Trang

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2021

325, Những bài thơ ngày ấy và bây giờ P.1

 325.

NHỮNG BÀI THƠ  NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ

Một ít tâm sự. Năm 1968, Ba tôi tròn một hoa giáp. Cụ sinh năm 1908 và đi Vệ Quốc Đoàn (Bộ đội Cụ Hồ),năm 1945 và đã nằm xuống trên chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa năm 1948, khi mới 40 tuổi.

Năm 1968, là năm Tổng diễn tập giải phóng miền Nam. Biết bao đau thương trong năm này. Máu của hai bên đã đổ. Chiến tranh không còn hạn chế ở nửa nước yêu thương mà đã tràn khỏi vĩ tuyến 17. Cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ bằng việc khởi sự ngày 5 tháng 8 năm 1964 với “sự kiện vịnh  Bắc Bộ”. Bom trên trời rơi xuống và đạn dưới đất bắn lên. Dải đất hình chữ S bao trùm đau thương và tang tóc!

Có lần tôi trò chuyện với cố thi sĩ Phạm Tiến Duật. Tôi bảo rằng: Ông viết “đường ra trận mùa này đẹp lắm…” Sao đi bắn giết nhau, trong cuộc chiến “ cốt nhục tương tàn”, mà ông cho là đẹp. Cái đẹp thật quỷ quái  và hung bạo!”

Từ những suy nghĩ miên man đó, tôi thấy trách nhiệm của người cầm bút và viết nên bài thơ Trầm tư này. Tôi coi đó là Tuyên ngôn Thi.

I.

TRẦM TƯ

  Đêm trầm tư nghĩ ngợi trong sương

Hỡi cô đơn sao đi mãi trên đường

Dưới bầu trời uy nghiêm tráng lệ

      Em đi như cánh buồm dạt đại dương

 

Đêm trầm tư nghĩ ngợi mông lung

Đường vô tận cao tít không trung

Vũ trụ bình yên xanh tươi chói lọi

                                       Em đi đi tới chốn khôn cùng

 

Hỡi em vầng trán nặng ưu tư

Như trái đất này ngủ mãi trong mơ

Có phải mây cũng trầm tư lặng lẽ

Gió đưa em về một nẻo trời xa

 

Cả vũ trụ là một khối trầm tư

Cả cô đơn cả em nữa vô bờ

Mà mỗi nét là một vì tinh tú

Khắc trong lòng anh một điệp khúc thơ

 

                                           Hà Nội, 6/12/1968

 

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 19/11/2020

Nhà thơ Xuân Bảo.

(Bài đã dăng Fb ngày này)

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ.

 

Nhớ về Những năm tháng hào hùng của thủ đô yêu quý – một thời bao cấp gian khó – hạt gạo xẻ làm tư.

 

 

2.

NGUYỆN 2

 

Đã là hoa

Hãy là đóa hoa hồng

Gai có sắc

Nhưng rất đượm hương nồng

 

Ta không muốn

Là hoa lụa hoa giấy

Cắm trên bàn

Rộn sắc mà không hương

 

Đã là hoa

Xin hãy là hoa lửa

Giữa trời cao

 Hoa nở rộ chiến công

 

Ta là hoa

Của muôn lòng chiến sĩ

Trong chiến hào

Hoa nở tràn dũng khí

 

Nguyện là hoa

Của mặt trời muôn thuở

Rất yên lòng

Dưới mồ sâu – hoa nở

 

                          Hà Nội, 6/8/1963.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 19/11/2020

Nhà thơ Xuân Bảo

 

_______________________________________

 

NHỮNG BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ.

 

                                                   3.

           NGÔI SAO TAN BIẾN

 

 Một ngôi sao xuất hiện

Giữa vũ trụ bao la

Rồi đột nhiên tan biến

Vào nơi xa, rất xa

 

Mây buồn vương một áng

Mắt em còn buồn hơn

Mấy mùa đông ảm đạm

Vệt sầu hẳn chưa tan?

 

Chiều nay mưa xối xả

Em đã tới cùng anh

Phải rồi đám mây lạ

Lờ lững giữa muôn xanh

 

Anh muốn em mọc cánh

Ngự trị hồn thơ anh

Anh ơi! Đêm nay lạnh

Mà mắt em long lanh

 

Một ngôi sao rực rỡ

Vừa xuất hiện nơi đây

Và cuộc tình tan vỡ

Cũng chính từ nơi đây

 

Hà Nội, 16/8/1968.

 

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 25/11/2020

Nhà thơ Xuân Bảo

 

___________________________

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   

  .NHỮNG BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ

4.

CÁNH CỬA PHÒNG VÀ MỘT BÔNG HOA

Cánh cửa phòng tôi mây chiều vẫn tới

Nắng bốn mùa soi suốt quanh năm

Thấy bóng em qua sáng trưa chiều tối

Dưới ngọn đèn kia trang giấy yên nằm

 

Đời đã cho ta một trời thơ rộng

Có cửa phòng mong đón bước em qua

Có nắng mưa và hồn người dệt mộng

Có thêm em như đời thắm sắc hoa

 

Không! Năm tháng đâu dài như ta nghĩ

Có chờ mong như có những vui buồn

Thắp nến lên mà đi tìm chân lý

Vẫn nằm yên trang giấy có gì hơn

 

 Rồi một ngày kia cửa phòng khép lạ

Hờ hững thời gian trôi ở phía ngoài

Mây chiều thôi ngẩn ngơ không tới

Em không về qua những buổi sớm mai

 

Cửa không mở trong phòng thiếu nắng

Trả lại đời những áng thơ hay

Trên bàn kia vẫn nguyên tờ giấy trắng

Gió ùa vào lật trang giấy bay bay

 

Không! Năm tháng đâu dài như ta nghĩ

Bởi lòng người không chịu tới bên nhau

Ta xa nhau như hai mút đầu thế kỷ

Nàng Thơ ơi! Em nương náu nơi nao?

