Thứ Năm, 13 tháng 9, 2018
240. Thơ của Xuân Bảo viết về Nguyễn Du
240 VỚI NGUYỄN DU
Thơ của Xuân Bảo
Lên Ngàn Sâu lại nhớ trăng Ngàn Hống
Xuống sông La vương vấn sóng sông Lam
Nhớ Tiền Đường vùi dập nỗi hàm oan
Ghê gớm thay cái hồng nhan bạc phận
Thơ của Xuân Bảo
Lên Ngàn Sâu lại nhớ trăng Ngàn Hống
Xuống sông La vương vấn sóng sông Lam
Nhớ Tiền Đường vùi dập nỗi hàm oan
Ghê gớm thay cái hồng nhan bạc phận
Mười lăm năm một kiếp người lận đận
Vì hiếu trung mà mang hận phụ tình
Vẫn còn đây nguyên vẹn nét tuyết trinh
Dù gặp lại có mong chi tái hợp
Vì hiếu trung mà mang hận phụ tình
Vẫn còn đây nguyên vẹn nét tuyết trinh
Dù gặp lại có mong chi tái hợp
Chiều Tiên Điền mây trắng đùn lớp lớp
Chờ nghe Thơ cho vợi nỗi đau đời
Tài với tâm, tương đố Tố Như ơi!
Lòng đã tỏ, vẫn “bất tri tam bách”?*
Chờ nghe Thơ cho vợi nỗi đau đời
Tài với tâm, tương đố Tố Như ơi!
Lòng đã tỏ, vẫn “bất tri tam bách”?*
Tượng đài uy nghi thi nhân trầm mặc
Giọng đò đưa man mác giữa dòng trôi
“Cõi người ta” còn đó, Nguyễn Du ơi!
Tha thiết quá bên trời – ai ví dặm?
______
*Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Thơ Nguyễn Du
Giọng đò đưa man mác giữa dòng trôi
“Cõi người ta” còn đó, Nguyễn Du ơi!
Tha thiết quá bên trời – ai ví dặm?
______
*Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Thơ Nguyễn Du
239. chuyện nhỏ làng quê 5
239. Chuyện nhỏ làng quê.
5
Câu chuyện thứ 5. Chuyện ông Hoàn hoạn heo ( lợn.)
Để hạn chế nạn nhân mãn, bùng nổ dân số, con người được nhà nước quan tâm dùng nhiều biện pháp để hạn chế sinh đẻ như đàn ông thì thắt ống dẫn tinh, đàn bà thì đặt vòng, thắt hoặc cắt bỏ buồng trứng, uống thuốc ngừa thai… Riêng việc triệt sản cho các loài gia súc, gia cầm như chó, mèo, lợn, bò, gà đã có cán bộ thú y đảm nhiệm. Ngày nay, người làm nghề thiến và hoạn còn lại rất ít. Thường thường, những nhà có nuôi gia cầm, gia súc thì tự làm lấy việc thiến, còn việc hoạn thì hầu như không có. Ngày trước, quê ngoại của tôi có ông Hoàn ở xóm dưới làm nghề này. Dân làng thường gọi ông là “quan Hoàn hoạn heo”. Trong làng và những làng lận cận nếu gia đình nào cần thì gọi ông Hoàn. Bọn trẻ chúng tôi hay theo ông để nhìn tận mắt việc làm này. Dụng cụ ông Hoàn mang theo gồm một cái thang tre ngắn, chiều dài khoảng hai mét, hai sợi dây thừng bằng sợi vải, một con dao nhíp, một cái móc, mây cuộn chỉ, một ít muội bếp, (quê tôi gọi là lọ nghẹ), một cái chai nhỏ đựng dầu hôi. Ông Hoàn đến nhà (người có con vật cần thiến là con đực hay hoạn là con cái). Ông buộc cái thang tre cố định cho chắc vào gốc cây mít hay bất kỳ cây nào khác. Ông tóm gọn hai chân sau con vật treo ngược vào thang, mặc cho nó kêu rồi ông lấy dầu hôi bôi vào chỗ cần cắt. Ông lấy dao nhíp sắc khía vào hòn dái con đực một lát ngắn rồi ông nặn hột dái ra, lấy dao cắt rời, lấy chỉ vuốt qua lọ nghẹ và khâu lại. Hết hòn dái bên này, ông lai làm sang hòn dái bên kia, bôi dầu hôi lên vết cắt rồi tháo dây thừng thả con vật vào chuồng. Con đực thì gọi là thiến. Còn nếu là con cái thì gọi là hoạn. Thực ra hai từ này không khác nhau là mấy. Tháng 2 năm 1947, Pháp nống ra Quảng Trị, ông Hoàn lên chiến khu Ba Lòng. Từ đó, dân làng hầu như quên hẳn ông.
