Trang

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

Nhân Giỗ Tổ Hùng Vương, mùng mười tháng ba.

                                                            Khảo luận của nhà thơ Xuân Bảo.

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba

Dù ai buôn bán gần xa

 Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba mùng mười.

Trong tác phẩm trường ca Âm vang một dòng sông của tôi có hai đoạn

Trống đồng gõ nền văn minh Lạc Việt

Hồn Ngọc Vạn (1) có hát khúc trời Nam

Về Rừng Sác lại nhớ Bạch Đằng Giang

Nhìn cánh cò bay nhớ đàn chim Lạc

…

Sông nhắc ta nhớ những ngày gian khổ

Dù viễn xứ không quên đất Hy Cương

Nơi phát tích mười tám vị Hùng Vương

“Có ai về Bắc cho ta đi với”(2)

 

Ai là người đề xuất lấy ngày mùng 10 tháng 3 ta làm ngày Giỗ Tổ Hùng Vương?

Tuần phủ tỉnh Phú Thọ Lê Trung Ngọc (nhiệm sở 1915-1921) đã dâng biểu lên Bộ Lễ xin lấy ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để làm ngày Giỗ Tổ các Vua Hùng

Theo đúng nguyên bản của Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền tự điển, 18 đời Hùng Vương không phải là 18 vị vua. Mỗi một đời Hùng Vương là một triều đại kéo dài. Mỗi triều đại mang cùng một tên hiệu Hùng Vương

Ngọc phả Hùng Vương ghi rõ: “Từ đầu tính nước họ Hùng 18 nhánh truyền ấn phù quốc gia, 180 đời đế vương lên ngôi, nhất thống núi sông, xe sách trị nước, kiến dựng 120 điện thành. Cộng các năm trị vì, 18 đời thánh vương di truyền, thánh tử thần tôn, triều đại đế vương, hưởng ngôi cộng là 2.655 năm, thọ 8.618 năm, sinh 986 chi hoàng tôn công chúa, sinh cháu chắt cộng là 14.370 người, trị ở nước Nam, đầu núi góc biển, vạn thế trường tồn, mãi mãi không ngừng”.

Như vậy, thời đại Hùng Vương có tới 180 vị đế vương, kéo dài 2.655 năm. Tính ra trung bình mỗi vị vua Hùng trị vì khoảng 15 năm, thọ khoảng 48 tuổi. Đây là những con số hoàn toàn rất thực tế

Còn nhiều điều nữa được ẩn chứa qua từng trang ngọc phả.

 Nhiều người, trong đó có cả những học giả và nhà nghiên cứu cho rằng, ngọc phả là hoang đường. Sở dĩ có sự đánh giá như vật là do bởi chính chúng ta đọc tự điển của cha ông với một thái độ thờ ơ, nghi ngờ. Chúng ta chưa có một thái độ đúng đắn để đi sâu tìm hiểu di sản của tổ tiên để lại có ý nghĩa gì; không muốn biết thông điệp của cha ông gửi gắm qua từng trang sách quý. Như những trang ngọc phả, bao đời nay vẫn được các thế hệ ông cha truyền dạy phải lưu giữ trân trọng và đó chính là cuốn ngọc phả được thờ như một quốc bảo linh thiêng của dân tộc.

Ngọc phả chính là “chìa khóa” về nguồn cội, là cuốn Thiên thư giúp phân định được không gian, thời gian và con người Việt ở thời xa xưa nhất. Đây là một báu vật đúng như nó được ghi: 

“Cho nên quốc triều mới tiến hành soạn sách Nam Thiên bảo lục, để mãi ban cho hậu thế, con cháu dòng dõi lưu truyền muôn đời. Chỉ truyền cho người hiền, không truyền cho người thiếu phép tắc. Sự tích này không thể đem cho người ngoài”

Xin thành tâm thắp một nén hương dâng lên Cửu trùng thiên điện ở núi Hùng, đọc lại những dòng ngọc phả về thời kỳ dựng nước, ngâm lên câu đối trên chính điện đền Trung:

Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ

Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Nghĩa là:

Sách trời định phân, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt duy có

Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

                     1

Dòng dõi Vua Hùng

Hùng Vương, là cách gọi các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt. Hùng Vương thứ I là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước công nguyên thì bị Thục Phán (An Dương Vương) tiếm ngôi..

          Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Lộc Tục cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi (anh trai Lộc Tục) là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương xuống Thủy phủ, lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân thay cha trị nước, còn Kinh Dương Vương không biết đi đâu. Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc, Đế Lai nhân thiên hạ vô sự mà đi chu du khắp nơi, đi qua nước Xích Quỷ, thấy Lạc Long Quân đã về Thủy phủ, liền lưu con gái của mình là Âu Cơ ở lại đó.

