Trang

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2018

242. Tố Như xúc phạm vương triều ở câu thơ nào?

242. TỐ NHƯ XÚC PHẠM VƯƠNG TRIỀU Ở ĐOẠN NÀO TRONG TRUYỆN KIỀU?
Nhàn đàm của nhà thơ Xuân Bảo
Nguyễn Du ra đời ở vào thời Lê mạt Nguyễn sơ, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ. Ông sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766, tức 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tại phường Bích Câu, Thăng Long thành, nay là Hà Nội. Tổ tiên đại thi hào quê gốc làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Thân phụ Nguyễn Du là tể tướng Nguyễn Nghiễm di cư vào Hà Tĩnh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Danh xưng Nguyễn Tiên Điền tên của Nguyễn Du chính là nơi này.
Năm 1820, vua Gia Long qua đời, vua Minh Mạng nối ngôi. Thời điểm này, Nguyễn Du được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong. Ông bị bệnh mất ngày 10 tháng 8 năm 1820, tức ngày 16 tháng 9 năm Canh Thìn, tạ thế lúc 54 tuổi.

Tố Như đã để lại cho đời những tác phẩm bất hủ: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục (thơ chữ Hán), Văn Chiêu hồn tức Văn tế thập loại chúng sinh, Thác lời trai phường nón, Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ (văn Nôm), Nhưng phải tới Kim Vân Kiều truyện mới là đỉnh cao tuyệt tác của Nguyễn Tiên sinh. Đây là một kiệt tác – niềm tự hào của dân tộc Việt Nam – mà trước và sau Truyện Kiều chưa có một tác phẩm nào sánh kịp.

Đại thi hào Nguyễn Du đã được UNESCO tôn vinh là Danh nhân văn hóa thế giới.
Việt Nam ta tự hào biết mấy!
***
Tự Đức, con vua Thiệu Trị, sinh năm 1829, mất năm 1883 làm vua từ tháng 10 năm 1848, nghĩa là sau ngày Nguyễn Tiên sinh mất đến 28 năm. Vua Tự Đức khi đọc Kim Vân Kiều truyện đến đoạn:

“…Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi
Sao bằng riêng một biên thùy
Sức này, đã dễ làm gì được nhau
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai…”

Vua Tự Đức nổi cơn lôi đình, quát tên quan hầu:
- Hãy lôi ngay Nguyễn Du vào đây và quất cho hai mươi roi để hắn biết “trên đầu còn có ai” nữa không? Quan hầu thưa:
- Muôn tâu bệ hạ! Nguyễn Tiên sinh tịch đã lâu, trước khi hoàng thượng lên ngôi kia. Lời của thiên tử ban ra không dễ gì rút lại được, nên Tự Đức phán:
- Treo cái án hai mươi roi lên giữa trời để làm gương cho bọn văn nhân thi sĩ, để chúng liều liệu cái thần hồn, viết lách cho cẩn thận, lễ độ.

Từ Hải, lãnh tụ nghĩa quân bị Nhà nước phong kiến gọi là giặc nhưng lại được Nguyễn Du gọi là anh hùng. Nguyễn Du không tiếc lời ca ngợi Từ Hải. Chính Từ Hải mới là người đứng ra bênh vực Kiều chứ không phải bọn vua quan phong kiến vốn đã mục ruỗng tới tận xuơng tủy! Hiện tượng Từ Hải, người đã làm rung chuyển ngai vàng “Thiên tử” được Nguyễn Du phác họa với nhiều thiện cảm do đó khi đọc đến đoạn này Tự Đức nổi xung là phải.

Tuy nhiên vì Truyện Kiều quá hay nên tự tay nhà vua cũng góp phần hiệu đính. Và sau này Kim Vân Kiều truyện có tên gọi là Bản Kinh hay Bản Kiều Huế là như thế.
Tự Đức là một ông vua nổi tiếng trên thi đàn, đã từng:

“Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi…*
(Khóc Bằng Phi)
Nhà vua không cho đốt Truyện Kiều như tên hôn quân Tần Thủy Hoàng đã từng đốt hết sách!
May thay! Nguyễn Du không bị hai mươi roi và cũng may thay cho số phận Kim Vân Kiều truyện còn mãi với non sông đất Việt ngàn đời sau mãi mãi là áng thi bất tuyệt.
*Tôi chép ra đây nguyên bản Khóc Bằng Phi *

Ới thị Bằng ơi đã hết rồi,
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ơi.
Trưa hè nắng chái oanh ăn nói,
Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài chứ chẳng thôi.
*Có ý kiến cho rằng bài thơ này của Nguyễn Gia Thiều khóc nàng Bằng Cơ.
BẢN KHÁC
Khóc Bằng Phi
Ới thị Bằng ơi đã hết rồi,
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ơi.
Trưa hè nắng chái oanh ăn nói,
Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài chứ chẳng thôi.