 

Tôi mở cửa phòng xuống đường phố vắng

Gặp em qua trao một nhành hồng

Nhận bông hoa cả trời sao yên lặng

Hai mái đầu trăng chiếu sáng mênh mông

 

                                      Hà Nội, 7 – 8 – 1970

Bên bờ Phước Long Giang, sáng 26/11/2020.

Nhà thơ Xuân Bảo.

 

Mấy lời ghi nhận. Khi đọc bài thơ này, nhà thơ Trường Giang Đại Hải đã cảm tác làm tặng tôi vào mùa thu 1970. Không có tựa đề.

Bỗng gặp thơ anh cửa phòng vội khép

Thời gian ơi! Mùa gió chẳng yên lành

Buồng trống trải lấy thân làm tấm liếp

Trời điên cuồng hay bão giữa lòng anh?

 

Một bông hoa tôi muốn hái tặng mình

Ơi giông tố dập vùi năm tháng trọn

Tôi phut thấy những tương lai chào đón

Giông tố qua rồi mùa lại nở hoa xanh.

18/8/1970.

Tôi phúc thơ của TGĐH:

Anh đọc thơ tôi một ngày thu đẹp

Thời gian mang mùa gió mới yên lành

Hết trống trải đời giương buồm căng rộng

Bão tố nào lay được những cành xanh

 

Tôi phút thấy lòng dâng triều vẫy gọi

Ngắt bông hoa ta dành để tặng mình

Dù giông tố sắc hương nồng rất đỗi

Cánh cửa phòng mở rộng đón binh minh

                                                24/8/1970.

Chú thích. Bài thơ Cánh cửa phòng và một bông hoa, tôi đã đăng trên Fb của tôi  trước đây, nay đăng lại.

Bên bờ Phước Long Giang, trưa ngày 26/11/2020

Nhà thơ Xuân Bảo.

 

 

 

 

 

 

NHỮNG  BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ.

5.

HƯƠNG ĐÊM

 

Hà Thành sao lắm người đẹp mang chữ đệm là THANH. Thanh Hằng, Thanh Tú, Thanh Yên, Thanh Mai, Thanh Hà…

Tôi quen biết Thanh Hà khi cô làm thuyết minh rạp ciné Kinh Đô. Thuyết minh phim là một nghề được tuyển chọn khá kỹ càng. Nhưng trước hết là giọng nói, phải tròn vành rõ chữ, khúc chiết, hấp dẫn dễ nghe.

Có một đêm, khi công việc ở rạp đã xong, Hà đến tìm tôi ở 13 phố Phan Bội Châu, cũng gần rạp Kinh Đô.

Và chúng tôi đã cùng nhau đi bộ. Hồi đó có được chiếc xe đạp là quý lắm, nhưng lương cán bộ, công nhân, viên chức thì khó mà sắm. Vả lại, mỗi khi ngành Thương nghiệp gửi phiếu phân phối về thì công đoàn cơ quan tổ chức họp bình xét, ai được ai không. Đã có những cuộc bình xét lại mang lại sự mất đoàn kết.

Chúng tôi cùng đi trên con phố Hàng Bông Ruộm (cũng thường gọi là phố Hàng bông thợ nhuộm). Đi từ phố Phan Bội Châu về phố Mai Hắc Đế (nhà Thanh Hà). Và rồi, Thanh Hà thấy để tôi về một mình thì không yên tâm, nên cô lại đưa tôi về lại phố Phan Bội Châu. Và tôi lại đưa Hà về nhà.

Và cứ dùng dằng mãi cho đến khi nhạc hiệu đài Tiếng nói Việt Nam, cất lên chào ngày mới thì chúng tôi chia tay.

Từ cảm xúc đó, tôi làm bài thơ này.

 

 

 

 

      HƯƠNG ĐÊM

                               Gửi Thanh Hà

 

Đi bên em đường tỏa thơm ngát ngát

Dạ hương bay hay chính tự hồn em

Anh như ngây trong men nồng đắng chát

Của tình ta hòa gió lộng trời đêm

 

Đây tình yêu em và hạnh phúc anh

Nghe như nắng chuyển nhựa lên cành

Vì em, vì anh sướng vui buồn khổ

Bão tố qua rồi có lộng lẫy trời xanh?

 

Đi với em thêm một quãng đường

Chia tay rồi mà vẫn luyến mùi hương

Phố đẹp ra cây cành vui vẫy vẫy

Mỗi ngọn đèn đều in bóng em thương

 

                                      Hà Nội, 1959.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 22/11/2020

Nhà thơ Xuân Bảo.

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ

6.

BIẾT EM TÁM MÙA XUÂN

Có mấy lời về bài thơ này. Hôm qua, ngày 19/11/2020, con gái Nguyễn Thúy Ngọc của chúng tôi bay về thủ đô. Trước khi đi, nhà tôi bảo: Con gắng lên Chùa Hà, thăm bà Bích Hạnh nhé.

Tôi gửi ra cho Bích Hạnh cuốn sách Huế trong tôi vừa hoàn chỉnh, đang xin giấy phép xuất bản. Trong lời đề tặng, tôi có viết thêm địa chỉ và số điện thoại của Đỗ Huyền Anh (con gái Bích Hạnh).