Kinh Dương Vương được phong năm Mậu Tuất (cùng thời với Đế Nghi truyền đền cuối đời Hùng Vương, tưc Hùng Duệ Vương, ngang với nhà Chu năm thứ 57 là năm Quý Mão thì hết. Cộng 2622 năm – 258 TCN)

Lạc Long Quân trở về, thấy Âu Cơ xinh đẹp, liền biến hóa thành chàng trai phong tú mĩ lệ, Âu Cơ ưng theo, Lạc Long Quân liền rước nàng về núi Long Trang. Hai người ở với nhau một năm, sinh ra bọc trăm trứng, sinh ra trăm con trai anh dũng phi thường. Lạc Long Quân ở lâu dưới Thủy phủ, Âu Cơ vốn là người Bắc quốc, nhớ nhà liền gọi Long Quân trở về. Âu Cơ nói với Lạc Long Quân:

-Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm con trai mà không gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng, không vợ, một mình vò võ.

Lạc Long Quân bảo rằng:

-Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống tiên, người trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp mà lại có con nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi con trai về Thủy phủ, phân trị các xứ, năm mươi con trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe không được bỏ nhau.

Âu Cơ cùng năm mươi con trai ở tại Phong Châu, đưa người  hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương.

“Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao”

Con của Lạc Long Quân là Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đóng đô ở bộ Văn Lang, Phong Châu. Về bờ cõi, nước đông giáp biển Đông, tây đến Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc), bắc đến hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung quốc), nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành.

Hùng Vương sai các em trai phân trị, đặt em thứ làm Tướng võ, Tướng văn. Tướng văn gọi là Lạc Hầu, Tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, quan Hữu ty gọi là Bố chính, thần bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền nhau cho đến hiệu là Hùng Vương không đổi.

          Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Theo sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng chép. Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc Vương, người giúp việc là Lạc Tướng: đều dùng ấn đồng thao xanh. Nước gọi là Văn Lang. Phong tục thuần hận, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt nút dây làm dấu ghi nhớ; truyền được mười tám chi.

Năm (2557-2258 TCN), năm Mậu Thân thứ 5 đời Đường Nghiêu, Hùng Vương sai sứ sang, tặng vua Nghiêu con rùa thần, có lẽ hơn nghìn năm, mình rùa hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy lịch (lịch rùa). Năm 1110 TCN, Hùng Vương sai sứ qua Trung Quốc, tặng Thành Vương nhà Chu chim trĩ trắng.

Thời Lạc Long Quân trị vì, nhà vua dạy dân ăn mặc, bắt đầu có trật tự về vua tôi, tôn ti, có luân thường về cha con, vợ chồng.

Dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên tâu lại với Hùng Vương. Hùng Vương bảo rằng: Ở núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét dị cho nên mới xâm hại. Bèn lấy mực xăm hình thủy quái ở thân thể, tránh được nạn giao long cắn hại. Tục xăm mình của Bách Việt bắt đầu từ đây.

Ban đầu do ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa đồng làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm; lấy rễ gừng làm muối; lấy dao cày, lấy nước cấy, đất trồng nhiều gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm. Gác cây làm nhà để tránh hổ báo; cắt ngắn đầu để tiện vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm, nhà có người chết thì giã cối gạo để cho hàng xóm nghe chạy đến giúp. Trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau mới giết trâu để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong phòng cùng ăn với nhau cho hết, rồi sau mới tương thông.

‘Lúc bây giờ, vua tôi cùng đi cày, cha con tắm chung sông không chia giới hạn, không phân biệt uy quyền, thứ bậc. Dân đều vẽ mình, uống nước bằng mũi, cùng nhau vui chơi vô sự”.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép phần đầu tiên đặt tên là Kỷ Hồng Bàng thị, 3 tiểu mục là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương

Lãnh thổ nước Văn Lang được sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam ngày nay.

Hùng Vương chia nước Văn Lang làm 15 bộ Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức, đóng đô ở bộ Văn Lang. Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận.

Sơn Nam (bây giờ là Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên) xưa là bộ Giao Chỉ. Sơn Tây xưa là bộ Chu Diên, bộ Phúc Lộc. Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh) xưa là bộ Vũ Ninh. Thuận Hóa (bây giờ là từ Hải Lăng thuộc Quảng Trị đến Điện Bàn thuộc Quảng Nam) xưa là bộ Việt Thường; An Bang (bây giờ là Quảng Yên) xưa là bộ Ninh Hải; Hải Dương xưa là bộ Dương Tuyền; Lạng Sơn xưa là bộ Lục Hải; Thái Nguyên, Cao Bằng xưa là bộ Vũ định nội ngoại; Nghệ An xưa là bộ Hoài Hoan; Thanh Hóa xưa là bộ Cửu Chân; Hưng Hóa và Tuyên Quang xưa là bộ Tân Hưng; Còn hai bộ Bình Văn và Cửu Đức thì đều khuyết nghi. Nay khảo ở sách Tấn chí, quận Cửu Đức, do nhà Ngô đặt, nay là đất Hà Tĩnh. Sử cũ chua tức là nước Chiêm Thành, bây giờ là đất Bình Định.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cuối thời Hùng Vương, vua có người con gái vô cùng xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng, liền sai người đến cầu hôn. Hùng hầu can rằng, Thục vương chỉ lấy làm cớ hôn nhân để xâm lược mà thôi. Thục vương đem lòng oán giận. Về sau Hùng Vương gả con gái cho Sơn Tinh, Thục vương căm giận, căn dặn con cháu phải diệt nước Văn Lang.