Xem lại trong cuốn Thi văn bình chú của tác giả Ngô Tất Tố, trang 91 chép như sau :
Ới Thị Bằng ơi! đã mất rồi !
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ơi !
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói,
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi .
Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi .
Mối tình muốn dứt, càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài, chứ chẳng thôi
.
Thấy rằng, so với bản này thì có khác đôi chút, bên dưới tác giả chú thích như sau :
“Bài này nhiều người bảo là của vua Tự Đức. Nhưng các vị cố lão thì nói là của ông Nguyễn Gia Thiều khóc nàng Bằng Cơ, một người vợ lẽ của ông.
Xét ra vua Tự Đức cũng ít khi làm thơ quốc âm. Coi tập Việt sử tổng vịnh và những nhời phê của ngài ở bộ Việt sử Khâm Định, thì biết tính ngài rất bệ vệ, lúc nào cũng muốn tỏ mình là đấng anh quân. Với cái tính kiểu sức ấy, chắc không khi nào ngài chịu dùng những chữ tình chữ duyên để khóc một người đàn bà. Huống chi thơ vua Tự Đức rất dở, cả tập Việt sử tổng vịnh không được mấy bài nghe được. Vậy mà bài này lại là một bài rất hay, có lẽ sức ngài không thể làm nổi".
...
Theo tôi, để đính chính những thiếu sót và ngộ nhận, tôi viết lên những điều mà tôi cho rằng những nhà nghiên cứu, nhất là những nhà văn, nhà thơ nên có những nghiên cứu biên khảo lại cho thật chính xác về thơ của một ông vua nổi tiếng trên thi đàn.
Thực hư thế nào, xin mời các bạn thảo luận thêm.
Bên bờ Phước Long Giang, sắp tới ngày Giỗ Đại thi hào Nguyễn Du 16/9/Mậu Tuất
Ngày mùng 1 tháng 8 Mậu Tuất nhằm ngày 10/9/2018
Nhà thơ Xuân Bảo

241. Mồ hoang Thơ Xuân Bảo viết về Nguyễn Du 2

241. MỒ HOANG


                 Thơ của Xuân Bảo


Lối cũ vườn xưa cỏ mọc đầy


Mồ hoang lạnh lẽo của ai đây?

-Đạm Tiên chủ hội Đoạn trường đó

Phận bạc hồng nhan, đau đớn thay!


*Lời bàn. Trong Truyện Kiều từ câu 53 đến câu 66 Nguyễn Tiên sinh cho ta biết có một cái mồ vô chủ trong tiết Thanh minh, tức là trong ngày tảo mộ. Người người nhà nhà đều ra nghĩa địa làm cỏ dọn rác, bồi đắp mộ, trồng hoặc cắm thêm hoa để tưởng nhớ người đã khuất. Tiết Thanh minh thường diễn ra trong những ngày xuân cho nên cũng trở thành một ngày hội.


Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp thanh


Đạp thanh có nghĩa đen là giẫm lên cỏ xanh và nghĩa bóng là ngày hội chơi xuân. Thế mà, có một ngôi mộ không ra mộ chỉ là Sè sè nắm đất bên đường/Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh! Buồn lắm chứ, thương lắm chứ! Nguyễn Tiên sinh đã đặc tả ngôi mộ và để Vương Quan dẫn giải người nằm dưới mộ là một ca nhi tài sắc vẹn toàn, một cành thiên hương (hương thơm của trời). Đạm Tiên xấu số. Đạm Tiên có tên trong Sổ đoạn trường. Sổ ghi tên những người phụ nữ bạc mệnh. Tôi viết bài thơ Mồ hoang là nhân khi đọc Truyện Kiều tháy xót thương cho số phận Đạm Tiên từ đoạn thơ:


Bước lần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nắm đất bên đàng

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

-Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”

Vương Quan mới dẫn gần xa:

-“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi

Nổi danh tài sắc một thì

Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh

Kiếp hồng nhan có mong manh

Nửa chừng xuân thoắt gảy cành thiên hương".