Ra đến nơi, Thúy Ngọc nhắn tin về cho tôi. Nội dung: Con vừa xuống sân bay ! Việc của ông nhờ, chiều con sẽ thực hiện luôn ! Giữ sức khỏe ông nhé ! Tối con gọi điện thoại cho bà báo cáo cụ thể để ông biết !.

 Đúng 15 giờ, Thúy Ngọc gọi Zalo cho nhà tôi, báo đã lên Chùa Hà và đang ở nhà bà Bích Hạnh. Nhà tôi, nói chuyện với Thúy Ngọc và Đỗ Huyền Anh. Trong máy hiện lên hình ảnh Bích Hạnh, vẫn béo tốt, duy do bệnh tật không đi lại được nên thân hình có vẻ nặng nề, còn đôi chân thì dường như hơi bị bé lại. Hai bà nói chuyện với nhau. Bích Hạnh khen Thúy Minh vẫn đẹp như xưa. Thúy Minh khoe với mẹ con Bích Hạnh, vẫn chạy xe máy, mặc dù đã ở tuổi bát tuần.

Tôi thì thấy hơi xao xuyến trong lòng, tiếc cho một mỹ nhân Hà Thành, cả cuộc đời như câu thơ ngày xưa tôi tặng nàng:

Em tên là Bích Hạnh

Lại hóa thành bất hạnh!

 

BIẾT EM TÁM MÙA XUÂN

Gửi Bích Hạnh

Biết em tám mùa xuân

Trọn tám mùa thương nhớ

Xa em tám mùa xuân

Tám mùa đào vẫn nở

 

Em lại đến cùng anh

Mưa buồn qua cửa sổ

Nhựa vẫn chuyển cành xanh

Mà hạnh phúc tan vỡ?!

 

Biết nói gì với em

Khi thuyền rời xa bến

Đây lời thơ tâm tình

Gửi em niềm thương mến

 

Hà Nội đã vào xuân

Xa em da diết nhớ

Nghe thôi thúc lòng anh

Sóng mùa xuân vỗ vỗ

 

Hà Nội, 1968.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 20/11/2020.

Nhà thơ Xuân Bảo

 

NHỮNG BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ.

7.

     Ngọn gió thu hay còn có tên là Màu thu

Gửi Nguyễn Thị Lệ Vân

Ơi ngọn gió thu lành

Mang mảng trời thu xanh biếc

Mang mây chiều pha ráng bạc

Mang tình em bay tới phương anh

 

Thăm thẳm trời xa một cánh chim

Gửi mây chiều

Gửi cánh chim mảnh tình cháy bỏng

Bay giữa khung trời

Bay giữa cuộc đời

Là tình anh gửi về em đó

 

Ngoài kia – bên ngoài khung cửa sổ

Dập dìu cò trắng, lấp loáng trời xa

Ngọt ngào trong mỗi điệu dân ca

Anh gửi về em mênh mông buồn nhớ

Ơi mùa thu xanh

Mùa của yêu đương vương vấn

Đôi mắt em in trời thu tròn trặn

Cánh cửa đời sao mà vuông vắn

Gợi nỗi buồn da diết mênh mang

Khúc nhạc Sube gợi những chiều vàng

 

Trong mây mùa thu em có thấy

Trong gió mùa thu em có nghe

Và trong cánh chim bay

Màu trời thu đọng sắc

Nghe chăng em tiếng lòng anh đó

Mà chiều nay bên khung cửa sổ

Hồn anh tìm tới phương em.

Hà nội, 20/8/1968.

Vài kỷ niệm với Lệ Vân.

Nghệ sĩ kịch nói của Đoàn Văn công Công an Nhân dân Vũ trang do ông Lê Đóa làm trưởng đoàn. Hồi đó, lưc lượng Công an Nhân dân Vũ trang, sau này lập thành Bộ đội Biên phòng. Bộ Tư lệnh đóng tại số 3, phố Đinh Công Tráng, Hà Nội.

Tôi có người cậu là ông Nguyễn Thành Chương, Ban Chính trị Bộ Tư lệnh, ngày chủ nhật thường ra thăm chúng tôi ở 59 phố Hàng Đào. Đi theo cậu có Nguyễn Thị Lệ Vân, diễn viên kịch và Khúc Tuyết Cần ở C. 21, Thông tin.Gia đình chúng tôi coi Lệ Vân như người nhà.

Có một hôm, Lệ Vân mời chúng tôi xem vở kịch Nắng soi dòng suối Păng Pơi, ở rạp Hồng Hà, mà vai chính là Lệ Vân.

Kịch bản có đoạn, người đàn bà dân tộc đau đẻ, kêu van thống thiết, trong khi ông thày Mo cứ cầm nắm hương múa lên trời. Có một phụ nữ, ngồi xem cùng dãy ghế chúng tôi, đứng dậy la to: sao không đưa đi nhà hộ sinh mà cứ đứng đó múa may quay cuồng vậy? Nhiều khán giả hôm đó cũng bị cuốn vào cơn đau đẻ của sản phụ.

Chứng tỏ tài diễn xuất của Lệ Vân thật tuyệt!

Còn nhiều kỷ niệm với Lệ Vân nữa xin để dành dịp khác hầu bạn đọc.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 28/11/2020.

Nhà thơ Xuân Bảo

 

 

 

NHỮNG BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ.

8.