Cháu Thục vương là Thục Phán nối ngôi, có dũng lược, đem quân xâm lược Văn Lang. Hùng Vương có binh hùng tướng mạnh đánh bại Thục Phán. Hùng Vương bảo Thục Phán rằng: Ta có sức thần, nước Thục không sợ ư?  rồi bỏ bê đất nước, chỉ lo ăn uống vui chơi. Khi quân Thục kéo sát đến nơi, vua còn say mềm chưa tỉnh. Tỉnh dậy, Hùng Vương cùng đường, thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính đầu hàng Thục Phán. Từ đây trong sử sách nước Việt bước sang kỷ mới gọi là Kỷ nhà Thục.

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính.

18 vị vua Hùng không phải là 18 người cụ thể, mà là 18 chi/ngành, mỗi chi này có nhiều vị vua thay phiên nhau trị vì và dùng chung vương hiệu. Thậm chí con số 18 có thể chỉ nên hiểu là con số tượng trưng ước lệ, vì 18 là bội số của 9 - vốn là một số thiêng đối với người Việt.  Dòng dõi Hùng Vuong tryền ngôi được 88 đời.

1.Kinh Dương Vương: 2879 TCN - ?. Huý là Lộc Tục.

2.Hùng Hiền Vương, còn được gọi là Lạc Long Quân, húy là Sùng Lãm.

3.Hùng Lân Vương

4.Hùng Diệp Vương.

5.Hùng Hi Vương

6.Hùng Huy Vương

7.Hùng Chiêu Vương

8.Hùng Vĩ Vương

9.Hùng Định Vương

10.Hùng Hy Vương

11.Hùng Trinh Vương

12.Hùng Vũ Vương 

13.Hùng Việt Vương 

14.Hùng Anh Vương 

15.Hùng Triệu Vương 

16.Hùng Tạo Vương)

17.Hùng Nghị Vương

18.Hùng Duệ Vương (? - 258 TCN)

    ***

Lăng Hùng Vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Tương truyền đây là mộ của vua Hùng thứ 6.

Có một điều thú vị là bố đẻ của anh thư Trưng Trắc-người được tôn vinh làm , nữ hoàng đầu tiên của nước ta là con vị hào trưởng Hùng  Định,sau đổi qua họ Trưng.

                                                    ***

2.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các Vua Hùng

Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, TP Việt Trì, Phú Thọ là nơi thờ các Vua Hùng - Tổ Tiên chung của dân tộc Việt Nam. Đây là một khu di tích đặc biệt quan trọng, qua các thời kỳ lịch sử luôn được Nhà nước và nhân dân quan tâm, gìn giữ.

Nơi đây cũng đã được UNESCO công nhận “tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng là kiệt tác truyền khẩu phi vật thể của nhân loại.

Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chủ Tịch đã 2 lần về thăm Khu di tích này.

 Sau hiệp định Genève, ngày 19.9.1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong - Sư đoàn 308, có các Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn 36, Trung đoàn Tu vũ. Bác căn dặn về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô.

Năm đó, ngồi dưới bậc thềm của Đền thờ các vua Hùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là sự tình cờ, mà là chủ đích của Người. Lần đầu tiên, cả chặng đường dài mấy ngàn năm của lịch sử dân tộc, được Người tổng kết trong một câu nói lịch sử nổi tiếng:

                     Các Vua Hùng đã có công dựng nước

                     Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước

Trong thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của dân tộc là dựng nước và giữ nước, lúc đó việc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương chưa có điều kiện để tiến hành; Quy luật dựng nước và giữ nước trong lịch sử chưa được tổng kết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thời đại Hùng Vương là thời kỳ lịch sử có thật của dân tộc; Các Vua Hùng là người đã khai sinh ra đất nước Việt Nam. Sự khẳng định quy luật dựng nước và giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng không những có ý nghĩa giáo dục lớn, mà còn là sự quan tâm và ý thức tôn vinh Tổ Tiên - Các Vua Hùng - của người đứng đầu Nhà nước thời hiện tại. Sự nghiệp cách mạng rất đỗi vẻ vang nhưng còn nhiều gian khổ, đòi hỏi những hy sinh vô cùng to lớn, niềm tự hào vững chắc về Tổ Tiên dựng nước là nguồn cổ vũ hết sức lớn lao của nhân dân cả nước. Chọn Đền Hùng để khẳng định nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã tôn vinh Đền Hùng lên một tầm cao mới của lịch sử.