Chú thêm về hai chữ Đoạn trường.

Truyện Kiều lúc đầu được Nguyễn Du đặt tên là Đoạn trường tân thanh, nghĩa là: Tiếng nói mới đứt ruột. Được viết dựa vào một tác phẩm cổ của Thanh Tâm Tài Nhân, một tác giả sống vào đời nhà Thanh. Nội dung của Kim Vân Kiều truyện bắt nguồn từ một câu chuyện có thật xảy ra từ thời nhà Minh. Tại vùng quê phía Đông Trung Quốc, một toán cướp biển do Từ Hải cầm đầu thường xuyên đánh phá vùng Giang Đông. Triều đình cử quan Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến cầm quân đánh dẹp toán giặc biển này. Câu chuyện được Mao Khôn, một người trong quân đội Hồ Tôn Hiến ghi lại trong sách: Ký tiểu trừ Từ Hải bản mật. Câu chuyện này về sau được nhiều người viết đi viết lại. Đới Sĩ Lâm viết: Lý Thuý Kiều truyện; Dư Hoài viết: Vương Thuý Kiều truyện; Trần Thụ Cơ viết: Hồ Thiếu Bảo bình nguy tấu tích; Mộng Giác Đạo Nhân viết: Từ tạ Từ Hải Nghĩa.


Bên bờ Phước Long Giang,  sắp tới Ngày giỗ của Đại thi hào Nguyễn Du – 16/9/Mậu Tuất
Nhà thơ Xuân Bảo

240. Thơ của Xuân Bảo viết về Nguyễn Du

240 VỚI NGUYỄN DU
Thơ của Xuân Bảo
Lên Ngàn Sâu lại nhớ trăng Ngàn Hống
Xuống sông La vương vấn sóng sông Lam
Nhớ Tiền Đường vùi dập nỗi hàm oan
Ghê gớm thay cái hồng nhan bạc phận
Mười lăm năm một kiếp người lận đận
Vì hiếu trung mà mang hận phụ tình
Vẫn còn đây nguyên vẹn nét tuyết trinh
Dù gặp lại có mong chi tái hợp
Chiều Tiên Điền mây trắng đùn lớp lớp
Chờ nghe Thơ cho vợi nỗi đau đời
Tài với tâm, tương đố Tố Như ơi!
Lòng đã tỏ, vẫn “bất tri tam bách”?*
Tượng đài uy nghi thi nhân trầm mặc
Giọng đò đưa man mác giữa dòng trôi
“Cõi người ta” còn đó, Nguyễn Du ơi!
Tha thiết quá bên trời – ai ví dặm?
______
*Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Thơ Nguyễn Du

239. chuyện nhỏ làng quê 5

239. Chuyện nhỏ làng quê. 5

 Câu chuyện thứ 5. Chuyện ông Hoàn hoạn heo ( lợn.)

