhập Đồng Nai. Ngày 29/7/2021.

Nhà thơ Xuân Bảo.

 

 

 

 

 

Thứ Hai, 26 tháng 7, 2021

347. Thương tiếc nhà giáo- giáo sư Ngữ văn Trần Văn Hối

 

                    

                                 Thương tiếc nhà giáo, giáo sư Ngữ văn Trần Văn Hối.

                                          Sáng nay, ngày 27/7, tôi đang ngồi viết về ngày Thương binh Liệt sĩ thì nhận được hung tin từ anh Nguyễn Hậu, con ông cậu ruột của tôi ở Phường Sãi , Thượng Phước, Triệu Thượng, Quảng Trị báo tin anh Trần Văn Hối- giáo sư Ngữ văn đã từ trần!

                                          Thật vô cùng xót xa thương tiếc người anh, người bạn đã ra đi ở tuổi 90! Tôi viết mấy dòng huyết lệ để chia sẻ nỗi đau với chị Nụ, với các cháu trước sự mất mát này. Tôi xin thắp nén tâm nhang bằng bài viết về những kỷ niệm với giáo sư Trần Văn Hối!

 

                     Kỷ niệm 1.

                                                        

                                    Đến đường Phan Bội Châu, tôi nhớ mang máng là anh chị Hối ở số nhà 254. Kỳ cho xe chạy quá gấn tới cầu Bến Ngự. Tôi xuống xe, hỏi một chị đi bộ; Nhà thầy Hối thì chị ta xăng xái dẫn tôi vào một con hẻm hẹp và gọi tên thầy Đối ra có người gặp, Tôi là một ông già tuổi trên tám mươi, tai bị nghễnh ngãng đã đành còn chị ta mới 55 tuổi, sao lại nghe Hối ra Đối được nhỉ? Thế là phải ra lại đường chính và hỏi người khác. Đến đúng số nhà anh Hối. Tôi gọi cửa, anh chị mừng rỡ đón vào nhà. Anh chị nhắc lại một vài kỷ niệm hồi chúng tôi ở phố Hàng Đào, Hà Nội. Có lần anh ra thủ đô cùng với giáo sư ngữ văn Nguyễn Việt Anh để biên soạn cuốn Văn học sử Việt Nam, anh đã nghỉ lại nhà tôi. Nhưng nhớ nhất là chúng tôi về dự đám cưới của anh chị. Hồi đó, chị Nụ là sinh viên năm cuối khoa ngữ văn, quê ở Yên Khánh, Ninh Bình. Đoàn đồng hương Quảng Trị chúng tôi gồm anh Phan Hào, chồng chị Đào, anh rể anh Trần Văn Hối. Anh Phan Hào đã từng làm bí thư Thị ủy Quảng Trị thời chống Pháp, anh Trần Đức Lương, phóng viên Việt Nam Thông tấn xã và tôi. Thời gian đó việc mua vé xe ca Hà Nội đi các tỉnh rất khó khăn, nên anh Hào (đang công tác tại Văn phòng Bộ Giao thông Vận tải) phải lấy giấy giới thiệu của Bộ, bến xe mới ưu tiên bán vé cho.

                     Tôi và anh Hậu đến anh Hối còn có một việc quan trọng. Anh Hối là một nhà trí thức tầm cỡ, có uy tín. Năm nay anh đã 86 tuổi và là một trong những trí thức còn lại của làng. Chúng tôi trình anh bản “Dự thảo Xây Nhà bia tưởng niệm các liệt sĩ, anh hùng của làng Thượng Phước”. Trong Lời đề dẫn, chúng tôi có đề cập đến một làng quê nhỏ bé như Thượng Phước, trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đánh Pháp và đuổi Mỹ ròng rã ba mươi năm trời đã cống hiến cho Tổ quốc gần 45 liệt sĩ và có tới 7 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Chưa kể đến những người dân yêu nước của làng đã bị quân thù mổ bụng, moi gan, chôn sống.

