Trang

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2019

267. .Nhàn du về miền đất võ Tây Sơn.. 7 Thăm Tây Sơn Tam kiệt


7. NHÀN DU VỀ ĐẤT VÕ TÂY SƠN
                                                (Tiếp theo)

Thăm Tây Sơn tam kiệt
Ngày nay, nhân dân Việt Nam không ai là không biết về người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ - Quang Trung. Bất kỳ nơi đâu trên dải đất chữ S này đều có những công trình văn hóa tưởng nhớ vị vua mới 20 tuổi đầu đã cầm quân đánh sập 2 tập đoàn phong kiến ở Đàng ngoài và ở Đàng Trong. Hiển hách nhất là đánh tan 20 vạn quân Thanh với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa và chiến công Rạch Gầm – Xoài Mút nhấn chìm 2 vạn quân Xiêm xâm lược, đem lại thống nhất bờ cõi.
Chúng tôi về làng Kiên Mỹ, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, đến thăm Bảo tàng Quang Trung. Đây là nơi lưu giữ các hiện vật về những chiến tích của vua Quang Trung và cũng là nơi trình diễn Nhạc võ Tây Sơn - một môn võ truyền thống của tỉnh Bình Định. Phú Phong cách  thành phố Qui Nhơn khoảng 45km về phía tây bắc,
Bốn chữ Tây Sơn Tam Kiệt để chỉ chung 3 anh em ruột lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bao gồm: anh cả Nguyễn Nhạc, anh thứ Nguyễn Lữ và em út Nguyễn Huệ.
Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn Nhạc là người chịu trách nhiệm chung, Nguyễn Lữ là người chuyên lo hậu cần, còn Nguyễn Huệ, ngay từ đầu đã là người trực tiếp cầm quân.
Điện thờ Tây Sơn Tam kiệt và các văn thần võ tướng của triều đại Quang Trung được xây dựng trên chính ngôi nhà thuở sinh thời của ba anh em nhà Tây Sơn. Nơi đây, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đã cất tiếng khóc chào đời.
 Đây cũng chính là nơi thờ thân sinh của ba anh em nhà Tây Sơn là Cụ ông Hồ Phi Phúc và Cụ bà Nguyễn Thị Đồng.
Quang Trung – Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự, ông còn là một nhà ngoại giao khôn khéo, một lãnh tụ có tầm nhìn xa trong việc cải cách và phát triển đất nước.   
Quang Trung đồng thời là một nhà văn hóa lớn, người có tinh thần dân tộc tiến bộ, một nhà lãnh đạo rất am tường về tâm lý quần chúng, biết trong dụng nhân tài cho đất nước, biết động viên để đoàn kết dân tộc thành một khối tiến hành những công cuộc cải cách sâu rộng .


 
Ảnh.  Tượng đài vua Quang Trung-Nguyễn Huệ tại bảo tàng Quang Trung-Bình Định.     .
Bảo tàng Quang Trung, hiện đang lưu giữ những hiện vật như trống trận, cồng chiêng, ấn tín, 18 loại binh khí thô sơ giúp nghĩa quân Tây Sơn đi từ chiến thắng này đến chiến thắng khác.
Trên các bức tường còn khắc ghi tên, tuổi, quê quán của các quan văn, quan võ dưới triều đại Tây Sơn. Sắc phục thời đó đã được lưu giữ hàng bao thế kỷ của các vị quan này.
- Ảnh. Một góc điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt tại Bảo tàng Quang Trung.
Trước sân rộng có cổng tam quan, tiếp đó là nhà bia ghi công lao của Quang Trung - Nguyễn Huệ viết bằng chữ quốc ngữ. Chính điện gồm ba gian, gian giữa thờ Quang Trung - Nguyễn Huệ, có bức tranh ông cưỡi ngựa đặt trong khung kính, gian bên trái thờ Nguyễn Nhạc, gian bên phải thờ Nguyễn Lữ. Hai đầu hồi là ban thờ các văn thần võ tướng nhà Tây Sơn như: Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng, Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở, Trần Văn Kỷ…
 Hiện nay trong khu vườn cũ của gia đình anh em Tây Sơn vẫn còn lại hai di tích cực kỳ quý giá là cây me cổ thụ và giếng nước xưa, tương truyền có từ thời Hồ Phi Phúc. Cây me cổ thụ nằm bên trái điện Tây Sơn cành lá xum xuê che mát cả một góc vườn, có chu vi gốc cây tới 3,5m. Bên phải điện Tây Sơn là giếng nước, đường kính 0,9m, trước đây xây bằng đá ong và không sâu như bây giờ. Sau này dân làng vét sâu thêm và xây thành giếng cao hơn mặt đất 0,8m để làm giếng chung cho cả làng.


Ảnh. Cây Me cổ trong vườn nhà Tây Sơn Tam Kiệt.
.
 Năm 1788, ông thống lĩnh đại quân từ Phú Xuân (Huế) hành quân 35 ngày đêm ra Bắc đánh tan 20 vạn quân Thanh xâm lược, giải phóng Thăng Long.
Và ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), tính đến nay vừa tròn 230 năm – Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đánh dấu một mốc son lịch sử: Đất nước thống nhất toàn vẹn non sông. Ngày này, tại Gò Đống Đa Hà Nội trở thành ngày hội lớn của dân tộc. Ngày này, tại huyện Phú Phong đều diễn ra Lễ Kỷ niệm rất long trọng nơi quê hương của Người.
Tôi có bài thơ luật Đường ghi nhớ công lao của vị Anh hùng dân tộc Quang Trung.

Vẳng nghe trống trận Ngọc Hồi

Đến Tây Hồ nhớ những ngày qua
Thả bước thong dong dưới bóng tà
Quảng Bá quất vàng thơm trái ngọt
Nghi Tàm đào thắm ngát hương hoa
Chuông chùa Trấn Võ luôn vang vọng
Trống trận Ngọc Hồi mãi vẳng xa
Rồng hiện trời Nam từ độ ấy
Thăng Long thành rộn khải hoàn ca

Và vua Quang Trung cũng có một mối tình tuyệt đẹp với công chúa Ngọc Hân. Khi đoàn quân chiến thắng vào Thăng Long, chiếc áo bào của vua còn loang khói súng thì ông đã sai ngay cận thần mang cành đào Nhật Tân về kinh đô Huế để tặng vợ thay lời báo tiệp. Tôi cảm thán với 2 bài thơ:
Bài 1.
Văn hiến Thăng Long

Nghìn năm văn hiến chính là đây
Hoàn trả linh quy kiếm báu này
Lục thủy Đài Nghiên soi sóng nước
Thanh thiên Tháp Bút lộng trời mây
Quang Trung báo tiệp cành đào thắm
Lê Lợi bình Ngô vía giặc bay
Còn mãi Ba Đình lời Bác vọng
Thăng Long cất cánh vẻ vang thay!