Ý XUÂN

Chao nghiêng cánh én ngang trời

Xanh xanh nước biếc sáng ngời mây xuân

Nắng buông một dải lụa hồng

Xuân về đem nhớ đem mong cho người

Cô tự vệ súng không rời

Tầm Xuân * giữ đảo – nụ cười rất duyên

Xuân sang pháo nổ đôi miền

Nhìn theo cánh én chao nghiêng mặt hồ

                  ***

Cảm ơn bạn đã tặng thơ

Ý xuân âu cũng là cô Xuân nào?

 

Hà Nội, Xuân 1968

*Đảo Tầm Xuân giữa lòng Hồ Tây, Hà Nội.Đây là bài thơ tôi phúc đáp     Thơ của nhà văn Trần Thanh, tác giả tiểu thuyết Nhãn đầu mùa, tặng tôi.

Bên bờ Phước Long Giang,ngày 2/12/2020.

Nhà thơ Xuân Bảo.

 

 

 

NHỮNG BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ.

9.

TỰ DO

Chú thích ảnh.Từ trái sang phải. 1-Tượng Thần Tự do ở Mỹ. 2- Tượng Thần Tự do ở Pháp. 3-Tượng Thần Tự do ở Hà Nội.

Tự do là bài thơ tôi viết ở hậu bán niên thế kỷ 20 không được xuất bản, mà còn bị phê phán thiếu tính đảng. Nay tôi cho đăng lại để nhớ về một kỷ niệm buồn. Bài thơ này mãi đến năm 1997 mới cho in trong tập thơ Mấy nhành hoa tím.

TỰ DO

 Tự do hai tiếng ngọt ngào

 Êm như nhựa đất chuyển vào thân cây

 Đời cho ta chút men say

 Tự do nâng cánh ta bay diệu kỳ

                                                            Hà Nội – 1955

 

 

…Tôi nắn nót trên từng trang giấy trắng.

Hai chữ Tự do như viết thư tình

Mỗi ngày qua tôi lại đợi bình minh

Tiếng gà gáy như một lời báo hiệu…

 

Lời bình: Tự do là một trong 3 quyền CON NGƯỜI. Được đặt theo tên của nữ thần La Mã Libertas, tên đầy đủ của người phụ nữ bị cướp là Liberty Enlightening the World. Trên lá Quốc kỳ nước Pháp, Tự do được biểu trưng cho khẩu hiệu: Tự Do - Bình Ðẳng - Bác Ái (Liberté - Égalité – Fraternité), với 3 màu xanh, trắng, và đỏ. Quốc kỳ với 3 màu sắc khác nhau đó thể hiện tam quyền phân lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp.          

Dưới tiêu ngữ của nước Việt Nam từ lập quốc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là câu Độc Lập -Tự Do - Hạnh Phúc. Nó thể hiện chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn là Dân tộc độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh phúc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG BÀI THƠ NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ.

 

 

 10.

NHÀ THƠ TÌM GÌ?

Viết nhân xem kịch bản vở kịch múa Hạn hán và Cơn mưa của Ea Sola, do nhà thơ Nguyễn Duy chuyển giao.

 

1.

 

Ta cúi lom khom tìm gì trong đất

Đất vẫn là đất son sắt một màu

Ta rằng sống để yêu nhau

Như cây lúa nước khát khao nắng trời

Vần thơ để lại cho đời

Là lòng ngay thẳng của người làm thơ.

 

2.

Ta đi tìm lại Nàng Thơ

Vần thơ thuở ấy bây giờ còn đâu

Đến nay tóc đã bạc màu

Câu thơ ngày ấy vẫn sầu miên man

 

                             3.

 

Cháu cúi lom khom tìm gì trong đất?*

Cháu tìm nụ hoa gãy nát ngoài sân

Trời cao mây vẫn xoay vần

Hết mưa lại nắng tuần hoàn ngày đêm

 

    4.

 

Tuổi thơ sặc sỡ gam màu

Thiên nhiên là  những lời cầu nguyện xưa

Sáng ra những buổi tinh mơ

Tôi mua vũ trụ, tôi ca bầu trời

Xích gần lại bạn đời ơi!

Còn bao giây phút cho đời gặp nhau

 

    5.

 

Vén lên những đám mây trời

Cho cơn giông đến bời bời hạt mưa

Bao nhiêu năm đợi tháng chờ

Cơn mưa như đã dẹp bờ hanh hao

 

    6.

 

Đất mẹ cho ta tiếng hát chèo

Sân đình chiếu hẹp vốn gieo neo

Từ độ quen em ngày thơ dại

Mà suốt dặm đời..

 

    7.

 

Tranh chấp nhau chi hỡi nắng trời

Hỡi cơn mưa ấy thắt tim tôi

Ở đời thiện ác khó phân giải

Còn lại mình ta với em thôi.

_________________

*Thơ Nguyễn Duy.

 

 

 

 

 

Vài nét về vở kịch Hạn hán & Cơn mưa.

Ea Sola tên tiếng Kinh là Nguyễn Thị Bích Thủy,  dân tộc K ? sinh tại Di Linh, Lâm Đồng.

 

 

 

Mô tả: C:\Users\asus\Downloads\_Thuy-Ea-Sola(3).jpg

Kịch múa Hạn hán và Cơn mưa

 

Thủy Ea Sola có bố là người Việt, mẹ là người Pháp, nhưng chị từng trải qua thời niên thiếu tại Tây Nguyên, khi Việt Nam còn trong khói lửa chiến tranh.