 Để hạn chế nạn nhân mãn, bùng nổ dân số, con người được nhà nước quan tâm dùng nhiều biện pháp để hạn chế sinh đẻ như đàn ông thì thắt ống dẫn tinh, đàn bà thì đặt vòng, thắt hoặc cắt bỏ buồng trứng, uống thuốc ngừa thai… Riêng việc triệt sản cho các loài gia súc, gia cầm như chó, mèo, lợn, bò, gà đã có cán bộ thú y đảm nhiệm. Ngày nay, người làm nghề thiến và hoạn còn lại rất ít. Thường thường, những nhà có nuôi gia cầm, gia súc thì tự làm lấy việc thiến, còn việc hoạn thì hầu như không có. Ngày trước, quê ngoại của tôi có ông Hoàn ở xóm dưới làm nghề này. Dân làng thường gọi ông là “quan Hoàn hoạn heo”. Trong làng và những làng lận cận nếu gia đình nào cần thì gọi ông Hoàn. Bọn trẻ chúng tôi hay theo ông để nhìn tận mắt việc làm này. Dụng cụ ông Hoàn mang theo gồm một cái thang tre ngắn, chiều dài khoảng hai mét, hai sợi dây thừng bằng sợi vải, một con dao nhíp, một cái móc, mây cuộn chỉ, một ít muội bếp, (quê tôi gọi là lọ nghẹ), một cái chai nhỏ đựng dầu hôi. Ông Hoàn đến nhà (người có con vật cần thiến là con đực hay hoạn là con cái). Ông buộc cái thang tre cố định cho chắc vào gốc cây mít hay bất kỳ cây nào khác. Ông tóm gọn hai chân sau con vật treo ngược vào thang, mặc cho nó kêu rồi ông lấy dầu hôi bôi vào chỗ cần cắt. Ông lấy dao nhíp sắc khía vào hòn dái con đực một lát ngắn rồi ông nặn hột dái ra, lấy dao cắt rời, lấy chỉ vuốt qua lọ nghẹ và khâu lại. Hết hòn dái bên này, ông lai làm sang hòn dái bên kia, bôi dầu hôi lên vết cắt rồi tháo dây thừng thả con vật vào chuồng. Con đực thì gọi là thiến. Còn nếu là con cái thì gọi là hoạn. Thực ra hai từ này không khác nhau là mấy. Tháng 2 năm 1947, Pháp nống ra Quảng Trị, ông Hoàn lên chiến khu Ba Lòng. Từ đó, dân làng hầu như quên hẳn ông. 

 Tôi lại nhớ đến mấy vị hoạn quan cuả nước An Nam ta. Trong đó có quan hoạn thứ nhất nổi danh trong lịch sử Việt Nam là Lý Thường Kiệt đời nhà Lý với chiến công "phá Tống bình Chiêm". Người hoạn quan thứ hai cũng rất nổi tiếng là Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm quan dưới đời vua Lê Hiển Tông, đã cùng Phạm Đình Trọng dẹp yên hai cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương, khi về hưu được phong làm Quốc lão. Về sau ông đem đại quân đánh vào Phú Xuân, bắt được Trương Phúc Loan rồi trấn thủ Thuận Hóa, chấm dứt một giai đoạn Nam – Bắc phân tranh kéo dài hơn 200 năm. Người thứ ba là Tả quân Lê Văn Duyệt khai quốc công thần triều Nguyễn. Lê Văn Duyệt tuy cũng xuất thân hoạn quan nhưng ông bản chất là người “ái nam, ái nữ” chứ không phải tự thiến để thành quan thị như Việt Quốc công Lý Thường Kiệt hay Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc. Ở Việt Nam, hoạn quan được ghi nhận là có từ thời nhà Lý, đến triều Nguyễn, hoạn quan được chia làm năm trật: 1. Quản vụ Thái giám và Điển sự Thái giám. 2.Kiểm sự Thái giám và Phụng nghi Thái giám. 3.Thừa vụ và Điển nô Thái giám. 4.Cung sự và Hộ nô Thái giám. 5.Cung phụng và Thừa biện Thái giám. Việc kén chọn hoạn quan ưu tiên tuyển những trẻ em "ái nam con gái" do lệnh của triều đình. Người dân nào sinh con có khuyết tật đó được quan sở tại tới khám xét rồi làm sớ tâu lên. Cha mẹ đứa bé sẽ nuôi con đến lúc 13 tuổi, sau đó Bộ Lễ sẽ đưa vào cung tập sự hoạn quan. Làng nào có hoạn quan tiến cử được miễn binh lính, phu phen tạp dịch và cả sưu thuế. Nếu không có đủ số trẻ ái nam con gái, thanh niên nào tự nguyện thiến bộ phận sinh dục sẽ được tuyển chọn. Tuy nhiên, thái giám Việt Nam chỉ là một số nhỏ không được trọng vọng lại chỉ được làm những việc lặt vặt chưa thành hẳn một tầng lớp có ảnh hưởng như Trung Hoa. Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, thái giám không được dự vào phẩm hàm hay quan chức triều đình và chỉ được hầu hạ trong cung mà thôi, cũng có thể nhà vua không muốn xảy ra việc hoạn quan chuyên quyền như Trung Hoa hay vì đố kỵ với Tả quân Lê Văn Duyệt trong vụ nổi loạn thành Phiên An. Tấm bia khắc là toàn văn bản dụ này nay vẫn còn trong Văn Miếu, Huế. Thái giám cũng có riêng một nghĩa trang trong khuôn viên chùa Từ Hiếu, cách Huế khoảng 1 km theo hướng tây nam và vì thế chùa này còn được gọi là chùa Thái Giám. Trong một số thời kỳ, nước Việt phải đem cống sang Tàu một số người tài giỏi, sau đó bị trở thành hoạn quan. Theo Hoàng Minh thông ký, một hoạn quan người Việt là Nguyễn An đã vẽ kiểu tu tạo thành Bắc Kinh bao gồm 9 cửa, 2 cung, 3 điện, 5 phủ, công đường, nha môn 6 bộ và các trường xưởng nhà trạm. Ông làm quan trải năm đời vua triều Minh là: Thành Tổ, Nhân Tông, Tuyên Tông, Anh Tông, và Cảnh Tông, tính tình liêm khiết rất đáng kính trọng. Bên bờ Phước Long Giang, ngày 16/8/2018. Xuân Bảo 