Bài 2.
Thế đất rồng bay

Đại La thế đất dáng rồng bay
Hạo khí non sông tụ xứ này
Hổ phục uy nghi sau Núi Tản
Rồng chầu lẫm liệt trước Hồ Tây
Xuất quân Kỷ Dậu, Tàu tan tác*
Chiến thắng Năm Tư, Pháp chạy dài **
Giấc mộng Thăng Long rồng gặp nước
Diệu kỳ Hà Nội chính là đây.
*Kỷ Dậu 1789
**Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 10/4/2019
Nhà thơ Xuân Bảo




Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

266. Nhàn du về đất võ Tây Sơn


4. NHÀN DU VỀ ĐẤT VÕ TÂY SƠN
(Tiếp theo)
Thăm Ghềnh Đá Dĩa. (Miền Bắc gọi là Đĩa)
Tới những địa danh tôi từng đi qua và về công tác nơi đó tôi thường nhắc cho hai vợ chồng Hương Nam và cháu Phạm Đình Long (Lôbô) biết.
Xe chúng tôi chạy thẳng một mạch từ Nha Trang, lên lại Quốc lộ 1A. Khi đến ngã ba Ninh Hòa rẽ trái lên Quốc lộ 26 đi Buôn Mê Thuột tôi bỗng nhớ nhiều lần đi trên con đường này. Con đường này không có những cái đèo nguy hiểm như đèo Ngoạn Muc (Quốc lộ 27) hay là đèo Măng Giang hay An Khê (Quốc lộ 19), đèo Bảo Lộc (Quốc lộ 20) hoặc đèo Lò Xo ở Kon Tum…Ở đây có một cái đèo dài tới 15 km mang tên đèo Phượng Hoàng, lượn lên lượn xuống qua những quả đồi thoai thoải trên cao nguyên Trung phần. Đèo Phượng Hoàng có rất nhiều quán tạm hai bên đường. Tôi đã viết cái phóng sự điều tra Những cô gái xách giỏ, nói về số phận những cô gái “bán hoa”, chủ yếu cho các bác tài lái xe tải từ xứ sở Cà phê Trung Nguyên về xuôi.
Lại có một kỷ niệm khác. Đó là khi tôi và đoàn cán bộ của Trung tâm Thông tin Nghiên cứu khoa học và Thư viện của Văn phòng Quốc hội về làm việc với Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đác-Lăk. Xe chúng tôi đến Buôn Mê Thuột thì Nguyễn Thạch Toàn (cháu đích tôn của cố nhà văn Nguyễn Tuân, con trung tướng Trần Xuân Trường) đề nghị ghé một quán cà phê ngon đặc biệt để thưởng thức. Mọi người uống không sao, riêng tôi bị say cà phê. Nó cứ ngầy ngật rất khó chịu. Bữa cơm tối tôi không dự cùng các đại biểu Quốc hội Đác-Lắc. Văn phòng Đoàn Đại biểu tỉnh bố trí cho chúng tôi nghỉ tại khách sạn Cao Nguyên. Hôm sau, khi làm việc xong, phó Đoàn Đại biểu Quốc hội Võ An Bang biếu chúng tôi mấy cái ná (thu nhỏ) làm quà kỷ niệm.
Qua huyện Vạn Ninh là huyện giáp với Phú Yên. Gần trưa, chúng tôi đến thị trấn Đại Lãnh dưới chân Đèo Cả. Đây là một bãi biển rất đẹp, có mực Đại Lãnh rất ngon ngọt. Thị trấn đã được xây dựng khang trang. Song không hiểu vì sao cái khách sạn – nhà hàng Cholimex, từ thời ông Nghị Đoàn làm bí thư quận ủy Quận 5 nằm yên đã gần 40 năm còn trơ khung và hình như chủ nhân của nó đã bỏ phế?!
Bãi biển Đại Lãnh từng là nơi gợi tứ cho cố nhà thơ Thu Bồn viết cái ký Thiên hà mặt đất, đăng trên tạp chí Cửa Việt và hứng chịu nhiều tai tiếng? Tôi còn nhớ một lần ra Quảng Trị tới thăm tạp chí Cửa Việt của Hội Văn học-Nghệ thuật đóng tại thị xã Quảng Trị do nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng biên tập. Hoàng Phủ Ngọc Tường nói với nhà văn Nguyễn Quang Lập soạn cho tôi trọn bộ tạp chí Cửa Việt (bộ mới) từ số 1 đến số 17.
Trong những số tạp chí này tôi đọc có bài thơ Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ của Nguyễn Duy và có cái ký Thiên hà mặt đất của Thu Bồn.
***
Tới đầu hầm Cổ Mã, tôi bảo cháu Phan Vĩnh ghé xe vào chốt gác hỏi có được chụp ảnh không. Họ bảo không. Thế là xe qua hầm thứ nhất chỉ có mấy phút, bởi vì hầm chỉ dài có 500 mét rồi mới vào hầm chính. Tổng kinh phí xây dựng hầm Cổ Mã, đường dẫn và cầu trên tuyến (hình thức BT) 4.509 tỷ đồng, chi phí giải phóng mặt bằng và tái định cư 539 tỷ đồng (phần vốn ngân sách nhà nước). Hầm xuyên núi Đèo Cả dài 4,1Km, theo hình thức BOT tổng vốn đầu tư là 10.555 tỷ đồng. Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần đầu tư Đèo Cả.
Hầm đường bộ Đèo Cả là một hệ thống đường hầm thay thế cho Đèo Cả vốn rất hiểm trở và nguy hiểm. Đường hầm này nối liền hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, nằm trên tuyến đường Quốc lộ 1A huyết mạch của cả nước.
Hầm được khởi công ngày 18 tháng 11 năm 2013, hoàn thành và thông xe vào ngày 21 tháng 8 năm 2017. Đây là hầm đường bộ hiện đại nhất Việt Nam và là hầm dài thứ hai trong cả nước, đứng sau Hầm Hải Vân.
Đoạn đường dẫn phía Nam kết thúc bằng nút giao hợp thể, một đường đi khu kinh tế Vân Phong, một đường nối tiếp Quốc lộ 1A.
Hầm đèo Cả do Nhật Bản thiết kế, chủ đầu tư là doanh nghiệp VN, sử dụng nguồn vốn vay trong nước, được thi công theo công nghệ làm hầm NATM của Áo. Ba nhà thầu của VN đảm nhiệm; tư vấn giám sát ban đầu cũng là Nhật, nhưng đến nay thì chỉ còn một số chuyên gia, còn đa số là người VN.
Về khu tái định cư, sẽ có 2 khu thuộc hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Khu tái định cư phía Phú Yên sẽ được xây dựng với kinh phí khoảng 120 tỷ đồng trên 8,5 ha, phục vụ cho 156 hộ dân bị ảnh hưởng. Còn ở phía Khánh Hòa, khu tái định cư sẽ nằm ở xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh phục vụ cho gần 200 hộ dân.
Đoạn đường qua Đèo Cả dài 12 Km và hiểm trở, nhiều khúc cua gấp với bán kính cong nhỏ, độ dốc dọc lớn, gây nguy cơ mất an toàn giao thông nhất là với các xe tải nặng, xe siêu trường, siêu trọng. Khu vực này cũng thường xuyên xảy ra ách tắc giao thông do đất đá trên đèo bị sụt lở. Vì vậy việc đầu tư xây dựng hầm đường bộ qua đèo Cả nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông, nâng cao hiệu quả khai thác của Quốc lộ 1A là rất cần thiết.