Tôi lại nhớ đến mấy vị hoạn quan cuả nước An Nam ta. Trong đó có quan hoạn thứ nhất nổi danh trong lịch sử Việt Nam là Lý Thường Kiệt đời nhà Lý với chiến công "phá Tống bình Chiêm". Người hoạn quan thứ hai cũng rất nổi tiếng là Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm quan dưới đời vua Lê Hiển Tông, đã cùng Phạm Đình Trọng dẹp yên hai cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương, khi về hưu được phong làm Quốc lão. Về sau ông đem đại quân đánh vào Phú Xuân, bắt được Trương Phúc Loan rồi trấn thủ Thuận Hóa, chấm dứt một giai đoạn Nam – Bắc phân tranh kéo dài hơn 200 năm. Người thứ ba là Tả quân Lê Văn Duyệt khai quốc công thần triều Nguyễn. Lê Văn Duyệt tuy cũng xuất thân hoạn quan nhưng ông bản chất là người “ái nam, ái nữ” chứ không phải tự thiến để thành quan thị như Việt Quốc công Lý Thường Kiệt hay Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc. Ở Việt Nam, hoạn quan được ghi nhận là có từ thời nhà Lý, đến triều Nguyễn, hoạn quan được chia làm năm trật: 1. Quản vụ Thái giám và Điển sự Thái giám. 2.Kiểm sự Thái giám và Phụng nghi Thái giám. 3.Thừa vụ và Điển nô Thái giám. 4.Cung sự và Hộ nô Thái giám. 5.Cung phụng và Thừa biện Thái giám. Việc kén chọn hoạn quan ưu tiên tuyển những trẻ em "ái nam con gái" do lệnh của triều đình. Người dân nào sinh con có khuyết tật đó được quan sở tại tới khám xét rồi làm sớ tâu lên. Cha mẹ đứa bé sẽ nuôi con đến lúc 13 tuổi, sau đó Bộ Lễ sẽ đưa vào cung tập sự hoạn quan. Làng nào có hoạn quan tiến cử được miễn binh lính, phu phen tạp dịch và cả sưu thuế. Nếu không có đủ số trẻ ái nam con gái, thanh niên nào tự nguyện thiến bộ phận sinh dục sẽ được tuyển chọn. Tuy nhiên, thái giám Việt Nam chỉ là một số nhỏ không được trọng vọng lại chỉ được làm những việc lặt vặt chưa thành hẳn một tầng lớp có ảnh hưởng như Trung Hoa. Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, thái giám không được dự vào phẩm hàm hay quan chức triều đình và chỉ được hầu hạ trong cung mà thôi, cũng có thể nhà vua không muốn xảy ra việc hoạn quan chuyên quyền như Trung Hoa hay vì đố kỵ với Tả quân Lê Văn Duyệt trong vụ nổi loạn thành Phiên An. Tấm bia khắc là toàn văn bản dụ này nay vẫn còn trong Văn Miếu, Huế. Thái giám cũng có riêng một nghĩa trang trong khuôn viên chùa Từ Hiếu, cách Huế khoảng 1 km theo hướng tây nam và vì thế chùa này còn được gọi là chùa Thái Giám. Trong một số thời kỳ, nước Việt phải đem cống sang Tàu một số người tài giỏi, sau đó bị trở thành hoạn quan. Theo Hoàng Minh thông ký, một hoạn quan người Việt là Nguyễn An đã vẽ kiểu tu tạo thành Bắc Kinh bao gồm 9 cửa, 2 cung, 3 điện, 5 phủ, công đường, nha môn 6 bộ và các trường xưởng nhà trạm. Ông làm quan trải năm đời vua triều Minh là: Thành Tổ, Nhân Tông, Tuyên Tông, Anh Tông, và Cảnh Tông, tính tình liêm khiết rất đáng kính trọng. Bên bờ Phước Long Giang, ngày 16/8/2018. Xuân Bảo
Câu chuyện thứ 5. Chuyện ông Hoàn hoạn heo ( lợn.)