 

Gần như cùng thời điểm, Thủy Ea Sola về Việt Nam, tìm lại một Việt Nam từng có trong sương mờ ký ức và vật vã dựng nên vở múa gây sững sờ cho giới “nghệ”: “Hạn hán và cơn mưa” cùng nhiều vở khác sau đó…

 

20 năm qua, “đường về nhà” với họ vì vậy không thể tính bằng khoảng cách địa lý giữa Pháp và Việt Nam, mà phải đo bằng chiều dài ký ức, và chiều sâu Mô tả: C:\Users\asus\Downloads\Thuy-Ea-Sola(5b).jpg

Chân dung Ea Sola.

Mô tả: C:\Users\asus\Downloads\_Thuy-Ea-Sola(2) (1).jpg

Hinh ảnh vở Hạn hán và Cơn mưa

 

Ngày 4/5/2005, lễ trao tặng bản quyền vở múa "Hạn hán và cơn mưa" phần II của biên đạo múa Ea Sola cho Nhà hát Ca vũ kịch VN đã diễn ra tại L'Espace.

Cho tới nay, Ea Sola đã viết và dàn dựng năm vở múa tại Việt Nam. Vở Hạn hán và cơn mưa được một số Việt kiều hỏi mua bản quyền với giá khá cao, nhưng Ea Sola đều từ chối. Đơn giản vì chị muốn làm việc với người trong nước và muốn vở múa tồn tại được ở VN, nơi chị từng sinh ra và lớn lên. Một nguyên nhân sâu xa hơn cả, đó là vì chị thấy VN là nơi xứng đáng để nói lên tiếng nói hòa bình.

 

Đúng 10 năm trước, sự kiện Ea Sola Thuỷ, một Việt kiều Pháp đưa 14 cụ bà nông dân Thái Bình, Nam Hà (Nam Định) đi lưu diễn tại 14 nước châu u với vở múa đương đại Hạn hán và cơn mưa đã gây được sự chú ý của dư luận VN và thế giới.

 

14 ”diễn viên” đầu tiên của Hạn hán và cơn mưa gồm người trẻ nhất là  50 tuổi, già nhất 76 tuổi. 13 bà sống ở Quỳnh Phụ và Đông Hưng Thái Bình, chỉ có bà Trịnh Thị Ngăm ở Kim Bảng, Nam Hà, 73 tuổi. Ea Sola chọn vì tình cờ xem được một đoạn băng video quay cảnh đội hát dặm của bà, thấy ở bà có một điều gì đó thật đặc biệt...

 

Ngày 4/5/2005, từ Thái Bình, các cụ đã tới tham dự lễ trao bản quyền phần II theo lời mời của Ea Sola... và vẫn hăng hái như hồi nào. Chỉ có cụ già nhất năm nay đã 86 tuổi không tới dự được vì lý do sức khỏe.

Với Hạn hán và cơn mưa phần II, Ea Sola Thủy sẽ làm việc với các diễn viên trẻ của Nhà hát ca vũ kịch VN. Vẫn với chủ đề về chiến tranh, nhưng là chiến tranh qua con mắt người trẻ, những người chỉ được biết đến chiến tranh qua những lời kể, những bộ phim tư liệu. Cũng với chất liệu dân tộc, nhưng Hạn hán và cơn mưa phần II là  bản cập nhật.

 

Ea Sola cho biết: “Tôi muốn người trẻ VN sẽ nói không với chiến tranh. Đa số giới trẻ trên thế giới ngày nay không biết về chiến tranh, nhưng  liên tục nhìn thấy chiến tranh qua hình ảnh trên truyền hình. Tôi muốn bắt đầu dàn dựng vở này tại VN và truyền thông điệp của mình ra thế giới.”

 

Bên bờ Phước Long Giang,ngày 26/112020.

Nhà thơ Xuân Bảo

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bà Cố Nguyễn Thúy Minh với cháu cố Phan An Nhiên

                Ảnh của Bà Ngoại Nguyễn Thúy Hương chụp hôm kỷ niệm sinh nhật Bà Cố

Mô tả: Hình ảnh có thể có: 4 người, bao gồm Xuan Bao, mọi người đang đứng, mọi người đang ngồi và trong nhà

Bà Cố Thúy Minh 80 tuổi, sinh ngày 6/11/1941  với cháu cố Phan An Nhiên (Annie), 7 tuổi,    sinh  ngày 11/12/2013.

Các bình luận.

Nguyển Ngọc Túy.  Đại Hào, Triệu Đại, Triệu Phong, Quảng Trị

2 CỐ CHÁU ĐẸP QUÁ CON TY DỂ THƯƠNG HÈ!

 

Phap Nguyen. Thuận Thành, Bắc Ninh

Rất tuyệt. Bé xinh như bà lúc còn lon ton đến lớp tại Ước Lễ Hà Tây.

Xin chúc mừng 2 bà cháu & gia đình.

Toan Dinh. Biên Hòa, Đồng Nai

Bà Cố và Chắt có đôi mắt giống nhau... Đẹp, rất đẹp. Chúc Bà Cố luôn vui vẻ, mạnh khỏe bên gia đình và con cháu.

Hai Dinh Thi. Đinh Thị Hải, Th. phố Thủ Đức (Vợ ông Nguyễn Minh Di).

Rất xinh tươi đấy !