      Trong lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh "các Vua Hùng đã có công dựng nước", Người đã viện dẫn đến những con người có thật trong buổi đầu của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là một biểu tượng cao quý mà các thế hệ con cháu người Việt Nam đời này qua đời khác tôn thờ. Nói về Các Vua Hùng ngay tại nơi thiêng liêng mà bao đời người Việt trở về trong tâm thức cũng như trong đời sống thường nhật - Đền Hùng - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi gợi cho chúng ta ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn. Trên thế giới không có một dân tộc nào lại không có bề dày lịch sử của dân tộc mình, điều đó quyết định sức sống, sự thống nhất và phát triển của mỗi một dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hôm nay tất yếu của sự phát triển là nhiệm vụ tiếp tục dựng nước và giữ nước của các thế hệ con cháu người Việt Nam. "Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

      Năm 1962, Đế quốc Mỹ chuẩn bị cuộc chiến tranh đánh phá cả miền Bắc. Cả nước thành chiến trường chống Mỹ. Một lần nữa, Đền Hùng lại đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào ngày 19.8.1962. Trong hồ sơ Di tích lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng có ghi lời dặn của Người khi lên tới đỉnh núi Hùng: Đã đi là phải tới đích, leo núi là phải lên đến đỉnh, cũng như người làm cách mạng không được bỏ dở chừng. Người còn dặn phải trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng trở thành một công viên lịch sử cho con cháu sau này đến thăm viếng. Cả 2 lần Người về Đền Hùng, cả 2 lần Người đều lên đến đỉnh cao mà ngày xưa Tổ Tiên của người Việt Nam từng mơ ước cầu Trời cho mưa thuận gió hòa, an dân hạnh phúc.

   Điểm lại sự kiện 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng không phải vì sợ hãi trước những khó khăn của lịch sử mà phải mượn tới vong linh của Tổ Tiên, để tìm một sức mạnh bởi niềm tin huyễn hoặc vào cõi thánh thần. Nhân dân ta vốn coi trọng nguồn gốc, tha thiết ở tình cảm "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả không quên ơn người trồng cây", Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng, viện dẫn đến "Các Vua Hùng đã có công dựng nước", chính là để ca ngợi sự cố gắng quyết tâm dựng nước và giữ nước trong thời đại mới, từ đó khơi dậy những tình cảm thiêng liêng của dân tộc, để từ truyền thống lịch sử tạo ra những điều bất diệt, tạo lên sức mạnh và nguồn sinh lực mới cho cuộc sống, để dân tộc hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng, đi đến đích của mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

      Trong lịch sử hiện đại, bắt đầu bằng ý chí và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã hướng đạo cho chúng ta quan tâm xây dựng tôn tạo Khu di tích lịch sử Đền Hùng ở tầm cao của thời đại mới. Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội Khóa XI đã thông qua sửa đổi Điều 73 của Bộ luật Lao động, cho phép người lao động cả nước được nghỉ ngày mùng 10.3 âm lịch. Đó là điều kiện tốt để đồng bào cả nước về thăm viếng Đền Hùng, dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, tri ân công đức của Tổ Tiên, tạo động lực tinh thần yêu nước, gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân. Khu di tích lịch sử Đền Hùng trong thời hiện tại, không chỉ gắn với Các Vua Hùng - Tổ tiên của dân tộc Việt Nam, mà còn gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người con ưu tú nhất của dân tộc, người thầy vĩ đại nhất của Cách mạng Việt Nam, những tiền nhân có công dựng nước và giữ nước.

(1)   Công nữ Ngọc Vạn con của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được gả cho vua Chân Lạp Chett Chenta II – người đã có công đưa dân vào khai phá Thủy Chân Lạp, tức đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.

(2)   Câu thơ của Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ trong bài Nhớ Bắc.

 

Bên bờ Phước Long Giang, ngày mùng Mười tháng Ba năm Mậu Tuất, nhằm ngảy 25/4/2018, nay đăng lại, lúc 10 giờ sáng ngày mùng 10 tháng 3 năm Tân Sửu nhằm ngày 21/4/2021.

Nhà thơ Xuân Bảo

Thứ Tư, 31 tháng 3, 2021

326. Đã 8 mùa xuân rồi đó

ĐÃ 8 MÙA XUÂN RỒI ĐÓ.

Bài thơ này tôi viết cách đây hơn nửa thế kỷ. Vào năm 1968, Hả Nội đang thời kỳ chống “chiến tranh phá hoại”của Mỹ. Chúng tôi có mộ kỷ niệm khó quên là đã cùng nhau dạo bước chung quanh hoàng thành.

Để nhớ về Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, tôi đưa bút ký Hà Nội cơn lốc tháng bảy thay cho lời muốn nói.

                   Hà Nội cơn lốc tháng bảy

But ký của Xuân Bảo

 

Mắt em là một dòng sông

Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em.

                        (Trăng lên của Lưu Trọng Lư)

 

               Ảnh. Trăng lên, đẹp quá Hồng Nga ơi !

 

Thế là vừa tròn một tháng, anh xa Hà Nội, xa em. Cho tới lúc này tâm thần anh vẫn bất định, cứ thẫn thờ và xao xuyến như người say sóng sau một chuyến đi biển xa về.

  Phút này đây, khi anh viết những dòng này là lúc anh muốn “ thiên hạ tàn đi cả” để cái vũ trụ mênh mông này chỉ còn lại duy nhất tiếng nói của lòng anh gửi tới em.