Trạm thu phí BOT Hầm Đèo Cả thu xe 4 chỗ là 52.000 đồng. Điểm cửa hầm phía Bắc là thuộc thôn Hảo Sơn, xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Đến Hảo Sơn, tôi lại nhớ năm 1998 lần về họp Kỷ niệm báo Người Đại biểu Nhân dân khi trở vào, đến chân đèo Cả thì xe gãy rơi mất ống pô. Chúng tôi không ghé gara nào dọc đường để hàn pô mà cứ thế thẳng tiến về Biên Hòa. Thiếu tá Hồ Viết Năng, bạn tôi đã từng là Trưởng đoàn Đoàn Văn công 559, bộ đội Vận tải Trường Sơn lái xe đi cùng tôi ra Hà Nội. Lúc chiếc xe cà tàng của tôi mang nhãn hiệu Nhật hẳn hoi mà đến thủ đô thì chỉ còn một bánh còn dính phanh, ba bánh kia thì không còn chút bố nào! Mấy tay thợ máy sửa chữa gọi chúng tôi là các bố già điếc không sợ súng!
Trên xe, cháu Hương Nam cứ lấy điện thoại thông minh ra dò đường bằng Maps Google. Thế mà đến vòng xoay cuối huyện, cháu lại chỉ nhầm đường cho nên phải quay lại Tuy Hòa. Tuy Hòa là thành phố tỉnh lỵ của Phú Yên.
Nhiều lần tôi về làm việc với tỉnh Phú Yên. Các anh ở Văn phòng Ủy ban tỉnh thường bố trí cho chúng tôi nghỉ ỏ nhà khách gần bờ biển. Ở đây tôi quen đồng chí Nguyễn Văn V, chánh văn phòng, người Quảng Trị. Buổi tối, dạo chơi trên bãi cát, chúng tôi gặp các cháu cũng ra chơi tại đây. Hỏi chuyện các cháu, các cháu thường trả lời có kèm theo từ “nẫu”. Mãi sau này chúng tôi mới hiểu ra cái từ “nẫu”.
Người Phú Yên thường được gọi là “dân xứ Nẫu” (họ, người ta).Có một câu đặc sệt phương ngữ xứ Nẫu: “Nẫu dzìa thì mược nẫu” mà phải dịch đến mấy lần chúng tôi mới hiểu rõ nghĩa, tức là Người về thì mặc họ. Dường như âm sắc rất nặng của người dân vùng duyên hải miền trung này cũng chất chứa gió biển và cát nóng, thể hiện đậm đà khí chất dân xứ Nẫu: cần mẫn, hiền lành, mà dí dỏm, phóng khoáng.
Thì ra cái gì cũng có nguồn gốc của nó. Hơn 400 năm trước, 3.000 lưu dân miền Thanh - Nghệ đã theo Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh – vào miền đất này. Cha ông thuở nào đã gửi gắm nguyện ước về một tương lai giàu có và yên bình vào những tên làng, tên xã nơi biên viễn trời nam. Rất nhiều tên làng ở đây được bắt đầu bằng chữ Phú, chữ An.. Dưới cấp huyện có cấp thuộc, dưới thuộc là các đơn vị hành chính như phường, nậu. Nậu là tổ chức quản lý của nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu nậu, ví như "nậu nguồn" là nhóm người khai thác rừng, "nậu nại" chỉ nhóm người làm muối... Sau này, các đơn vị hành chính đó bị xóa bỏ, khái niệm "nậu" chỉ dùng để gọi người đứng đầu một nhóm người. Vùng Bình Định - Phú Yên không phân biệt rạch ròi cách phát âm, vậy nên “nậu” được đọc thành “nẩu” và sau này biến thành “nẫu”. Ngôn ngữ xứ Nẫu có nhiều từ rất độc đáo, đặc trưng không lẫn vào đâu được, cứ nghe đến “nẫu”, "dzẫy ngheng" (vậy nhé), "dzẫy á" (vậy đó) phát âm nặng trịch, chỉ thoảng qua cũng đủ khiến những người xứ nẫu đi xa chất chứa niềm nhớ quê.
***
Tôi nhắc lại một kỷ niệm. Sau chiến thắng năm 1975, tôi được cùng anh Phạm Ngọc Châu, giám đốc Công ty Xây lắp Hóa chất (Tổng cục Hóa chất) về thăm quê anh tại La Hai, huyện Đồng Xuân. Đồng Xuân là huyện trồng mía đại trà nên đời sống đỡ chật vật. Tôi hỏi người nhà anh Châu điện lưới không thấy giăng mắc, dù là huyện miền núi xa xôi nhưng ở đây dân vẫn có điện dùng. Trả lời rằng: Đó là máy phát điện diésel của những ông chủ có tiền đầu tư và bán điện cho dân. Có điện, hầu như nhà nào cũng trồng nấm mèo và dùng điện vào việc kéo mía, chưng đường.
Lúc ở Hà Nội, tôi đã được nghe tin những vụ chính quyền Việt Nam cộng hòa trả thù những người kháng chiến cũ trong các chiến dịch tố cộng. Chúng tôi đi qua những nơi từng bị quân chính quyền Ngô tổng thống tàn sát vô tội vạ đồng bào ta. Đó là Ngân Sơn, đó là Chí Thạnh. Tôi nói với anh Phạm Ngọc Châu bảo cậu Tùng lái xe cho xe chạy chậm để nhìn cho rõ nơi từng đổ máu đồng bào ta và tôi được biết thêm về vụ thảm sát này.
Sau khi hiệp định Đình chiến ký ngày 20/7/1954, chính quyền Ngô Đình Diệm lần lượt đưa quân đội ra tiếp quản vùng Việt Minh kiểm soát trong Chiến tranh Đông Dương.
Chỉ sau 2 tháng Hiệp đinh Genève có hiệu lực, ngày 7/9/1954, ba đại đội thuộc tiểu đoàn 10 quân đội Quốc gia Việt Nam đến Ngân Sơn tiếp quản. Đại đội 1 đóng trên quốc lộ, đại đội 2 đóng ở phía đông trường tiểu học, đại đội 3 do đại úy Đê chỉ huy đóng tại trường học. Đại úy Đê đi ra sau trường, vào nhà ông Bành Liến thấy trên bàn thờ có ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh liền giật xuống. Vợ ông Bành Liến lúc bấy giờ đang quét sân, dùng chổi đánh viên sĩ quan này. Anh ta quay ra xô xát với chủ nhà. Cả nhà cùng tri hô. Nhiều người chạy đến, một lúc sau nhân dân các vùng Ngân Sơn, An Thạch, An Dân… kéo đến phản đối lính Quốc gia Việt Nam. Bất ngờ, đại úy Đê (sách Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị trấn Chí Thạnh viết là tên Võ Duy Đệ) ra lệnh cho lính bắn thẳng vào đám đông trong sân trường. Chín người trúng đạn chết ngay tại chỗ, mười người khác bị thương. Dân chúng vô cùng căm phẫn khiến lính Quốc gia Việt Nam vội vã rút vào Chí Thạnh. Cơ sở Đảng Lao động Việt Nam hoạt động bí mật ở Ngân Sơn vận động nhân dân khiêng những người chết, bị thương đi vào Chí Thạnh tiếp tục đấu tranh với chính quyền Quốc gia Việt Nam.
Lúc này nhân dân các xã An Ninh, An Định, An Cư… cũng rầm rộ kéo đến ủng hộ cuộc đấu tranh. Từ dốc Nhà Thương (nay là phía bắc khu phố Trường Xuân, thị trấn Chí Thạnh), lính Quốc gia Việt Nam đặt súng đại liên bắn thẳng vào đoàn người từ hướng An Ninh lên. Hàng loạt người đổ gục xuống ruộng. Nhân dân từ phía An Định kéo xuống cũng bị lính bắn chết, nhiều người khác cũng gục ngã tại chùa Trường Giác (nay thuộc khu vực sân vân động huyện Tuy An). Trong buổi chiều 7/9/1954 có 79 người chết, 76 người bị thương. Sự phẫn nộ của dân chúng ngày càng dâng cao.