Minh Hà Minh. Xuân Tâm, Xuân Lộc, Đồng Nai

Chức mợ luôn mạnh khoẻ vui vẻ, dể sống lâu với con cháu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                 

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2020

324. Tiếng Quảng Trị quê miềng

 

324. TIẾNG QUẢNG TRỊ QUÊ MIỀNG.
Có một ôông được đưa về làm bí thơ quê miềng.Ôông mần được nửa mùa,rồi ông rút.Ôông nớ nói rằng:.Tiếng Quảng Trị là một ngoại ngữ.Ông nớ khôông hiểu dân quê miềng nói cấy chi, nên ôông nớ xin đi nơi khác. Ai có dớ người đó là ai không hý?
Tôi đọc chộ trên Fb Hoa Dại, thấy bui bui, nên dịch ra tiếng phổ thông cho mọi người thưởng lãm
Nhà thơ Xuân Bảo
____________________________
Hoa Dại
Trước khi đọc yêu cầu bạn phải có bằng C tiếng Quảng Trị hoặc A1 tiếng miền trung.
Sao không dịch ra tiếng phổ thông để mọi người hiểu?
Vậy thì Xuân Bảo này xin dịch :
Ai Quảng Trị mí hiểu hí. Dịch là: Ai người Quảng Trị mới hiểu nhé 🤣🤣🤣
Thơ viết nguyên bản và bản dịch của nhà thơ Xuân Bảo.
Ngó trộ mưa rào, út lại dớ quê,
Dịch: Thấy trận mưa rào, Út lại nhớ quê
Bảy tám năm ni, út chưa về Quảng Trị.
Dịch: Bảy tám năm nay,Út chưa về Quảng TRỊ
Dớ mạ, dớ ba, dớ eng, dớ chị,
Dịch: Nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ anh, nhớ chị
Mới nghị rứa thôi, nác mắt chảy dài
.Dịch: Mới nghĩ thế thôi, nước mắt chảy dài
Dớ ngày mùa, sương ló trẹo cả bai.
Dịch: Nhớ ngày mùa, gánh lúa sụn cả vai
Sáng đi mót khoai, chiều đi mò ốốc.
Dịch; Sáng đi mót khoai, chiều đi mò ốc
Nỏ mũ nón chi, nắng e nẻ trốốc,
Dịch: Không mũ nón chi, nắng e nứt trốc
Dọọc thì dọọc mà bui quái eng hè?
Dịch: Nhọc thì nhọc mà vui quá anh hè
Cả dà miềng chỉ có một cấy xe.
Dịch: Cả nhà mình chỉ có một cái xe
Ngày mô cũng nghe, mạ kêu lủng lốp.
Dịch: Ngày nào cũng nghe, mẹ kêu thủng lốp
Ba lại soạn ra bốn năm cấy hộp.
Dịch: Cha lại soạn ra bốn năm cái hộp
Cạy lốp ra, rồi bá chịt bá chằng.
Dịch: Cạy lốp ra rồi vá chịt vá chằng
Dớ mỗi lần soạn chén đọi dọn ăn.
Dịch: Nhớ mỗi lần soạn chén bát dọn ăn
Chộ nồi cơm, sắn hấp đằn trặt cứng.
Dịch: Thấy nồi cơm, sắn hấp đè chặt cứng
Mạ đi mần rọọng, lặt mô về cấy trớớng.
Dich:. Mẹ đi làm ruộng, nhặt đâu về cái trứng
Lọọc vội lọọc vàng, chế nác mắm chắm rau.
Dịch: Luộc vội, luộc vàng chế nước mắm chấm rau
Eng thì ưng ceng chứa nấu cá tràu
Dịch:Anh thì thích canh chứa (chữ CHỨA này không có nghĩa) nấu cá tràu. (chữ ceng trong tiếng Việt không có, nếu viết thì là Keng )
________________
Chú thích: Chắc câu này tác giả muốn viết":
Anh thì thích canh chua nấu cá tràu
Chị thì ưng nấu canh rau bù lột.
Dớ có bựa đang ăn thì mưa, dà dột.
Dịch: Nhớ có bữa đang ăn thì mưa, nhà dột
Mấy eng tam bơơng thau hớớng khắp dà.
Dịch: Mấy anh em bưng thau hứng khắp nhà
Dớ cấy ngày út đi lấy dôông xa.
Eng chị chạy ra cuối đàng để tiễn.
Dịch: Nhớ cái ngày Út đi lấy chồng xa
:Anh chị chạy ra cuối đường để tiễn
Út nghị vài bựa chắc đi về cũng tiện
Dịch: Út nghỉ vài bữa chắc đi về cũng tiện
Có ngờ mô, biền biệt tới hôm ni.
Dịch: Có ngờ đâu, biền biệt tới hôm nay
Ngó trộ mưa rào, út lại dớ quái đi..
Dịch: Thấy trận mưa rào, Út lại nhớ quá đi.
(Mới lượm)
Bên bờ Phước Long Giang, ngày 21 tháng 8 năm 2020.
Nhà thơ Xuân Bảo-NGƯỜI CHÌNH GỐC QUẢNG TRỊ.

323. Tuyên ngôn Độc lập của VNDCCH

 323. Tuyên ngôn Độc lập của VNDCCN.

Ngày này, cách đây 49 năm, – 1969, Hà Nội vẫn trong tình trạng chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Đồng bào ta vừa đánh giặc vừa vui Tết Độc lập. Không ít người biết đến Bộ Chính trị ĐCSVN, đứng đầu là Bí thư thứ nhất Lê Duẩn cùng các giáo sư,bác sĩ đang sốt ruột lo lắng vì bệnh tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh có chiều hướng không tốt.