   Anh đã rời xa thành phố thân yêu của tuổi hoa niên – quê hương thứ hai của anh – mới đó mà đã mười ba năm rồi. Thời gian là cái nghĩa gì, nếu không phải là sự vận động của Trái Đất quay chung quanh Mặt Trời, là sự phân định bốn mùa, là hai mươi bốn giờ đồng hồ của ngày và đêm? Đối với anh, Bích Hạnh vẫn là Bích Hạnh của anh gần ba mươi năm trước. Cái thuở mà em đã mượn câu thơ “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ đã ai quên”. Em đã gửi cho anh không phải bằng đường bưu điện mà bằng một mảnh giấy, viết bằng bút chì để trên bàn làm việc của anh. Nét chữ cứng cáp và rất đẹp, chỉ có thể được dạy dỗ và tập viết dưới thời Pháp thuộc. Dưới có chữ ký tắt: bh. Anh lại luận ra bằng cái cách vơ vào của người Kẻ Bưởi b là anh và h là em.

             Hồi đó, anh đã không đủ sức vượt lên chính bản thân mình và những ràng buộc của các thứ đạo dức, dư luận xã hội. Anh yêu em mà nào em có biết? Anh yêu em da diết mà vẫn như yêu người trong mộng. Em hiện hữu như một thực thể tồn tại mà anh cứ ngỡ em là một thiên thần rất gần và lại rất xa. Không thể nào với tới, không thể nào đến cùng em được. Đã có lúc anh nghĩ về em như một áng mây trời đẹp và nặng trĩu ưu tư.

Có những chiều nắng đẹp mây bay

Mây ơi, vì sao mây suy nghĩ

Mây vẫn bay trầm tư lặng lẽ

Sao lòng ta da diết, hỡi mây ?

   Thời đó, chúng ta còn quá thơ ngây, còn quá rụt rè. Anh đã viết nhiều bài thơ về đôi mắt em.

Mắt em là cái nghĩa gì

Mà uống mãi tình anh không chán?

Hoặc :

Nơi ấy sâu hơn đáy đại dương

Thăm thẳm mù khơi tít dặm trường

Nơi ấy là mắt em tôi đó

Bất giác nhìn tôi vạn mến thương

Tình cờ, có lần  cùng em đi trên tàu lửa từ Bắc Giang về Hà Nội, khi đi qua các cây cầu sông Thương, sông Cầu, sông Đuống rồi chặng cuối là cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, anh đã liên tưởng và ví đôi mắt em  như là dòng Hương Giang của Huế – nơi anh được sinh ra và lớn lên những ngày thơ ấu. Anh mường tượng ra hai con sông: Sông Hương trầm mặc và dòng sông thứ hai nằm trong đôi mắt em, u buồn. Tình yêu của anh đối với em cũng tha thiết như anh đã từng yêu con sông quê ngày nào.

Giờ đây, anh đang sống với dĩ vãng. Ký ức anh còn ghi: Sau khi cưới, có một lần em đến thăm anh. Hình như đã qua tuần trăng mật của em thì phải. Em đến đem theo cả một vầng sáng tràn ngập phòng anh. Anh đã phải mất vài giây định thần lại sau một thoáng trời đất quay cuồng để nhìn em, nhìn lại em cho rõ. Có phải là người mà anh hằng yêu dấu đó chăng? Anh hỏi: Em có được hạnh phúc không? Em đáp: Hạnh phúc! Trong hai tiếng ngắn ngủi đó sao anh lại nghe văng vẳng như biết bao lời oán trách, mai mỉa! Và em đã lại ra đi, để lại cho anh biết bao nỗi buồn! Đó là một buổi sáng tháng ba, năm 1960, khi Hà Nội vẫn còn những cơn rét ngọt, buốt thấu xương.

Anh biết “khi ván đã đóng thuyền”. Số mệnh là số mệnh, duyên phận là duyên phận. Dù yêu em, thương em đến mấy anh cũng chỉ dồn nén lai trong lòng. Biết làm sao được ? Trong thâm tâm anh luôn cầu mong cho em có hạnh phúc. Và em, hãy coi anh như cái bóng thoáng qua đời em. Có gì đâu, những giọt lệ sầu ! Dòng đời cứ thế trôi đi, còn gì cho nhau nữa!