238.VỊ VUA CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM

238. CHÙM THƠ VĂN VIẾT VỀ MÙA THU - 2018.
11, VỊ VUA CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN

Hồi ức của nhà thơ Xuân Bảo.
Cách đây 73 năm, vào những ngày tháng Tám năm Ất Dậu 1945 sôi động, dân tộc Việt Nam sắp bước sang trang sử mới: Chấm dứt thời đại phong kiến mấy nghìn năm; chấm dứt thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp ( kể từ tiếng súng xâm lược của liên qyân Pháp - Tây-ban-nha ngày . năm 1858 cho tới ngày vị hoàng đế cuối cùng ra Tuyên ngôn Thoái vị.
Tuyên ngôn Thoái vị của Bảo Đại.
Bản Tuyên ngôn Thoái vị của Bảo Đại công bố ngày 25 tháng 8 năm 1945 chính thức chấm dứt nhà Nguyễn và chế độ quân chủ ở Việt Nam. Bản Tuyên ngôn được vua Bảo Đại soạn với sự trợ giúp của hoàng thân Vĩnh Cẩn trong đêm 22 tháng 8, 1945 tại điện Kiến Trung, hoàng thành Huế. Sáng hôm sau, khi đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện để tiếp thu bàn giao, lúc đầu Bảo Đại đưa bản Tuyên ngôn cho Trần Huy Liệu. Nhưng ông này hội ý với người đồng hành và tâu với Bảo Đại rằng:
" Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết."
Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Đại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn, như sau:
Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
Vì nền độc lập của Việt Nam,
Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.
Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.
Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.
Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.
Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.
Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:
—Thứ nhất: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.
—Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.
—Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.
Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là Dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
Việt Nam độc lập muôn năm,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm,
Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945.
***
Theo hồi ký "Con Rồng Việt Nam" của Bảo Đại, bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Mọi người có mặt trong buổi lễ đều ngẩn ngơ, bàng hoàng. Bảo Đại viết rằng:
"Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.
Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu.”
Bên bờ Phước Long Giang, sáng 30/8/2018.
Nhà thơ Xuân Bảo

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2018

234.5. KỶ NIỆM NGÀY MẤT CỦA HỒ CHỦ TỊCH


234.5.CHÙM THƠ VĂN VIẾT VỀ MÙA THU 2018.