Nhân Quốc khánh năm thứ 75 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2/9/1945 – 2/9/2020, tôi đăng lại toàn văn Tuyên ngôn Độc lập. Và có trích dẫn thêm 2 văn bản, Đó là, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp và Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ.
Nhà thơ Xuân Bảo.
Tuyên ngôn Độc lập 2/9/ 1945.
Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi"
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.
Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên bái và Cao bằng.
Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
___________________
Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945), do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trước quốc dân đồng bào chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945
Ngày nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập, chúng ta thấy rõ nét đặc sắc của văn kiện này là ở sự tích hợp hai giá trị: Một, độc lập dân tộc là quyền cộng đồng và hai, quyền con người là quyền và khát vọng của cá nhân. Đây là những giá trị cao cả của thời đại.
Ảnh 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.
Ảnh 2. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ
Ảnh 3.Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp
Bên bờ Phước Long Giang, chiều ngày 2 tháng 9 năm 2020.
Nhà thơ Xuân Bảo
Nguyễn Thúy Hương, 박인만 và 3 người khác

322. Bài nói của Cụ Phạm Quỳnh nhân Ngày Kỵ của Nguyễn Du

 322.Tiến tới 200 năm Ngày giỗ Đại thi hào Nguyễn Du

Bài diễn thuyết bằng Quốc văn của Cụ Phạm Quỳnh, Đọc tại lễ kỷ niệm Nguyễn Du, nhân ngày mất (10 tháng 3 âm lịch), do Ban Văn học Hội Khai trí tổ chức.
Thưa các ngài,
Hôm nay là ngày giỗ cụ Tiên Điền Nguyễn tiên sinh, là bậc đại thi nhân của nước Nam ta, đã làm ra bộ văn chương tuyệt tác là Truyện Kim Vân Kiều.
Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ niệm để nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã gây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hỏa” rất quý báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi.
Chúng tôi thiết nghĩ một bậc có công với văn hóa nước nhà như thế, không phải là ông tổ riêng của một nhà một họ nữa, mà là ông tổ chung của cả nước; ngày giỗ ngài không phải là ngày kỷ niệm riêng của một nhà một họ nữa, chính là ngày kỷ niệm chung của cả nước.
Hiện nay suốt quốc dân ta, trên từ hàng thượng lưu học thức, dưới đến kẻ lam lũ làm ăn, bất cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết Truyện Kiều, ai ai cũng thuộc Truyện Kiều, ai ai cũng kể Truyện Kiều, ai ai cũng ngâm Truyện Kiều, như vậy thời ai ai cũng đều hưởng cái công nghiệp của cụ Tiên Điền ta, ai ai cũng phải nhớ ngày giỗ cụ và nghĩ đến cái ơn của cụ tác thành cho tiếng nước nhà.
Muốn cảm cái ơn ấy cho đích đáng, hẵng thử giả thuyết cụ Tiên Điền không xuất thế, cụ Tiên Điền có xuất thế mà quyển Truyện Kiều không xuất thế, quyển Truyện Kiều có xuất thế mà vì cớ gì không lưu truyền, thời tình cảnh tiếng An Nam đến thế nào, tình cảnh dân tộc ta đến thế nào?
Văn chương người ta thiên kinh vạn quyển, dẫu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại gì. Văn chương mình chỉ độc có một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc, ví lại khuyết nốt thì dân tộc ấy đến thế nào?
Than ôi! Mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng mình, chột dạ, sửng sốt, rụng rời, tưởng như hòn ngọc ở trên tay bỗng rơi xuống vỡ tan tành vậy. Rồi mới tỉnh ra, sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm:
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Hay là:
Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những phường giá áo túi cơm sá gì.
bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!…
Có nghĩ cho xa xôi, cho thấm thía, mới hiểu rằng, Truyện Kiều đối với vận mệnh nước ta có một cái quý giá vô ngần.
Một nước không thể không có quốc hoa, Truyện Kiều là quốc hoa của ta; một nước không thể không có quốc túy, Truyện Kiều là quốc túy của ta; một nước không thể không có quốc hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn tự văn khế phân minh, chứng nhận cho ta có cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực, “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân một cõi sơn hà gấm vóc.
Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta vậy:
Gẫm âu người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!
Báu ấy là lọt đến tay ta, thật cũng là một cái phúc duyên cho ta, nhưng báu ấy ở trong tay Cụ lại chính là một cái túc duyên của Cụ. Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành ra, những khi đêm khuya thanh vắng vẫn thường tỉ tê thánh thót trong lòng ta, như: Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà vậy.
Cái áng văn chương tuyệt tác cho người đời đó, ai tri lại không phải là một thiên lịch sử thống thiết của tác giả?
Truyện Kiều quan hệ với thân thế cụ Tiên Điền thế nào, lát nữa ông Trần Trọng Kim sẽ diễn thuyết tường tận để các ngài nghe.
Nay tôi chỉ muốn biểu dương cái giá trị của Truyện Kiều đối với văn hóa nước ta, đối với văn học thế giới, để trong buổi kỷ niệm này đồng nhân cảm biết cái công nghiệp của bậc thi bá nước ta lớn lao to tát là dường nào.
Đối với văn hóa nước nhà, cái địa vị Truyện Kiều đã cao quý như thế; đối với văn học thế giới, cái địa vị Truyện Kiều thế nào?