Có một đêm Hà Nội nguyệt thực. Không nguyệt thuc thì đêm Hà Nội của chúng ta có sáng hơn đâu. Thêm đó, báo động rồi báo yên. Máy bay Mỹ đang gầm ghè nhằm vào thủ đô. Mặc chúng! Chúng ta vẫn dạo bước chung quanh hoàng thành xưa. Anh và em đã cùng khoác tay nhau dạo bước. Cửa Bắc, còn đó vết đạn đại bác của thực dân Pháp xoáy một lỗ thủng cạnh cổng thành. Rồi sau đó tên Henri Riviere phải bỏ mạng ở Ô Cầu Giấy. Chúng ta xuôi về Cửa Nam, có cái ngõ Cấm Chỉ. Nghe đâu khi nhà Lê trở lại, Chúa Chổm từ Thanh Hóa ra Thăng Long. Dân Hà Thành đua nhau chạy theo Chúa Chổm đòi nợ, đến trước cửa hoàng thành thì được lệnh cấm không được đi tiếp nữa.Anh và em tiếp bước lên Cửa Đông. Phố Lý Nam Đế chạy dọc theo hoàng thành sau này trở thành phố Nhà Binh- nơi có cái Phòng Văn nghệ Quân đội và Tạp chí Văn nghệ quân đội đóng tại nhà số 4 - Cũng tại đây anh quen thân với nhà thơ Thanh Tịnh, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh.

 Hoàng thành xưa nơi mà Bà huyện Thanh Quan đã than thở:

“…Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo…”

Hoa sấu li ti rụng trắng mặt đường. Những ngọn gió bấc. Những giọt mưa phùn. Trời Hà Nội đã sang xuân. Đêm không trăng lại không đèn. Chỉ còn lại những ánh sao xa lấp lánh, lấp lánh phản chiếu những giọt mưa trên vai em.Anh còn nhớ em khoác chiếc áo choàng dạ Mông Tự cho nên những hạt mưa không thấm áo mà vấn vương mãi trên bề mặt, đọng mãi những giọt li ti trên vai em.

Những vì sao xa nhấp nháy trong đêm

Đậu lên vai em tròn mịn dịu hiền

Anh đã nói gì với em trong cái đêm hôm ấy. Những kỷ niệm của thời chúng mình mới quen nhau. Những đêm kịch Liu-ba Liu-bốp,Đứng gác dưới ánh đèn néon…, những buổi hòa nhạc Beethoven, Mozart, Trai-cốp-sky… Và những cuốn sách cùa Victor Hugo, của Lép-Tôlstoi… Chúng ta thương cảm Anna Karênina, yêu mến Cosette…Và anh đã ghi vào cuốn carnet cho em một đoạn trong Những người khốn khổ: “Em là đá thì xin em hãy làm nam châm.Em là cây thì xin em hãy làm trinh nữ. Em là người thì xin em hãy là tình yêu và Thế giới không có một người biết yêu thì mặt trời sẽ tắt…”

 

Anh nhớ như in, khi chúng ta ngồi ở chiếc ghế dá trên bờ Hồ Tây, bên kia hồ cái ráng đỏ màu hổ phách chìm dần trong hoàng hôn. Và em đã hỏi:

  - Có thật là anh đã yêu em?

 -Thật chứ, yêu mãnh liệt, yêu say đắm, yêu như chưa bao giờ yêu.

Cũng như bao đêm khác, chúng ta lại quyến luyến, bịn rịn chia tay nhau, em về 54 Mã Mây, anh về 59 Hàng Đào.

Anh đã viết tặng em bài thơ trong nỗi nhớ, sau tám năm em đi về miền vô định, tức là lúc mà em đến thăm anh khi hạnh phúc của em tưởng chừng êm ả…

Biết em tám mùa xuân

Trọn tám mùa thương nhớ

Xa em tám mùa xuân

Tám mùa đào vẫn nở

 

Em lại đến cùng anh

Mưa buồn qua cửa sổ

Nhựa vẫn chuyển cành xanh

Mà khối tình tan vỡ

 

Biết nói gì với em

Khi thuyền rời xa bến

Đây lời thơ tâm tình

Gửi em bao trìu mến

 

Hà Nội đã vào xuân

Xa em sao thấy nhớ

Nghe triều dậy lòng anh

Sóng dạt dào vỗ vỗ.

( Hà Nội, đêm 29-1-1968)

 

Hà Nội năm ấy đang thời đánh Mỹ. Nghe bom dội phía Hà Đông anh lo lắng, bồn chồn. Khi vừa dứt tiếng còi báo yên, chỉ mấy phút sau, anh đã lao tới ngôi nhà nơi em sơ tán. Chúng ném bom vào Đài Phát thanh Mễ Trì nhưng không trúng mà rơi trúng vào ngôi nhà em ở.Một quả bom tịt ngòi nằm chình ình giữa nền nhà.

 Em đâu rồi? Trên đường về Đống Đa, anh rất đỗi vui mừng được gặp lại em, còn nguyên lành. Vẫn ánh mắt buồn ấy em đã cay đắng thốt lên:

-Sao quả bom ấy không rơi trúng đầu em?

Anh hiểu, em đang bấn loạn tâm thần. Không phải em sợ lũ giặc trời kia gầm thét lửa đạn mà em đang khổ đau vì nỗi bất hạnh trong cuộc sống. Em còn đó nguyên vẹn hình hài, nguyên vẹn đôi mắt buồn ấy. Vẫn còn đó nụ cười kiêu sa nửa miệng như hờn trách, như mỉa mai và cuối cùng là anh được nghe tiếng nói dịu dàng của em. Ôi con chim nhỏ của anh.Anh tin em còn vũ trụ này còn.Và như Victor Hugo đã viết: Vũ trụ thu tóm lại ở một con người, con người nới rộng ra đến Thượng đế, đó là ái tình.