Để hạn chế nạn nhân mãn, bùng nổ dân số, con người được nhà nước quan tâm dùng nhiều biện pháp để hạn chế sinh đẻ như đàn ông thì thắt ống dẫn tinh, đàn bà thì đặt vòng, thắt hoặc cắt bỏ buồng trứng, uống thuốc ngừa thai… Riêng việc triệt sản cho các loài gia súc, gia cầm như chó, mèo, lợn, bò, gà đã có cán bộ thú y đảm nhiệm. Ngày nay, người làm nghề thiến và hoạn còn lại rất ít. Thường thường, những nhà có nuôi gia cầm, gia súc thì tự làm lấy việc thiến, còn việc hoạn thì hầu như không có. Ngày trước, quê ngoại của tôi có ông Hoàn ở xóm dưới làm nghề này. Dân làng thường gọi ông là “quan Hoàn hoạn heo”. Trong làng và những làng lận cận nếu gia đình nào cần thì gọi ông Hoàn. Bọn trẻ chúng tôi hay theo ông để nhìn tận mắt việc làm này. Dụng cụ ông Hoàn mang theo gồm một cái thang tre ngắn, chiều dài khoảng hai mét, hai sợi dây thừng bằng sợi vải, một con dao nhíp, một cái móc, mây cuộn chỉ, một ít muội bếp, (quê tôi gọi là lọ nghẹ), một cái chai nhỏ đựng dầu hôi. Ông Hoàn đến nhà (người có con vật cần thiến là con đực hay hoạn là con cái). Ông buộc cái thang tre cố định cho chắc vào gốc cây mít hay bất kỳ cây nào khác. Ông tóm gọn hai chân sau con vật treo ngược vào thang, mặc cho nó kêu rồi ông lấy dầu hôi bôi vào chỗ cần cắt. Ông lấy dao nhíp sắc khía vào hòn dái con đực một lát ngắn rồi ông nặn hột dái ra, lấy dao cắt rời, lấy chỉ vuốt qua lọ nghẹ và khâu lại. Hết hòn dái bên này, ông lai làm sang hòn dái bên kia, bôi dầu hôi lên vết cắt rồi tháo dây thừng thả con vật vào chuồng. Con đực thì gọi là thiến. Còn nếu là con cái thì gọi là hoạn. Thực ra hai từ này không khác nhau là mấy. Tháng 2 năm 1947, Pháp nống ra Quảng Trị, ông Hoàn lên chiến khu Ba Lòng. Từ đó, dân làng hầu như quên hẳn ông.
Tôi lại nhớ đến mấy vị hoạn quan cuả nước An Nam ta. Trong đó có quan hoạn thứ nhất nổi danh trong lịch sử Việt Nam là Lý Thường Kiệt đời nhà Lý với chiến công "phá Tống bình Chiêm". Người hoạn quan thứ hai cũng rất nổi tiếng là Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm quan dưới đời vua Lê Hiển Tông, đã cùng Phạm Đình Trọng dẹp yên hai cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương, khi về hưu được phong làm Quốc lão. Về sau ông đem đại quân đánh vào Phú Xuân, bắt được Trương Phúc Loan rồi trấn thủ Thuận Hóa, chấm dứt một giai đoạn Nam – Bắc phân tranh kéo dài hơn 200 năm. Người thứ ba là Tả quân Lê Văn Duyệt khai quốc công thần triều Nguyễn. Lê Văn Duyệt tuy cũng xuất thân hoạn quan nhưng ông bản chất là người “ái nam, ái nữ” chứ không phải tự thiến để thành quan thị như Việt Quốc công Lý Thường Kiệt hay Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc. Ở Việt Nam, hoạn quan được ghi nhận là có từ thời nhà Lý, đến triều Nguyễn, hoạn quan được chia làm năm trật: 1. Quản vụ Thái giám và Điển sự Thái giám. 2.Kiểm sự Thái giám và Phụng nghi Thái giám. 3.Thừa vụ và Điển nô Thái giám. 4.Cung sự và Hộ nô Thái giám. 5.Cung phụng và Thừa biện Thái giám. Việc kén chọn hoạn quan ưu tiên tuyển những trẻ em "ái nam con gái" do lệnh của triều đình. Người dân nào sinh con có khuyết tật đó được quan sở tại tới khám xét rồi làm sớ tâu lên. Cha mẹ đứa bé sẽ nuôi con đến lúc 13 tuổi, sau đó Bộ Lễ sẽ đưa vào cung tập sự hoạn quan. Làng nào có hoạn quan tiến cử được miễn binh lính, phu phen tạp dịch và cả sưu thuế. Nếu không có đủ số trẻ ái nam con gái, thanh niên nào tự nguyện thiến bộ phận sinh dục sẽ được tuyển chọn. Tuy nhiên, thái giám Việt Nam chỉ là một số nhỏ không được trọng vọng lại chỉ được làm những việc lặt vặt chưa thành hẳn một tầng lớp có ảnh hưởng như Trung Hoa. Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, thái giám không được dự vào phẩm hàm hay quan chức triều đình và chỉ được hầu hạ trong cung mà thôi, cũng có thể nhà vua không muốn xảy ra việc hoạn quan chuyên quyền như Trung Hoa hay vì đố kỵ với Tả quân Lê Văn Duyệt trong vụ nổi loạn thành Phiên An. Tấm bia khắc là toàn văn bản dụ này nay vẫn còn trong Văn Miếu, Huế. Thái giám cũng có riêng một nghĩa trang trong khuôn viên chùa Từ Hiếu, cách Huế khoảng 1 km theo hướng tây nam và vì thế chùa này còn được gọi là chùa Thái Giám. Trong một số thời kỳ, nước Việt phải đem cống sang Tàu một số người tài giỏi, sau đó bị trở thành hoạn quan. Theo Hoàng Minh thông ký, một hoạn quan người Việt là Nguyễn An đã vẽ kiểu tu tạo thành Bắc Kinh bao gồm 9 cửa, 2 cung, 3 điện, 5 phủ, công đường, nha môn 6 bộ và các trường xưởng nhà trạm. Ông làm quan trải năm đời vua triều Minh là: Thành Tổ, Nhân Tông, Tuyên Tông, Anh Tông, và Cảnh Tông, tính tình liêm khiết rất đáng kính trọng. Bên bờ Phước Long Giang, ngày 16/8/2018. Xuân Bảo