Không thể so sánh với văn chương khắp các nước, ta hẵng so sánh với văn chương hai nước có liên tiếp quan hệ với ta, là văn chương Tàu và văn chương Pháp. Văn chương Tàu thật là mênh mông bát ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với Truyện Kiều, mà xét cho kỹ có lẽ không có sách nào giống như Truyện Kiều. Gốc truyện tuy do một bộ tiểu thuyết Tàu mà ra, nhưng vào tay cụ Tiên Điền ta biến hóa hẳn, siêu việt ra cả lề lối văn chương Tàu, đột ngột như một ngọn cô phong ở giữa đám quần sơn vạn hác vậy. Có người sánh Truyện Kiều với Ly tao, nhưng Ly tao là một bài than, từ đầu đến cuối toàn một giọng bi đát thảm thương, so với Cung oán của ta có lẽ đúng hơn. Có người lại sánh với Tây sương, nhưng Tây sương là một bản hát, từ điệu có véo von, thanh âm réo rắt, nhưng chẳng qua là một mớ ca từ cho bọn con hát, không phải là một nền văn chương chân chính. Cứ thực thì Truyện Kiều dẫu là đằm thắm cái tinh thần của văn hóa Tàu, dẫu là dung hòa những tài liệu của văn chương Tàu, mà có một cái đặc sắc văn chương Tàu không có. Cái đặc sắc ấy là sự “kết cấu”. Nhà văn, nhà thơ Tàu, ngoài những bài thơ văn nho nhỏ, ngăn ngắn, phàm làm sách chỉ biết cách biên tập, không sành cách kết cấu. Biên tập là cóp nhặt mà đặt liền lại; kết cấu là thu xếp mà gây dựng nên, thế nào cho thành một cái toàn bức các bộ phận điều hòa thích hợp với nhau, không thêm bớt được chút nào. Truyện Kiều là một cái toàn bức như thế, mà là một bức tranh thế thái nhân tình vẽ sự đời như cái gương tày liếp vậy.
Xét về cách kết cấu thì văn chương nước Pháp lại là sở trường lắm. Cho nên Truyện Kiều có thể sánh với những áng thi văn kiệt tác của quý quốc, như một bài bi kịch của Racine hay một bài văn tế của Bossuet vậy. Đó là nói về cái thể tài văn chương. Còn về đường tinh thần thời trong văn học Pháp có hai cái tinh thần khác nhau, là tinh thần cổ điển và tinh thần lãng mạn. Tinh thần cổ điển là trọng sự lề lối, sự phép tắc; tinh thần lãng mạn là trọng sự khoáng đãng, sự ly kỳ. Truyện Kiều gồm được cả hai cái tinh thần ấy, vì vừa có cái đạo vị thâm trầm của Phật học, vừa có cái nghĩa lý sáng sủa của Nho học, vừa có cái phong phú tiêu dao của Trang, Lão, lấy lẽ phải ông Khổng mà chế lại sự thần bí của nhà chùa, sự khoáng dật của hai họ. Nhưng mà ngay trong văn chương nước Pháp tưởng cũng không có sách nào giống hẳn như Truyện Kiều, vì Truyện Kiều có những cái đặc sắc mà những nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự “phổ thông”. Phàm đại văn chương, không những ở nước Pháp, ở nước nào cũng vậy, chỉ có những người thượng lưu học thức mới thưởng giám được, kẻ bình dân không biết tới. Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thời ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, “lẩy” Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ thường, kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường hiểu cách thô thiển, nhưng ngâm nga lên thảy đều thấy làm vui tai, sướng miệng, khoái chí, tỉnh hồn.
Thử hỏi cổ kim Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa? Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiều ta là có thể tự cao với thế giới là văn chương chung của cả một dân tộc mười tám, hai mươi triệu người già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều hay cả.
Như vậy thì Truyện Kiều không những đối với văn hóa nước nhà, mà đối với văn học thế giới cũng chiếm được một địa vị cao quý.
Văn chương ta chỉ có một quyển sách mà sách ấy đủ làm cho ta vẻ vang với thiên hạ, tưởng cũng là một cái kỳ công có một trong cõi văn thế giới vậy.
Cái kỳ công ấy lại dũ kỳ nữa là ngẫu nhiên mà dựng ra, đột nhiên mà khởi lên, trước không có người khai đường mở lối, sau không có kẻ nối gót theo chân, đột ngột giữa trời Nam như cái đồng trụ để tiêu biểu tinh hoa của cả một dân tộc. Phàm văn chương các nước, cho gây nên một nền thi văn kiệt tác, phải bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu nhà văn, trong bao nhiêu năm lao công lục lực, vun trồng bón xới mới thành được. Nay bậc thi bá nước ta, đem cái tài ít có trong trời đất, đúc cái khí thiêng bàng bạc trong non sông, một mình làm nên cái thiên cổ kỳ công đó, dẫu khách thế giới cũng phải bình tình mà cảm phục, huống người nước Nam được trực tiếp hưởng thụ cái ơn huệ ấy lại chẳng nên ghi tạc trong lòng mà thành tâm thờ kính hay sao.
Cuộc kỷ niệm hôm nay là chủ ý tỏ lòng quốc dân sùng bái cảnh mộ cụ Tiên Điền ta; lại có các quý hội viên Tây và các quý quan đến dự cuộc là để chứng kiến cho tấm lòng thành thực đó. Nhưng còn có một cái ý nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc sĩ, Thác là thể phách, còn là tinh anh, áng tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, chập chừng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây. Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây!”.
Bài này đã in tạp chí Nam Phong, số 86, tháng 8-1924
Và đã In trong Tranh luận về Truyện Kiều, Nguyễn Ngọc Thiện và Cao Kim Lan sưu tầm. NXB Văn học. H.2014. Từ trg.11.
Bên bờ Phước Long Giang, ngày mùng 8 tháng 8 Canh Tý, còn 2 hôm nữa đến ngày Giỗ chính thức của Đại thi hào 10/8/ Canh Tý, nhằm ngày 26/9/2020.
Nhà thơ Xuân Bảo
Anh Tai Ho, 박인만 và 1 người khác
Thích
Bình luận
Chia sẻ