                     Địa điểm để xây dựng Nhà bia là một quả đồi thường gọi là Cồn Cự, rộng chừng gần 4 hecta, nằm ngay khu vực trung tâm của làng. Mặt trước là con đường bằng bêtông, có khu dân cư hiện hữu và mé ngoài là con sông Thạch Hãn đưa nước từ thượng nguồn (có chiến khu Ba Lòng nổi tiếng) xuôi về biển Đông. Cồn Cự hiện có những ngôi mộ của các dòng tộc chôn cất người quá cố nằm rải rác, không theo một quy định nào. Phần lớn diện tích còn lại là trồng rừng keo lai. Công ty Thống Nhất Ninh Bình khi thi công con đường cứu hộ, cứu nạn từ đầu cầu phía bắc Thạch Hãn – nơi có tượng đài 19 giọt máu của trung đội anh hùng Mai Quốc Ca -  lên tới chân đập Trấm, thường gọi là công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, dài non chục cây số. Công ty đã ủng hộ làng một con đường rải đá cấp phối chạy quanh Cồn Cự. Như vậy, nếu lãnh đạo xã Triệu Thượng và Huyện ủy. Ủy ban Nhân dân huyện Triệu Phong, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị cho phép xây Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ thôn Thượng Phước thì Cồn Cự cũng sẽ thành công viên vĩnh hằng (hay gọi cách khác là Nghĩa trang Nhân dân) cho người dân nơi đây.

                     Anh Hối chăm chú nghe tôi đọc bản Dự thảo. Nghe xong, anh nói: Hay lắm, không có gì hơn là chúng ta – những người còn sống đến hôm nay phải luôn luôn nhớ đến những đồng bào, đồng chí đã ngả xuống!

                      Nhưng rồi anh cũng thấy nan giải bởi một câu hỏi giản đơn: Tiền xây dựng Nhà bia lấy ở đâu ra? Mặc dù trong “Dự thảo”, chúng tôi có đề cập đến phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhưng dân làm là chủ yếu”. Anh Hối nói vui: Xuân Bảo xung phong đóng góp 20 triệu đồng trước đi, rồi bà con sẽ noi theo mà góp công, góp của. Nếu “dự án” được tỉnh thông qua thì chắc chắn là làm được.

                     Chị Nụ vừa làm bếp vừa lắng nghe câu chuyện của chúng tôi trao đổi. Chị nói: nếu được duyệt cho xây Nhà bia thì chị cũng sẵn sàng đóng góp. Một lúc sau, cháu Phong, con trưởng của anh chị đánh ôtô về. Cháu nói về rước các con đi học. Tôi nhờ Phong chụp cho mấy kiểu ảnh làm kỷ niệm. Anh chị mời chúng tôi ở lại dùng cơm trưa, nhưng chúng tôi xin khất lại lần sau.

 

                     Kỷ niệm 2.

Mệt quá và cũng đã đến giờ hẹn với giáo sư Trần Văn Hối, tôi vẫy taxi để về khách sạn Song Cầm. Sửa soạn xong, chúng tôi định kêu xe, nhưng nhà văn Nguyễn Thanh Song Cầm nói: Để em đưa đi. Chúng tôi đến nhà anh chị Hối ở 264 đường Phan Bội Châu, gần Đàn Nam Giao đúng 10 giờ. Nhà văn còn về lo cho việc con gái đầu Aya tốt nghiệp đại học nên xin kiếu.

 

 

 

 

                                                Ảnh. Bữa cơm tại nhà anh chị Trần Văn Hối

                     Anh chị Hối rất vui khi được gặp lại nhà tôi. Chị Nụ thì khen nức nở: Hơn 40 năm qua rồi mà chị Minh vẫn trẻ đẹp như xưa! Bữa cơm thân mật được chị Nụ chuẩn bị từ sáng sớm. Có đủ các món đặc sản của Huế. Cả gia đình giáo sư có mặt đầy đủ. Anh Hối nhắc lại những kỷ niệm hồi còn chiến tranh chống Mỹ. Mỗi lần anh từ trường Đại học Sư phạm Vinh ra Hà Nội đều có ghé nhà tôi ở 59 phố Hàng Đào, Hà Nội. Các thầy Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Duy Bình, Nguyễn Việt Anh…đều có tới thăm gia đình chúng tôi. Thế mà bây giờ đã nhiều người đi xa. Giáo sư Trần Văn Hối cũng đã xấp xỉ cửu tuần rồi.

                     Ôi, Thời gian!

                     Tạm biệt Huế thân thương. Tạm biệt Mang Cá – Kẻ Trài, Bao Vinh, Thành Nội…Tạm biệt những người bạn rất đỗi yêu thương trìu mến! Chúng tôi lại ra sân bay Phú Bài để về Đồng Nai.

                            Nơi mà:

                            Làm trai cho đáng nên trai

                            Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng.

 

                           Bên bờ Phước Long Giang, lúc 9 h 30’ ngày 26/7/2021, nhằm ngày 17 tháng Sáu, Tân Sửu.

                                                         Nhà thơ Xuân Bảo