Tôi kể lại chi tiết vụ thảm sát, thấy anh Châu lặng im, hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má người lính già đã từng xông pha trong kháng chiến 9 năm tại quê hương Phú Yên!
Sau khi ghé thăm quê, chiếc xe U-oát dở chứng. Anh Châu vào huyện đội Đồng Xuân nhờ sửa chữa. Mấy anh lính thợ không sửa được vì không quen xe của Liên Xô. Anh Châu điện ra bắc bảo đội xe cho xe vào kéo ra.
***
Từ thành phố Tuy Hòa, xuôi theo quốc lộ 1A về hướng Bắc 30km, đến thị trấn Chí Thạnh rẽ phải về hướng Đông 12km chúng tôi đã đến với Ghềnh Đá Đĩa. Thắng cảnh nổi tiếng này nằm yên bình bên bờ biển thuộc địa phận xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Suốt trên đường đi, băng qua những làng mạc yên bình khi thì đồi núi trập trùng, lúc lại thấp thoáng làng mạc với những cánh đồng lúa đang thời con gái lên màu xanh tốt.
Ghềnh Đá Đĩa như một tổ ong khổng lồ rộng khoảng 50m, dài 200m với những khối đá hình lăng trụ xếp liền nhau, một cách ngay ngắn cùng vươn mình ra biển khơi, tựa như có bàn tay của vị thần nào đó sắp đặt, mang đến món quà vô giá cho Phú Yên.
Bãi đá với hàng nghìn, hàng nghìn những phiến đá ấy, óng lên màu đen huyền bí nổi bật giữa nước biển xanh ngắt và những con sóng vỗ trắng xóa. Những trụ đá hoặc nghiêng nghiêng theo thế tiến ra biển, hoặc xếp thẳng đứng chồng chất lên nhau, cao thấp khác nhau tựa như những chồng dĩa được xếp ngay ngắn. Cũng bởi vậy, mà tên gọi Ghềnh Đá Đĩa vừa thân thuộc, vừa gần gũi.
Ghềnh Đá Đĩa được hình thành khi núi lửa phun trào dung nham xuống biển gặp nước lạnh đông cứng lại, cùng với hiện tượng di ứng lực nên toàn bộ khối nham thạch bị rạn nứt đa chiều tạo nên cảnh quan kỳ thú này.
Nơi đây cũng là một bến đỗ của những ngư dân. Những chiếc thuyền thúng nhỏ, chòng chành qua bàn tay điều khiển khéo léo như nét điểm tô thêm cho sức sống bao đời nay của vùng đất hiền hòa này.
Trên thế giới cũng có những danh thắng Ghềnh Đá Đĩa nổi tiếng như ở: bờ biển Đông Bắc Ireland với núi đá Giant’s Causeway, ghềnh đá Órganos ở đảo La Gomera nổi tiếng của Tây Ban Nha, hay trong hang động Fingal ở đảo Staffa, Scotland hay ở đảo JeJu của Hàn Quốc.
Thắng cảnh thì như vậy nhưng đầu tư khai thác còn rất yếu.
Một trong những hạn chế khiến du lịch Phú Yên chưa thể cất cánh đó là hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ. Trong đó, phương tiện hàng không là điều khiến nhiều đơn vị lữ hành, khu du lịch đau đầu khi vào mùa cao điểm và đón những đoàn khách số lượng lớn. “Nút thắt” này đang dần được mở khi Cảng hàng không Tuy Hòa sẽ được nâng cấp mở rộng, đón chuyến bay đêm, đặc biệt là sẽ có chuyến bay thẳng từ Nga đến Tuy Hòa.
PHÚ YÊN có những danh lam thắng cảnh mà nếu biết khai thác thì sẽ thành thế mạnh trong nền kinh tế của tỉnh. Đó là Đập Đồng Cam. Đó là Vịnh Vũng Rô. Đó là nhà thờ Mằng Lăng. đã từng là nơi dừng chân giảng dạy của giám mục Alexandre de Rhodes và đây cũng là nơi lưu giữ cuốn sách chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta. Đó là Cao nguyên Vân Hòa.
Đó là Tháp Nhạn nằm trên núi Nhạn, tháp được người Chăm xây dựng nên vào khoảng thế kỉ 12. Tháp có hình tứ giác với 4 tầng, càng lên cao càng thu nhỏ lại so với tầng dưới, nhưng vẫn theo phong cách tầng dưới. Tháp cao khoảng 23,5m. Bên trong tháp có một am nhỏ thờ bà Thượng Đỉnh Chúa Thiết A Na Diễn Ngọc Phi.
Đó là núi Đá Bia, tên chữ Thạch Bi Sơn, dân gian gọi là Núi Ông, là ngọn núi cao nhất trong khối núi Đại Lãnh thuộc dãy núi Đèo Cả. Núi nổi tiếng vì tảng đá bia khổng lồ cao khoảng 80 m trên đỉnh núi mà cách xa vẫn có thể nhìn thấy Khánh Hòa. Tôi lại nhớ đến Chúa Tiên Nguyễn Hoàng khi Ngài sắp từ giã cõi trần đã cho gọi người con thứ VI Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) đến long sàng để căn dặn: “Đất Thuận Quảng, phía Bắc có Núi Ngang (Hoành Sơn) và Sông Gianh (Linh Giang) hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá, muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng”.
Và Gành Đá Đĩa, gành Đèn Nổi tiếng nhất ở Phú Yên độc nhất vô nhị chỉ có ở Việt Nam. Nhìn từ xa, gành Đá Dĩa như một tổ ong khổng lồ rộng khoảng 50m, dài 200m với những khối đá hình lăng trụ xếp liền nhau, ngay ngắn cùng vươn mình ra biển khơi. Bãi đá với hàng nghìn, hàng nghìn những phiến đá ấy, óng lên màu đen huyền bí nổi bật giữa nước biển xanh ngắt và những con sóng vỗ trắng xóa. Cách gành Đá Dĩa không xa là gành Đèn với ít người lui tới nhưng khung cảnh cũng kỳ vĩ không kém làm say lòng biết bao người khi đã từng chiêm ngưỡng.Đó là Bãi Xép. Đầm Ô Loan nằm dưới chân đèo Quán Cau, quốc lộ 1A. Đó là Vịnh Xuân Đài. Đó là Hải đăng Đại Lãnh. Mũi Đại Lãnh nằm ở huyện Đông Hoà, Đây là nơi đón ngày mới sớm nhất tại “ngọn hải đăng cực Đông” của Tổ quốc.
Đèo Cả là một trong những đèo lớn và hiểm trở tại miền Trung với khung cảnh thiên nhiên vô cùng hùng vĩ, Vực Phun nằm lọt thỏm trong dãy núi Đá Đen, giữa bạt ngàn rừng cây và đồi núi trập trùng, tạo thành cảnh quan rất thơ mộng. Đó là Hòn Nưa nằm ngay chân đèo Cả, thuộc vùng giáp ranh giữa Phú Yên và Khánh Hòa.
Danh lam thắng cảnh thì nhiều nhưng Phú Yên chưa khai thác triệt để và làm cho du lịch trở thành kinh tế mũi nhọn.
(Còn tiếp)
Bên bờ Phước Long Giang, ngày 27/3/2019
Nhà thơ Xuân Bảo