238.VỊ VUA CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM
238. CHÙM THƠ VĂN VIẾT VỀ MÙA THU - 2018.
11, VỊ VUA CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
Hồi ức của nhà thơ Xuân Bảo.
Cách đây 73 năm, vào những ngày tháng Tám năm Ất Dậu 1945 sôi động, dân tộc Việt Nam sắp bước sang trang sử mới: Chấm dứt thời đại phong kiến mấy nghìn năm; chấm dứt thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp ( kể từ tiếng súng xâm lược của liên qyân Pháp - Tây-ban-nha ngày . năm 1858 cho tới ngày vị hoàng đế cuối cùng ra Tuyên ngôn Thoái vị.
Tuyên ngôn Thoái vị của Bảo Đại.
Bản Tuyên ngôn Thoái vị của Bảo Đại công bố ngày 25 tháng 8 năm 1945 chính thức chấm dứt nhà Nguyễn và chế độ quân chủ ở Việt Nam. Bản Tuyên ngôn được vua Bảo Đại soạn với sự trợ giúp của hoàng thân Vĩnh Cẩn trong đêm 22 tháng 8, 1945 tại điện Kiến Trung, hoàng thành Huế. Sáng hôm sau, khi đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện để tiếp thu bàn giao, lúc đầu Bảo Đại đưa bản Tuyên ngôn cho Trần Huy Liệu. Nhưng ông này hội ý với người đồng hành và tâu với Bảo Đại rằng:
" Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết."
Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Đại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn, như sau:
Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
Vì nền độc lập của Việt Nam,
Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.
Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.
Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.
Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.
Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.
Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:
—Thứ nhất: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.
—Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.
—Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.
Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là Dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
Việt Nam độc lập muôn năm,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm,
Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945.
" Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết."
Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Đại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn, như sau:
Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
Vì nền độc lập của Việt Nam,
Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.
Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.
Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.
Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.
Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.
Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:
—Thứ nhất: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.
—Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.
—Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.
Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là Dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
Việt Nam độc lập muôn năm,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm,
Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945.
***
Theo hồi ký "Con Rồng Việt Nam" của Bảo Đại, bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Mọi người có mặt trong buổi lễ đều ngẩn ngơ, bàng hoàng. Bảo Đại viết rằng:
"Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.
Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu.”
"Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.
Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu.”
Bên bờ Phước Long Giang, sáng 30/8/2018.
Nhà thơ Xuân Bảo
Nhà thơ Xuân Bảo
Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2018
234.5. KỶ NIỆM NGÀY MẤT CỦA HỒ CHỦ TỊCH
234.5.CHÙM THƠ VĂN VIẾT VỀ MÙA THU 2018.
15. KỶ NIỆM NGÀY MẤT CỦA HỒ CHỦ TỊCH.
Năm
1969, Hà Nội đang trong tình trạng chống “chiến tranh phá hoại” của Mỹ. Nhân
dân ta chịu biết bao khó khăn. Hạt gạo làm ra phải xẻ làm tư, một cho chiến trường
miền Nam, thường gọi là chiến trường B, một cho chiến trường C (Lào), một cho
chiến trường K (Campuchia). Phần ít ỏi còn lại cho miền Bắc đang xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Hà
Nội lúc này chưa có truyền hình (TV). Đài Truyền thanh Hà Nội chỉ phát thanh bằng
đường dây trực tiếp. Nơi công cộng thì có loa, công suất lớn, vừa để nghe tiếp
âm của Đài Tiếng nói Việt Nam, vừa thông tin tin tức thời sự của thủ đô, vừa làm
nhiệm vụ thông báo khi có máy bay địch xâm phạm bầu trời Hà Nội. Mỗi hộ dân đều
được gắn một cái loa ga-len không có nút tắt mở. Đến giờ thì tự động phát, hết
giờ thì tự động tắt. Thường ngày, nhạc hiệu của Đài Truyền thanh là bài Người
Hà Nội của Nguyễn Đình Thi.