15. KỶ NIỆM NGÀY MẤT CỦA HỒ CHỦ TỊCH.

Năm 1969, Hà Nội đang trong tình trạng chống “chiến tranh phá hoại” của Mỹ. Nhân dân ta chịu biết bao khó khăn. Hạt gạo làm ra phải xẻ làm tư, một cho chiến trường miền Nam, thường gọi là chiến trường B, một cho chiến trường C (Lào), một cho chiến trường K (Campuchia). Phần ít ỏi còn lại cho miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hà Nội lúc này chưa có truyền hình (TV). Đài Truyền thanh Hà Nội chỉ phát thanh bằng đường dây trực tiếp. Nơi công cộng thì có loa, công suất lớn, vừa để nghe tiếp âm của Đài Tiếng nói Việt Nam, vừa thông tin tin tức thời sự của thủ đô, vừa làm nhiệm vụ thông báo khi có máy bay địch xâm phạm bầu trời Hà Nội. Mỗi hộ dân đều được gắn một cái loa ga-len không có nút tắt mở. Đến giờ thì tự động phát, hết giờ thì tự động tắt. Thường ngày, nhạc hiệu của Đài Truyền thanh là bài Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi.
Sau lễ mừng Quốc khánh, tôi không nhớ rõ là ngày 3 hay 4 tháng 9 thì từ buổi phát thanh buổi sáng phát đi bản tin. Nhưng lạ thay, không phát bài Người Hà Nội mà mở đầu bằng bài Chiêu hồn tử sĩ. Bài hát này có từ hồi năm 1945, sau này lấy làm nhạc hiệu cho những buổi lễ long trọng trong phần nghi thức. Đầu lễ là Quốc ca, thứ đến là bài Ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh rồi đến phút mặc niệm thì tấu lên bản nhạc Chiêu hồn tử sĩ.
Tiếng người phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam dường như bị đứt quãng, nghẹn ngào. Sau nhạc hiệu của Đài là đến bản Chiêu hồn tử sĩ. Phát thanh viên đọc bản Thông cáo đặc biệt. Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hòa và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vô cùng đau đớn báo tin để toàn Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam biết: đồng chí Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã từ trần hồi 9 giờ 47 phút ngày 3-9 năm 1969, sau một cơn đau tim đột ngột rất nặng, thọ 79 tuổi.
Tôi xúc động nói với nhà tôi: Thế là Bác Hồ đã ra đi. Hai cháu Triệu Quang và Thúy Ngọc cùng thức dậy và cùng khóc. Mấy gia đình cán bộ bên cạnh cũng khóc. Không khí tang thương bao trùm ngôi nhà 59 Hàng Đào. Trên đường tới cơ quan, khi ngang qua bờ hồ Hoàn Kiếm tôi thấy rất đông đồng bào ta tụ tập quanh những chiếc loa công cộng để theo dõi tin tức Hồ Chủ tịch từ trần. Nhiều tiếng khóc! Nhiều dòng nước mắt tuôn chảy, trong khi trời vẫn mưa.
                                       ***
Sau ngày tang lễ 9/9/1979, các báo đăng nhiều bài thơ tưởng nhớ Người. Đặc biệt, hầu như những tờ báo lớn như Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới đều đăng bài thơ Bác ơi của Tố Hữu. Bài thơ mở đầu bằng những câu:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Nhà thơ Thu Bồn ở tận trong Nam cũng khóc Bác:
Có người thợ dựng Thành Đồng
Đã yên nghỉ tận sông Hồng mẹ ơi…
Bài thơ của tôi Để Người đi cho lòng được thảnh thơi cũng được đăng báo ngày ấy và sau này được đưa vào sách Khúc hát những dặm đường do Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành:

Đại bác nổ từng hồi đưa tiễn Bác
Tiếng súng rền như xé ruột xé gan
Bác đi rồi ơi nửa nước miền Nam
Hai mươi năm trời chỉ lo đánh giặc
Quét sạch thù cho chóng ngày gặp mặt
Nỗi nhớ mong đếm từng phút từng giây!

Đau thương nào sánh được nổi đau này
Ta không khóc mà lòng đầy nước mắt
Ngọn cờ Bác trao cùng nhau giữ chặt
Để Bác đi cho lòng được thảnh thơi
Người đi rồi cả thế giới buồn đau
Bầu bạn tiếc thương, quân thù kính phục

Hỡi những ai còn kiếp đời tủi nhục
Đưa tiễn Người chớ để lệ tràn mi
Ơi anh em Âu – Á – Mỹ - Úc – Phi
Giờ phút này xiết chặt thêm đội ngũ
Trước mặt ta bao mưu thù còn đó
Đoàn kết lại cả bốn biển năm châu
Để Người đi cho lòng nhẹ nỗi đau

Đại bác nổ từng hồi đưa tiễn Bác.
Hà Nội 9-1969
Bên bờ Phước Long Giang, 9 giờ 47 phút ngày 2/9/2018.
Nhà thơ Xuân Bảo


234.4. MỪNG NGÀY SINH CON GÁI ÚT


234.4.CHÙM THƠ VĂN VIẾT VỀ MÙA THU 2018.