265,Nhàn du về dất võ Tây Sơn


2. NHÀN DU VỀ ĐẤT VÕ TÂY SƠN
                                      (Tiếp theo)


Đến Nha Trang nhớ một người.

 Có thể nói Nha Trang là một thành phố hiền hòa. Còn nhớ, những ngày tháng 4 năm 1975. Nha Trang là thành phố bỏ ngỏ. Quân đoàn 2 của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu rút bỏ từ ngày 2/4. Theo Lịch sử Đảng bộ Khánh Hòa thì: “17 giờ ngày 2-4-1975, sau khi đánh tan các chốt điểm của địch ở đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì, được sự hướng dẫn của lực lượng cốt cán (do Ban Cán sự nội thành cử ra Ninh Hòa đón quân Giải phóng), lực lượng binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 rầm rộ vượt qua cầu Xóm Bóng tiến vào thành phố Nha Trang. Nhân dân từ Đồng Đế đến nhà Thông tin đã đổ ra đường đón bộ đội cách mạng. Những tiếng hoan hô vang dội, vui mừng khôn xiết. Nhà nhà đều treo cờ Mặt trận, người người đều cầm cờ trên tay vẫy chào. Trời mưa tầm tã, nhưng đồng bào vẫn tấp nập tụ họp hai bên đường nô nức chào mừng đoàn quân giải phóng” – trích Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa (1930-1975).