Sau
lễ mừng Quốc khánh, tôi không nhớ rõ là ngày 3 hay 4 tháng 9 thì từ buổi phát
thanh buổi sáng phát đi bản tin. Nhưng lạ thay, không phát bài Người Hà Nội mà
mở đầu bằng bài Chiêu hồn tử sĩ. Bài hát này có từ hồi năm 1945, sau này lấy
làm nhạc hiệu cho những buổi lễ long trọng trong phần nghi thức. Đầu lễ là Quốc
ca, thứ đến là bài Ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh rồi đến phút mặc niệm thì tấu
lên bản nhạc Chiêu hồn tử sĩ.
Tiếng
người phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam dường như bị đứt quãng, nghẹn
ngào. Sau nhạc hiệu của Đài là đến bản Chiêu hồn tử sĩ. Phát thanh viên đọc bản
Thông cáo đặc biệt. Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hòa và
Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vô cùng đau đớn báo
tin để toàn Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam biết: đồng chí Hồ Chí Minh, Chủ
tịch Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, đã từ trần hồi 9 giờ 47 phút ngày 3-9 năm 1969, sau một cơn
đau tim đột ngột rất nặng, thọ 79 tuổi.
Tôi
xúc động nói với nhà tôi: Thế là Bác Hồ đã ra đi. Hai cháu Triệu Quang và Thúy
Ngọc cùng thức dậy và cùng khóc. Mấy gia đình cán bộ bên cạnh cũng khóc. Không
khí tang thương bao trùm ngôi nhà 59 Hàng Đào. Trên đường tới cơ quan, khi
ngang qua bờ hồ Hoàn Kiếm tôi thấy rất đông đồng bào ta tụ tập quanh những chiếc
loa công cộng để theo dõi tin tức Hồ Chủ tịch từ trần. Nhiều tiếng khóc! Nhiều
dòng nước mắt tuôn chảy, trong khi trời vẫn mưa.
***
Sau
ngày tang lễ 9/9/1979, các báo đăng nhiều bài thơ tưởng nhớ Người. Đặc biệt, hầu
như những tờ báo lớn như Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới đều đăng bài
thơ Bác
ơi của Tố Hữu. Bài thơ mở đầu bằng những câu:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn
đưa
Đời tuôn nước mắt, trời
tuôn mưa…
Nhà
thơ Thu Bồn ở tận trong Nam cũng khóc Bác:
Có người thợ dựng Thành
Đồng
Đã yên nghỉ tận sông Hồng
mẹ ơi…
Bài
thơ của tôi Để Người đi cho lòng được thảnh
thơi cũng được đăng báo ngày ấy và sau này được đưa vào sách Khúc hát những dặm đường do Nhà Xuất bản
Quân đội nhân dân ấn hành:
Đại bác nổ từng hồi đưa
tiễn Bác
Tiếng súng rền như xé
ruột xé gan
Bác đi rồi ơi nửa nước
miền Nam
Hai mươi năm trời chỉ
lo đánh giặc
Quét sạch thù cho chóng
ngày gặp mặt
Nỗi nhớ mong đếm từng
phút từng giây!
Đau thương nào sánh được
nổi đau này
Ta không khóc mà lòng đầy
nước mắt
Ngọn cờ Bác trao cùng
nhau giữ chặt
Để Bác đi cho lòng được
thảnh thơi
Người đi rồi cả thế giới
buồn đau
Bầu bạn tiếc thương,
quân thù kính phục
Hỡi những ai còn kiếp đời
tủi nhục
Đưa tiễn Người chớ để lệ
tràn mi
Ơi anh em Âu – Á – Mỹ -
Úc – Phi
Giờ phút này xiết chặt
thêm đội ngũ
Trước mặt ta bao mưu
thù còn đó
Đoàn kết lại cả bốn biển
năm châu
Để Người đi cho lòng nhẹ
nỗi đau
Đại bác nổ từng hồi đưa
tiễn Bác.
Hà Nội 9-1969
Bên bờ Phước
Long Giang, 9 giờ 47 phút ngày 2/9/2018.
Nhà thơ Xuân
Bảo
234.4. MỪNG NGÀY SINH CON GÁI ÚT
234.4.CHÙM THƠ VĂN VIẾT
VỀ MÙA THU 2018.
14. MỪNG NGÀY SINH CON
GÁI ÚT NGUYỄN THÚY HƯƠNG.
Tôi chép ra đây đoạn nhật
ký của tôi viết tối ngày 31-8-1970:
“Thúy
Hương ra đời vào cái năm khủng khiếp lần thứ 2 của cuộc đời bố nó. Song một lần
nữa chiến thắng vẫn là ta. Năm này là năm thắng lợi rực rỡ nhất. Mọi công việc
về xác định phẩm chất, giá trị con người qua pháp lý, có văn bản hẳn hoi đã được
hình thành.