14. MỪNG NGÀY SINH CON GÁI ÚT NGUYỄN THÚY HƯƠNG.

Tôi chép ra đây đoạn nhật ký của tôi viết tối ngày 31-8-1970:
“Thúy Hương ra đời vào cái năm khủng khiếp lần thứ 2 của cuộc đời bố nó. Song một lần nữa chiến thắng vẫn là ta. Năm này là năm thắng lợi rực rỡ nhất. Mọi công việc về xác định phẩm chất, giá trị con người qua pháp lý, có văn bản hẳn hoi đã được hình thành.
Con thân yêu, cha đã khổ đau nhiều: khổ đau vì xa cách quê hương. Khổ đau về nhiều nỗi bất công ở đời mà mỗi lúc nhìn thấy trái tim cuộn lên một nỗi phẫn uất ghê gớm. Cha đã thẳng tay vạch trần và phải chịu nhiều cay đắng. Khổ đau vì cuộc sống túng bấn về vật chất, o ép về tinh thần. Nhưng bố mẹ hết lòng thương con. Con ra đời là niềm hạnh phúc lớn lao của bố mẹ. Dù khó khăn vất vả thế nào đi nữa, bố mẹ vẫn phải làm lụng nuôi cho con và anh chị con lớn khôn thành người.
Cảm ơn cuộc sống! Ta yêu ngươi mà ngươi thì quá hững hờ với ta.”
Hà Nội, tối 31/8/1970.

Thúy Hương được sinh ra tại nhà hộ sinh 137 Phùng Hưng, Hà Nội, trước Quốc khánh 2 ngày. Sinh Thúy Hương, tôi được thêm 5 đồng lương con (con thứ 3 mới có lương con) và mất đi danh hiệu “lao động tiên tiến”vì sinh con thứ 3.
Nhà tôi, vì thiếu sữa cho nên phải đến phòng y tế khám sữa. Ở đây một số rất đông các sản phụ ngồi chờ. Đến lượt, bác sĩ mời sản phụ vào phòng, có che cái ri-đô mỏng, cởi áo ra và bác sĩ nắn xem vú sản phụ xem có sữa nhiều hay ít, nếu ít thực thì ký cho cái phiếu mua sữa 8 hộp. Những bà mẹ thiếu sữa cho con bú mà ngại đến phòng y tế thì ra phố Hàng Buồm. Nơi đây, bọn “phe phẩy” không thiếu một loại phiếu nào của sở Thương nghiệp Hà Nội, từ bách hóa cho đến thực phẩm mang cái tên mậu dịch quốc doanh cấp phát, tuồn ra.
Tôi còn nhớ, năm 1974, Thúy Hương được 5 tuổi, dắt con ông bà Hiến tên là Nga – người ở cùng nhà 59 Hàng Đào với chúng tôi. Hai cháu đi chơi ra bờ hồ Hoàn Kiếm và sau đó lên chợ Đồng Xuân. Không biết đường về nhà, ngồi khóc và được mấy chú công an đồn Hàng Đậu dắt về đồn. Vợ chồng chúng tôi và mấy anh chị con ông bà Hiến đi tìm. Đến bốt công an Hàng Đậu thì gặp 2 cháu. Mừng rối rít, chúng tôi cảm ơn công an và dắt con về nhà.
Thế mà, đến nay Thúy Hương đã tròn 48 tuổi. (31/8/1970 – 31/8/2018), có 3 người con. Cháu đầu Trịnh Ngọc Hương Nam đã có gia đình và sinh được 2 cháu.Phan An Nhiên và Phan An Như. Thúy Hương lên chức bà ngoại, còn vợ chồng tôi lên chức cụ (miền Nam gọi là cố). Cháu thứ là Phạm Ngọc Thúy Hà đang học năm cuối đại học Khoa học xã hội và nhân văn. Cháu út là Phạm Đình Long, đang là thủ môn của đội bóng Phố Núi Hoàng Anh Gia Lai của ông bầu Đức.
Thúy Hương hiện đang tham gia điều hành Trung tâm Bóng đá Trẻ Văn Tâm Đồng Nai, vệ tinh của Bóng đá Viettel
.         Nhân sinh nhật lần thứ 48 của Thúy Hương, bố mẹ chúc con mạnh khỏe, vui vẻ và mọi sự tốt lành!

Biên Hòa, sáng 31/8/2018
Chùm ảnh Thúy Hương lúc còn nhỏ ở Hà Nội.