Tôi có nhiều kỷ niệm với Nha Trang, bởi nơi đây lưu dấu bước chân tôi khá nhiều lần và nhiều ngày. Nhớ một người – người đó là Alerxandre Émile Jean Yersin. Theo bia ký trên mộ ghi là John.
Lần dự Trại năm 1998, tôi cùng cố nhà văn Nguyễn Duy Thinh được anh Nguyễn Thiết Hùng, chủ tich tỉnh Khánh Hòa bố trí cho chiếc xe con để đi viết về nhà máy sản xuất đường tại huyện Diên Khánh. Tôi đã có cái ký Khánh Hòa cây mía lên ngôi. Trong đó nêu bật công lao của giám đốc Đỗ Thanh Liêm, người có công tạo dựng cơ ngơi nhà máy từ hai bàn tay trắng làm nên. Sau này, anh Liêm trúng đại biểu Quốc hội khóa VIII.
Nhân chuyến đi này, trong chương trình chúng tôi có ghé viếng mộ A.É.J.Yersin ở Xóm Cồn để viếng.
Theo quốc lộ 1 từ Nha Trang xuôi về hướng nam khoảng 20km. Ngôi mộ hiện nằm tại xã Suối Cát, huyện Cam Lâm, Khánh Hòa.Trước thuộc huyện Diên Khánh.
Ngày I tháng 3 năm 1943, Yersin từ trần tại nhà riêng ở xóm Cồn. Trong di chúc để lại, ông đã viết: "Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Hãy chôn tôi nằm úp xuống. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương (cộng sự lâu năm) giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm".         
Không kèn trống, không điếu văn, đám tang của ông diễn ra lặng lẽ, giản dị.. Đoàn người đưa tang dài đến hơn ba cây số.
Ông được chôn theo đúng ý nguyện. Thi hài ông nằm sấp, đầu quay về biển như muốn ôm trọn mảnh đất Khánh Hòa vào lòng mình. Ông thương Việt Nam, yêu Nha Trang và đã có những công trình, sự nghiệp to lớn nhằm giúp Việt Nam phát triển hơn.
Ngoài y học, ông còn góp công lớn vào phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, thám hiểm, khí tượng. Quần thể mộ Yersin ở Suối Dầu cùng thư viện Yersin ở Viện Pasteur Nha Trang được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Mộ nằm trên ngọn đồi thoai thoải có tên là đồi Núi Một. Dốc được lót đá chẻ kè xi măng chạy dài đến tận mộ ông. Mộ ông hình chữ nhật, đơn giản như bao ngôi mộ bình thường. Không bia, tên ông được ghi ngay trên mộ: Alexandre Yersin (1863 - 1943).
Chúng tôi thắp lên nhiều nén nhang để tưởng nhớ công ơn của tiền bối - người đã đóng góp biết bao công sức cho Việt Nam và nhân loại...
Khuôn viên ngôi mộ trồng nhiều loại cây khác nhau trong đó có cây Quinquina (Canhkina), tên khoa học là Cinchona. Đây là loại cây được ông tìm ra dược liệu điều trị bệnh sốt rét.
Tình cảm của Alexandre Yersin là thứ tình cảm cao cả của người thày thuốc “Thày thuốc như mẹ hiền”!
 Ông viết thư về cho mẹ: “Con rất vui thú khi tiếp chuyện những người đến hỏi ý kiến nhưng con không muốn hành nghề bác sĩ, nghĩa là con không bao giờ có thể đòi hỏi bệnh nhân trả công khi săn sóc cho họ. Con xem ngành y như là một thiên chức, tương tự vai trò của mục sư. Đòi tiền công săn sóc bệnh nhân, như có phần nào nói với người ấy: tiền hay cuộc sống. Con biết không phải tất cả các đồng nghiệp của con đều chia sẻ những ý nghĩ này, song đấy vẫn là những điều con nghĩ và sẽ khó lòng mà từ bỏ chúng”.

Năm 1895, Yersin thành lập viện Pasteur ở Nha Trang và điều chế huyết thanh chữa bệnh dịch hạch. Bảo tàng A. Yersin đặt trên tầng hai ngôi nhà nằm bên trái cổng chính vào Viện Pasteur Nha Trang ở số 10 đường Trần Phú. Trong căn phòng rộng khoảng 100 m2 còn lưu giữ khoảng 1.200 quyển sách cùng hơn 50 đồ vật thân thiết nhất của bác sĩ A. Yersin trong suốt hành trình hơn nửa thế kỷ cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu, phát triển nền y học thế giới và gắn bó với Việt Nam.
Trên Quốc lộ 1A, Suối Dấu cách thành phố Nha Trang 20 cây số về phíá nam, có cột số mang số 1473, cách Biên Hòa 397 km.
Ông khai phá vùng Suối Dầu- thành lập một trại chăn nuôi và trồng trọt. Ông lao vào nghiên cứu huyết thanh trị bệnh dịch hạch cho trâu bò.
Năm 1897, ông bắt đầu trồng cao su ở Suối Dầu. Quan tâm đến phương pháp trồng, khai thác và chế biến cao su, ông đã thiết lập một phòng thí nghiệm nông hóa. Tại đây, những biện pháp chọn giống, cạo mủ và làm đông mủ cao su được nghiên cứu có hệ thống đã giúp rất nhiều cho những người trồng cao su ở Đông Dương.
Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Lúc bấy giờ, Hà Lan chiếm độc quyền sản xuất Quinine-phương thuốc duy nhất chữa bệnh sốt rét. Yersin gieo thử hạt Canh ki na ở Suối Dầu nhưng thất bại.
Năm 1917, Yersin trồng cây Canh ki na ở Hòn Bà- một ngọn núi gần Suối Dầu. Lúc đầu cây tăng trưởng tốt nhưng chết vì đất đai không thích hợp.
Tháng 7-1923 những cây Canh ki na tốt nhất ở Hòn Bà được đem lên trồng ở Dran và thu được kết quả tốt. Ông tiếp tục trồng trên cao nguyên Langbiang nhỏ và Di Linh.
Đến năm 1992, sau khi được công nhận là di tích cấp quốc gia, một tấm bia đá tạc ghi công trạng của bác sĩ Yersin bằng song ngữ Việt - Pháp mới được đặt tại đây.