Con
thân yêu, cha đã khổ đau nhiều: khổ đau vì xa cách quê hương. Khổ đau về nhiều
nỗi bất công ở đời mà mỗi lúc nhìn thấy trái tim cuộn lên một nỗi phẫn uất ghê
gớm. Cha đã thẳng tay vạch trần và phải chịu nhiều cay đắng. Khổ đau vì cuộc sống
túng bấn về vật chất, o ép về tinh thần. Nhưng bố mẹ hết lòng thương con. Con
ra đời là niềm hạnh phúc lớn lao của bố mẹ. Dù khó khăn vất vả thế nào đi nữa,
bố mẹ vẫn phải làm lụng nuôi cho con và anh chị con lớn khôn thành người.
Cảm
ơn cuộc sống! Ta yêu ngươi mà ngươi thì quá hững hờ với ta.”
Hà Nội, tối
31/8/1970.
Thúy
Hương được sinh ra tại nhà hộ sinh 137 Phùng Hưng, Hà Nội, trước Quốc khánh 2
ngày. Sinh Thúy Hương, tôi được thêm 5 đồng lương con (con thứ 3 mới có lương
con) và mất đi danh hiệu “lao động tiên tiến”vì sinh con thứ 3.
Nhà
tôi, vì thiếu sữa cho nên phải đến phòng y tế khám sữa. Ở đây một số rất đông
các sản phụ ngồi chờ. Đến lượt, bác sĩ mời sản phụ vào phòng, có che cái ri-đô
mỏng, cởi áo ra và bác sĩ nắn xem vú sản phụ xem có sữa nhiều hay ít, nếu ít thực
thì ký cho cái phiếu mua sữa 8 hộp. Những bà mẹ thiếu sữa cho con bú mà ngại đến
phòng y tế thì ra phố Hàng Buồm. Nơi đây, bọn “phe phẩy” không thiếu một loại
phiếu nào của sở Thương nghiệp Hà Nội, từ bách hóa cho đến thực phẩm mang cái
tên mậu dịch quốc doanh cấp phát, tuồn ra.
Tôi
còn nhớ, năm 1974, Thúy Hương được 5 tuổi, dắt con ông bà Hiến tên là Nga – người
ở cùng nhà 59 Hàng Đào với chúng tôi. Hai cháu đi chơi ra bờ hồ Hoàn Kiếm và
sau đó lên chợ Đồng Xuân. Không biết đường về nhà, ngồi khóc và được mấy chú
công an đồn Hàng Đậu dắt về đồn. Vợ chồng chúng tôi và mấy anh chị con ông bà
Hiến đi tìm. Đến bốt công an Hàng Đậu thì gặp 2 cháu. Mừng rối rít, chúng tôi cảm
ơn công an và dắt con về nhà.
Thế
mà, đến nay Thúy Hương đã tròn 48 tuổi. (31/8/1970 – 31/8/2018), có 3 người
con. Cháu đầu Trịnh Ngọc Hương Nam đã có gia đình và sinh được 2 cháu.Phan An
Nhiên và Phan An Như. Thúy Hương lên chức bà ngoại, còn vợ chồng tôi lên chức cụ
(miền Nam gọi là cố). Cháu thứ là Phạm Ngọc Thúy Hà đang học năm cuối đại học
Khoa học xã hội và nhân văn. Cháu út là Phạm Đình Long, đang là thủ môn của đội
bóng Phố Núi Hoàng Anh Gia Lai của ông bầu Đức.
Thúy
Hương hiện đang tham gia điều hành Trung tâm Bóng đá Trẻ Văn Tâm Đồng Nai, vệ
tinh của Bóng đá Viettel
. Nhân sinh nhật lần thứ 48 của Thúy
Hương, bố mẹ chúc con mạnh khỏe, vui vẻ và mọi sự tốt lành!
Biên Hòa, sáng
31/8/2018
Chùm ảnh Thúy Hương lúc còn nhỏ ở Hà Nội.
234.3. NGÀY TỔNG KHỞI NGHĨA
234.3.CHÙM THƠ VĂN VIẾT
VỀ MÙA THU 2018
13. NGÀY TỔNG KHỞI
NGHĨA
.