***

Thế rồi, đất nước được hoàn toàn giải phóng. Phía bên kia cầu Hiền Lương anh còn có mẹ và những đứa em đang mong ngóng ngày về của anh.Một cuộc xa cách dài dằng dặc hơn hai mươi năm trời. Đây thực sự là cuộc chia ly đau thương nhất của dân tộc Việt Nam ta. Anh về Nam!

Chiều 22 tháng 2 năm 1976 ở Ga Hàng Cỏ. Có gì buồn hơn sân ga sắp chứng kiến kẻ ở người đi? Đưa tiễn anh về Nam có rất nhiều bạn bè.Và có em. Anh đã nhìn sâu vào đáy mắt em và đã cảm nhận được dòng nước mắt kia đang chảy vào trong. Đó là những hạt kim cương của tình yêu, tình người! Trước đó, em đã có lời khuyên đối với anh. Không nên rời xa Hà Nội, không nên đi. Nhưng liệu ở lại có nên và có ích gì cho hai đứa chúng mình? Hình ảnh em chiều đó vẫn đậm đà trong anh suốt chiều dài không gian, mãi mãi không bao giờ phai. Đôi mắt buồn theo anh cho tới lúc con tàu ra khỏi sân ga. Chính lúc đó là lúc anh muốn:

Được cùng em đi cùng trời cuối đất

Được cùng em chia sẻ mọi vui buồn

Được cùng em lúc sống và khi chết

Nếu được thế có hạnh phúc nào hơn

Oái oăm thay! Lực bất tòng tâm. Đành chịu bó tay và chấp nhận số phận. Số phận nghiệt ngã và cay đắng làm sao!

Ký ức anh còn ghi: Sau năm năm xa cách, năm 1980 anh về Hà Nội gặp lại em, gặp lại biết bao kỷ niệm của một thời trai trẻ. Em đã cho anh những đêm Hồ Tây chớm lạnh, lắng tiếng con chim sâm cầm khắc khoải. Chúng ta lại rảo bước trên những con đường rợp bóng hàng me, những chiều công viên, những hè phố thân quen năm nào và cả những nụ hôn nồng cháy. Sau hai mươi năm trời anh lại được đón nhận những nụ hôn nồng cháy nơi em. Sao có thể phải đợi một quãng thời gian dài lâu đến thế? Có đáng phải chờ đợi như vậy không em ? Hai thập kỷ nào có ít ỏi gì, hỡi thời gian!

Anh nghĩ năm đó em vẫn trong độ tuổi thanh xuân. Không một trở lực nào ngăn cản em xây lại một mái ấm. Anh vẫn cầu mong cho em có hạnh phúc, có một người chồng xứng đáng với em. Anh cầu mong thực lòng đó chứ không hề giả tạo hoặc chút ích kỷ nào. Nhưng không vì thế mà anh giảm phần yêu em. Yêu và muốn người mình yêu được hạnh phúc. Đó là nỗi giằng xé của trái tim anh. Anh không muốn em cô đơn đi một mình trong cõi đời này vốn dĩ hoang vắng như sa mạc!

Chính vì lẽ đó mà anh muốn năm tháng sẽ xóa nhòa đi bóng dáng anh trong tâm tưởng, trong ký ức của em. Và anh đã không trở về, nơi anh có mối tình đầu đẹp như mộng. Anh thôi không thư từ, tin tức với em nữa… Anh muốn từ bỏ quá khứ đau buồn vì không cùng em đi trên quãng đường dài của cuộc đời. Cho dù vậy, em vẫn ngự trị trong tim anh! Em là điểm tựa tâm hồn anh của tình yêu và cuộc sống mọi lúc mọi nơi, ngày qua, hôm nay và mãi mãi sau này. Anh đã biết bao lần thầm gọi tên em: Bích Hạnh ơi! Và anh đã nguyện rằng.

Nếu một mai anh chết

Sẽ hóa thành cây xanh

Mang tình em lên đỉnh

Hát cùng ánh bình minh

Năm nay anh lại về với những ngày hè Hà Nội giữa mùa Euro 88, có gió Tây, có mưa đêm và có cả cơn lốc tháng bảy. Chúng ta lại nhớ đến những câu thơ của Tế Hanh: Bão nghiêng đêm, giật cành tung lá. Anh dắt tay em qua đường cho khỏi ngã…

 Một thời gian khá dài, anh gặp lại Hà Nội thân yêu, gặp lại em. Và, em có biết vì sao anh buồn không? Vì yêu mà buồn thì lòng mới buồn làm sao. Người yêu là tất cả thế giới, vắng người yêu mới trống trải làm sao ! Hà Nội là một phần cuộc đời anh. Hà Nội là em và tất cả những kỷ niệm vui buồn. Tự dưng anh nhớ bài thơ Đôi ta của Nazim Hitmet:

Đôi ta, em hỡi biết đâu

Chưa chừng tha thiết yêu nhau thế này

Nếu từ em đó ta đây

Hồn chưa thông cảm từ ngày còn xa

 

Biết đâu em hỡi đôi ta

Yêu nhau gắn bó thiết tha mặn nồng

Nếu trăm năm cuộc tao phùng

Đời không chia cách giữa lòng đôi ta.