          Bia ghi tiểu sử và sự nghiệp của ông bằng song ngữ Việt – Pháp
.
Năm 1936, cây Canh ki na được trồng quy mô lớn ở Lán Tranh và Di Linh.Từ đó, viện Pasteur Nha Trang chuyên bào chế thuốc, nghiên cứu về bệnh sốt rét và các loại vi trùng, ký sinh trùng gây bệnh cho người, súc vật và thảo mộc.
Ngày 28-6-1935, trường trung học Yersin được khánh thành ở Đà Lạt. Yersin trở về Đà Lạt lần cuối cùng trước khi mất. Nhân dịp này, đáp lại lời phát biểu của một học sinh, ông đã trình bày cảm tưởng khi đặt chân lên cao nguyên Langbiang: “Không khí mát mẻ đã làm tôi quên đi mệt nhọc và tôi nhớ lại niềm vui được chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi như một học sinh trung học trẻ tuổi”.
Ngày 1-3-1943, Yersin thanh thản qua đời tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi. Trùng với ngày Ông lãnh trọng trách mở trường Thuốc đầu tiên tại Hà Nội, nay là trường Đại học Y Hà Nội. Hàng ngàn người dân Nha Trang đã đưa linh cữu ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Kết thúc một ngày làm việc cật lực, 19 giờ tối tôi bảo lái xe đưa đến tận Văn phòng Ủy ban để cảm ơn chủ tịch.  Anh Nguyễn Thiết Hùng vẫn ngồi chờ chúng tôi. Và một bữa cơm đạm bạc được mấy cô văn phòng dọn lên. Bữa cơm đầy tình đầy nghĩa của một vị quan đầu tỉnh với các nhà văn, nhà thơ.
(Còn tiếp)
Bên bờ Phước Long Giang, ngày 18/3/2019
Nhà thơ Xuân Bảo.
--------------------------


3.     NHÀN DU VỀ ĐẤT VÕ TÂY SƠN
                                      (Tiếp theo)

Những bài thơ viết về Nha Trang

Năm ngoái, khi dự Trại Sáng tác Nha Trang, nhà thơ Hoàng Văn Bảy đã chọn một đề tài mà cả Trại không ai nghĩ đến. Mặc dù, những ngày ở đó trại viên luôn được tiếp xúc với cái tên thân thuộc- Yersin! Đường mang tên Yersin, bảo tàng Yersin, tượng đài Yersin…Tiếc thay! Và đây là bài thơ:

Về đây bỗng nhớ một người

Về đây bỗng nhớ một người
Tên Ông đi vào huyền thoại
Cả cuộc đời cho xứ này
Đất Việt còn ghi nhớ mãi

Yersin -Ông Năm xóm Cồn
Người tìm phố hoa Đà Lạt
Người tìm vi trùng sốt rét
Cao su cho cả Đông Dương

Nha Trang -Ông chọn quê hương
Di chúc Ông còn mãi mãi
Những điều cùng Ông ở lại
Tên Ông cho những con đường
Nha trang 11/2018
Hoàng Văn Bảy.

Tôi chọn bài thơ này vì ở Phần thứ 2 ký sự Nhàn du về đất võ Tây Sơn tôi đã giật cái tít Đến Nha Trang nhớ một người. Và cũng bởi vì
khi tôi viết những dòng này thì đúng vào ngày giỗ của nhà bác học lỗi lạc A.É.J. Yersin, mùng 1 thảng 3 năm 1943 – mùng 1 tháng 3 năm 2019.
Nha Trang không những là thành phố xinh đẹp, hiền hòa – thành phố du lịch nổi tiếng mà còn là nơi hội tụ nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi. Trong buổi ra mắt Chi hội Hội Nhà văn Khánh Hòa, tôi đã quen biết thêm nhiều nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Gia Nùng, Cao Duy Thảo, Cao Linh Quân, Quý Thể, Lê Khánh Mai…Dịp này, tôi biết nhà thơ Nguyễn Thị Hồng, vợ nhà văn Hoàng Quốc Hải và trở nên thân thiết cho đến bây giờ.
Ở đây, tôi đã được nhà thơ Hữu Thỉnh nhờ một việc quan trọng. Đó là, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập. Không may, nhà văn bị đột quỵ phải cấp cứu tại bệnh viện Trung ương Đà Nẵng. Nhà thơ Hữu Thỉnh mang sứ mệnh đặc biệt là người được Nhà nước ủy quyền trao tặng huân chương. Hữu Thỉnh biết tôi có quen biết nhiều đồng chí lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa nên ngỏ ý nhờ tôi mượn chiếc xe con đi ngay ra Đà Nẵng, sợ nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ra đi mà chưa được nhìn thấy tấm huân chuong cao quý này. Sau buổi lễ ra mắt, các nhà văn trong Chi hội Khánh Hòa đang vui liên hoan ở nhà hàng Mê Trang, có chủ tịch Nguyễn Thiết Hùng và chánh văn phòng tỉnh ủy Nguyễn Mạnh Thường chung vui. Khi nghe xong câu chuyện, thời gian qúa gấp rút, đường thì xa, từ Nha Trang ra Đà Nẵng ngót nghìn cây số, máy bay thì cũng phải tới mấy ngày hôm sau mới có chuyến. Tôi nghĩ đừng bao giờ các nhà thơ mơ tưởng đến chuyện được đi chuyên cơ, ngoại trừ nhà thơ Azendé của Chi Lê! Làm sao đây? Tôi xin nói chuyện với anh Nguyễn Thiết Hùng về việc mượn xe. Anh Thiết Hùng trao đổi với anh Mạnh Thường. Anh Mạnh Thường gọi điện về văn phòng và chỉ chừng mươi lăm phút sau xe đã tới. Nhà thơ Hữu Thỉnh vội đứng lên chào anh Thiết Hùng và anh Mạnh Thường và toàn thể các vị có mặt tại buổi tiệc, vội vã ra xe ngay.
Có một buổi tối, Trại tổ chức giao lưu giữa Hội Văn học – Nghệ thuật Khánh Hòa với các trại viên dự Trại của Đồng Nai. Trong buổi gặp gỡ này, tôi bất ngờ được “mang lon trung tá của Quân lực Việt Nam cộng hòa”. Nữ nhà thơ Thiên Th. đến ngồi cùng bàn với tôi và nhắc lại câu chuyện khi nhà thơ còn là phóng viên của tờ Tiền tuyến (do tướng Cao Văn Viên làm chủ bút). Thiên Th. nói: Em nhớ mà, khi bọn em nhảy dù xuống mặt trận Đồi Charle, anh đã đón tiếp chúng em rất nhiệt tình và chu đáo. Tôi ngớ người ra, vì tôi chưa bao giờ là người lính của quân lực cộng hòa và cũng chưa bao giờ là người chỉ huy trên mặt trận Đồi Charle cả. Nhưng Thiên Th. thì cả quyết một mực tôi là “trung tá quân lực Việt Nam cộng hòa”. Bé cái nhầm!
Mấy hôm sau chúng tôi lại có dịp hội ngộ. Trong một đêm mưa gió, tôi và Thiên Th. ngồi trên bờ ngắm nhìn biển đêm Nha Trang. Tôi đã làm bài thơ Nha Trang đêm huyền ảo. Bài thơ này đã in vào tập Âm vang một dòng sông (NXB Hội Nhà Văn – 2009).
Nha Trang đêm huyền ảo
Gửi Hải Âu
Đêm tối đen mưa rơi
Mặt Hằng Nga đẫm lệ
Những ngọn núi chơi vơi
Bồng bềnh trôi trên biển