Hồi ức của nhà
thơ Xuân Bảo
Sự
thực, sau ngày 23 tháng 8, khi chính phủ Trần Trọng Kim tan rã thì các cơ quan
công quyền từ triều đình cho đến làng xã, tổng, huyện, phủ, tỉnh như rắn mất đầu,
không có ai đến nhiệm sở. Hơn nữa, hệ thống thông tin liên lạc, chủ yếu chạy
công văn giấy tờ (trát, sức…) đều chạy bằng đôi chân. Từ trên triều đình xuống
làng xã hầu như đứt đoạn. Làng Thượng Phước lúc này trên danh nghĩa vẫn còn lý
trưởng. Ông tên là Bùi Hữu Đạt, vì kiêng húy nên dân làng thường gọi là ông xạ
Đợt (xã: tiếng Quảng Trị nói thành xạ). Tôi còn nhớ rõ hình ảnh mụ Khả, em gái
ông Bụi, cầm lá cờ đỏ sao vàng. Cờ được mắc trên một cây hóp dài, dẫn đầu đoàn
người trong thôn đi biểu tình, vòng quanh làng qua các kiệt. Bọn trẻ chúng tôi
chạy theo đoàn và cũng hô vang “Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chí Minh muôn
năm!” Đoàn người theo ông Việt Minh Bùi Hồng Sa đến nhà ông Bùi Hữu Đạt, thường
gọi là xạ Đợt. Ông xạ Đợt bình tĩnh giao cái triện lại cho ông Bùi Hồng Sa. Còn
các huyện đường, phủ đường thì Việt Minh ung dung vào chiếm giữ. Và quần chúng
được huy động tham gia biểu tình thị uy, biểu dương thanh thế cách mạng trong
ôn hòa.
Tôi
còn nhớ rõ hình ảnh mụ Khả, em ông Bụi cầm lá cờ đỏ sao vàng. Cờ được mắc trên
một cây hóp dài, dẫn đầu đoàn người trong thôn đi biểu tình, vòng quanh làng
qua các kiệt. Bọn trẻ chúng tôi chạy theo đoàn và cũng hô vang “Việt Nam độc lập
muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”
Ba
chiến sĩ tiền khởi nghĩa là những người cộng sản đầu tiên gồm Bùi Hồng Sa, Lê
Luyện và Nguyễn Minh Tự chính thức ra mắt dân làng. Chính quyền mới do Ban Chủ
nhiệm Việt Minh điều hành.
Vào lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, một
cuộc mitting lớn được tổ chức trước cổng tòa công sứ Pháp (lúc này do bọn Nhật
chiếm đóng). Và sau này là trụ sở của Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh
Quảng Trị. Thay mặt Ủy ban Khởi nghĩa, ông Trần Hữu Dực trịnh trọng tuyên bố
thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh, xóa bỏ chính quyền cũ. Sự thực
thì cái gọi là “chính quyền bù nhìn” của thủ tướng Trần Trọng Kim đã tự xóa tên
mình cũng trong ngày 23 tháng 8, chấm dứt Đế quốc Việt Nam, khởi đầu ngày 11
tháng 3 và kết thúc vào ngày 23 tháng 8 năm 1945, sau 5 tháng 6 ngày.
Trong
ngày này (23-8-1945), Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Quảng Trị đã ra 2
Quân lệnh. Quân lệnh số 1 phát đi lúc 10 giờ sáng, có nội dung: “Tất cả lực lượng
vũ trang chiếm đóng hoặc dự bị, kể cả lực lượng hỗn hợp giữ nguyên tại chỗ. Người
và vũ khí không được thay đổi, di chuyển cho đến khi có lệnh mới”. Và sau 2 tiếng,
tức lúc 12 giờ trưa, Quân lệnh số 2 đước phát đi với nội dung: “Mở cuộc đăng ký
tuyển quân, cấp tốc thành lập Chi đội Giải phóng quân với tổng số 1.500 chiến
sĩ, kể cả một số đơn vị trực thuộc như thông tin, quân y, quân nhu”.
Khởi
nghĩa thành công không một tiếng súng!
***
Ba
tôi là một trong số cán bộ đại đội, tiểu đoàn vốn là cai, đội lính khố xanh, khố
đỏ, có tinh thần yêu nước, tự nguyện tham gia vào Chi đội Giải phóng quân. Ngày
9 tháng 9 năm 1945, Chi đội chuyển đổi thành Chi đội Thiện Thuật. Theo Sắc lệnh
số 71, ngày 22 tháng 5 năm 1946 của Chính phủ về tổ chức Quân đội Quốc gia Việt
Nam, Chi đội Thiện Thuật đổi thành Trung đoàn 95. Trung đoàn có 3 tiểu đoàn 13,
14 và 15 và 1 tiểu đoàn lính nữ. Song song với lực lượng chủ lực, tỉnh chú ý
xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, gọi là Tỉnh đội Dân quân.
Buổi
sơ khai này Quân đội nhân dân Việt Nam có rất nhiều tên gọi: Giải
phóng quân, Vệ quốc quân, Vệ quốc đoàn. Đầu năm 1946, Ba tôi được Ban
Chỉ huy Trung đoàn cử về xã Phong Sơn (trước đó có tên là xã Công Ái) với
chức danh là Phái viên Quân sự, có nhiệm vụ trực tiếp huấn luyện
quân sự cho dân quân và du kích ở các thôn Thượng Phước, An Đôn, Nhan Biều.