 

   Sao em vẫn vậy, sống cô đơn. 28 năm cô đơn chưa đủ sao, hay em muốn đi tu giữa cuộc đời trần trụi này!

Anh muốn sống cho em, vì em những ngày này. Sống hết mình, bất chấp mọi dư luận, mọi ràng buộc. Ba mươi ngày đêm ấy có mấy đêm buồn? Anh lắng từng hơi thở của em, muốn nghe em thủ thỉ, muốn thấy em cười.Anh nhìn em ngủ, thơ ngây, thánh thiện. Anh đoan chắc rằng Hà Thành đã có “tứ đại mỹ nhân” và sẽ có thêm một mỹ nhân nữa là Bích Hạnh của anh đó.

Kỳ lạ thay. Đôi mắt em vẫn đượm nét u sầu, ủ dột. Và vầng trán ấy nặng trĩu ưu tư. Và với anh, em rất gần lại rất xa. Chúng ta lại sóng bước trên từng viên đá lát của đường phố Hà Nội.Chúng ta lại vào Nhà hát lớn, vào rạp Công Nhân, Hồng Hà. Những vở kịch không vui sao lắm thế. “Đêm mùa hạ cay đắng”, “Những đứa con oan nghiệt”, “15 ngày kháng án”, “Mảnh đời ngộ nhận” và “Ông không phải là bố tôi”. Những vở kịch của Lưu Quang Vũ, một nhà viết kịch tài hoa nhưng đoản mệnh.

Rồi chúng ta lại xa rời nhau để rồi giờ đây chỉ biết ngậm ngùi, ân hận! Và anh nữa, anh cũng tự trách mình không đủ bản lĩnh và lòng dũng cảm để giữ lấy người mình yêu. Một chút ngông nghênh, một chút mã thượng, một chút hảo hớn để rồi mất em vĩnh viễn. Lỗi lầm này biết bao giờ chuộc nổi?

Chúng ta lại có những đêm mưa và những chiều nắng. Hà Nội vẫn là Hà Nội của chúng ta. Hồ Tây gợi nhớ. Hồ Gươm gợi thương. Con đường vào Nghĩa Đô sao mà dài thế. Anh đèo em trên chiếc xe đạp hiệu Mifa vào thăm u và anh chị Ngọc Lư. Ngồi sau xe, em kể chuyện Hà Nội trong những năm chúng mình xa nhau Và câu thơ của Xuân Diệu; “Tiếng em ríu rít sau xe” lại xuất hiện trong đầu anh.

 Lại có nhưng giây phút nôn nao khắc khoải đơi chờ. Những hờn dỗi thoảng qua, những trách móc không nói. Một triệu lần anh khẳng định Yêu là buồn. Càng yêu lắm càng buồn nhiều. Có đúng vậy không em?

                                        ***

Anh gửi cho em một truyền thuyết, rút ra từ trong cuốn sách em đang đọc đó.Truyền thuyết kể rằng:

“Có một loài chim chỉ hót lên một lần trong cả đời nó. Tiếng hót đó ngọt ngào hơn bất cứ sinh vật nào trên trái đất này. Ngay khi vừa rời tổ, loài chim ấy bay đi tìm một thứ cây có những cành gai nhọn. Chúng bay bay mãi không chịu ngơi nghỉ cho đến khi tìm được mới thôi. Sau đó, nó cất tiếng hót trên những cành cây hoang dại rồi lao thẳng vào cây gai dài nhất và nhọn nhất, cây gai xuyên thủng qua ngực giữa cơn hấp hối. Lạ thay, một tiếng hót  vút cao, thánh thót hơn cả tiếng của sơn ca hay họa mi. Tiếng hót tuyệt vời đánh đổi bằng cả cuộc sống. Trời đất ngưng đọng lại để lắng nghe, còn Thượng đế trên cao thì mỉm cười. Bởi rằng sự tuyệt vời chỉ có được bằng niềm đau vô tận ấy…”

Hãy bay đi, bay nữa đi, bay mãi đi hỡi em yêu, chừng nào em tìm thấy tiếng hót tuyệt vời của con chim truyền thuyết. Niềm đau vô tận sẽ cho em hạnh phúc. Còn anh xin nguyện làm cành mận gai nhọn nhất của đời em.

Hà Nội hôm nay chắc trời xanh trong lắm phải không em?

Ơi ngọn gió thu lành

Mang mảnh trời thu xanh biếc

Mang mây chiều pha ráng bạc

Mang tình anh bay tới phương em

 

Hà Nội, Tháng Bảy.

Biên Hòa, Tháng Tám – 1988

Và Tháng Mười – 2012

Đăng lại, ngày 30/3/2021

 XUÂN BẢO.