Nha Trang, em và tôi
Hòa vào đêm tan biến
Cùng những giọt mưa rơi
Ta về miền mộng ảo

Gió không còn mơn man
Ào ào dâng lên bão
Chao đảo giữa mây ngàn*
Đôi cánh chim không mỏi

Mưa rơi, mưa cứ rơi
Tay cầm tay hơi ấm
Truyền vào nhau đêm nay
Nồng nàn trong mưa lạnh
_________
*Thơ Thiên Thanh.
Lại có một buổi tối, tôi và Khúc Tuyết Cầm, sinh viên năm cuối của Đại học Văn hóa Khánh Hòa. Tuyết Cầm học khoa hội họa, bộ môn điêu khắc. Đêm hôm đó Nha Trang bị mất điện, tôi và Tuyết Cầm ngồi trên bậc thềm Nhà Sáng tác, chỉ có ánh sao làm bạn.  Em thủ thỉ với tôi rằng ngày mai đã bước vào thực hiện đề tài khảo hạch cuối khóa mà trong tay không có lấy một đồng để làm bài.
Tôi hỏi: Em định làm luận án tốt nghiệp bằng chủ đề gì?
Em bảo: Muốn tôn vinh người đàn bà như thời Phục hưng của các họa sĩ nổi tiếng. Em đã học và biết rằng trong chính trị, Phục Hưng đã đóng góp vào sự phát triển những hiệp ước ngoại giao, và trong khoa học là một sự quan tâm lớn hơn tới quan sát thực nghiệm. Các sử gia thường lập luận những biến đổi về trí tuệ này là một cầu nối giữa Trung cổ và thời Hiện đại. Mặc dù Phục Hưng chứng kiến những cuộc cách mạng trong nhiều lĩnh vực, cũng như những thay đổi chính trị-xã hội, nó vẫn được biết đến nhiều nhất bởi những thành tựu lớn lao về mỹ thuật và những cống hiến của những vĩ nhân đa tài như Leonardo da Vinci hay Michelangelo đã làm xuất hiện thuật ngữ Vĩ nhân Phục Hưng (“Renaissance Great Man”). Có một cuộc tranh luận kéo dài trong giới sử học về quy mô, phân kì của văn hóa và thời đại Phục Hưng, cũng như giá trị và ý nghĩa của nó. Bản thân thuật ngữ Renaissance, do nhà sử học Pháp Jules Michelet đặt ra năm 1855 cũng là đối tượng của những chỉ trích, rằng nó ngụ ý một sự mô tả thái quá về giá trị tích cực của thời kỳ này.
Tôi bảo, cần bao nhiêu để tôi hỗ trợ và vận động tài trợ.
Em bảo: Xin cảm ơn ông có lòng tốt đối với em!
Tôi nửa đùa, nửa thật nói với em: Em hãy ra mấy hiệu Fashion xin một cái ma nơ canh đem về rồi xúc đất sét trộn bùn trét lên chừng nào em thấy đủ độ “Phong nhũ phì đồn” (của Mặc Ngôn – Trung Quốc. Nobel Văn hoc 2015) thì dừng, rồi lấy ngón tay út rạch vào chỗ “quý”. Thế là xong. Em đem nộp cho trường. Tôi tin chắc luận án tốt nghiệp của Cầm sẽ đứng đầu!
Tôi chỉ cho Tuyết Cầm nhìn ra hai khối đá to nằm chồng lên nhau giữa biển, cách bờ không xa mấy. Hòn Chồng mờ mờ, ảo ảo hiện ra trước mặt chúng tôi. Và tôi đọc cho em nghe bài thơ Xứ Hòn Chồng. Đây là bài thơ họa của tôi, theo bài xướng Đá Chồng của nhà thơ Tú Thịt Hộp Võ Nguyện.
Xứ Hòn Chồng
Họa bài Đá Chồng của Võ Nguyện
Ta về thăm thú xứ Hòn Chồng
Bên biển Nha Trang lắm kẻ trông
Cổ tháp Lin-ga* bày cạnh núi
Khánh Sơn Yo-ní* trải bên đồng
Đồi trên mạnh bạo măng trồi mụt
Vườn dưới sum sê cải trổ ngồng
Nữ sĩ Xuân Hương mà sống lại
Khối tình cọ mãi có mòn không?
Tạm biệt cô sinh viên họ Khúc, quê Hải Dương! Tôi thầm mong đất nước ta sẽ có nhiều nhà điêu khắc nổi tiếng như các Cụ Phạm Bá Hạng, Điềm Phùng Thị và Lê Bá Đảng.
Chúng tôi theo con đường mới phía bắc Nha Trang để về Đèo Cả.
(Còn tiếp)
Bên bờ Phước Long Giang, ngày 20/3/2019
Nhà thơ Xuân Bảo.