Mỗi
thôn được thành lập một Ban Dân quân. Thôn Thượng Phước có 2 tiểu đội dân quân.
Một tiểu đội nam và một tiểu đội nữ. Trong tiểu đội nữ này có các chị Bùi Thị
Thản (con bà Nguyễn Thị Lý, dì ruột của tôi), chị Trần Thị Dàn, chị Lê Thị Phụ
và nhiều chị khác.
Tôi
thường được ông cho đi theo vào bãi tập, sau mới gọi là thao trường
tại nương mít Mụ Hểu. Đây là một cái trảng rất rộng, bằng phẳng. Chữ
làng, sau này mới đổi thành thôn. Chương trình huấn luyện bắt đầu từ
các động tác tập họp đội hình, nghiêm nghỉ, bước đi một hai, một hai
rồi tiến tới lăn lê bò toài. Súng chỉ có hai khẩu: súng trường
mút-cờ-tông (mousqueton) và một khẩu tiểu liên mi-tờ-ray-dét
(mitraillètte). Dân quân được trang bị quân phục. Áo quần may bằng vải to,
một loại vải do người nông dân quê tôi tự trồng lấy cây bông vải, tự
kéo thành sợi và dệt trên khung cửi thủ công. Chị Thản tôi là người
phụ nữ đầu tiên mặc bộ đồ quân sự cũa người lính Giải phóng quân.
Chị mặc áo sơ-mi ngắn tay, hai túi trên có nắp, có cầu vai và quần
soóc toàn màu trắng, trông rất đẹp. Vì không có đủ súng nên phải
đẽo cây theo hình dạng khẩu súng để tập động tác bồng súng lên và
bỏ súng xuống. Có những buổi tối, tôi thấy Ba tôi ngồi giữa sân của
Ông Ngoại, trước mặt là một cái nống. Ba tôi tháo rời khẩu súng
trường ra và giảng giải cho dân quân nghe: đây là cái cơ bẫm, đây là
nòng, đây là đầu ruồi…Ba tôi có một giọng nói rất âm vang, hùng hồn
và hấp dẫn. Trong những cuộc mitting, ngoài việc điều khiển hành lễ,
ông còn được phân công đọc các bài văn tế làm sục sôi ý chí chiến
đấu cho mọi người. Tôi còn nhớ được mấy câu:
“Hỡi ôi!
Hoàng Thiên chốn
thấu thương lũ xâm lăng
Tạo hóa vô tình
ghét người chí sĩ
Đoàn dân tộc ra tay
gầy dựng,
Đem lòng thân ái nâng
niu
Lũ dã man lên mặt
hung tàn,
Một phút anh em ly
dị
Bâng khuâng kẻ mất
người còn
Tưởng tượng lòng ghi
nghĩa để…”
***
Vai
trò phái viên quân sự của Ba tôi chấm dứt khi tiếng súng quân Pháp bắt
đầu tấn công nống chiếm Quảng Trị. Tôi còn nhớ rõ, khi Hà Nội bước vào
Ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, thì trước đó, quân Pháp được quân Anh Ấn
giúp sức đã gây hấn ở Sải Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945 và sau đó chúng đổ bộ
lên cửa biển Tư Hiền và cửa biển Thuận An, chiếm lại kinh thành Huế.
Ngày
10 tháng 2 năm 1947, chúng chia thành 2 cánh quân, nống ra Quảng Trị. Hướng
nam, quân Pháp đã sử dụng 1.500 binh lính, có xe tăng đi cùng và dưới sự yểm trợ
của pháo binh và không quân tiến chiếm Mỹ Chánh, Diên Sanh… Cùng ngày, từ hướng
tây, chúng xua 500 quân, từ Sa-vằn-na-khẹt (Trung Lào), đánh chiếm Lao Bảo rồi
tiến về Đông Hà, hợp quân hướng nam vào thị xã Quảng Trị. Hồi 3 giờ 30 phút
sáng ngày 16 tháng 2 năm 1947, quân Pháp chiếm hoàn toàn thị xã.
Ba
tôi trở lại Trung đoàn và ông được phân công làm tiểu đoàn trưởng một
tiểu đoàn chủ lực của tỉnh. Chú ruột tôi, thầy giáo Nguyễn Xuân Tịch
được bố trí làm quản trị trưởng tiểu đoàn 13 và o ruột tôi tên là
Nguyễn Thị Nghiễn, bí danh là Thanh Tâm được điều về Ban Chính trị
Trung đoàn 95. Chú Tịch của tôi hy sinh năm 1949 và được công nhận là
liệt sĩ. O Nghiễn thì bị bệnh cảm nặng khi bơi qua sông tránh giặc
và sau đó hy sinh.
Bên bờ Phước
Long Giang, chiều ngày 30/8/2018
Nhà thơ Xuân Bảo
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)