Trang

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2018

230. CHÙM THƠ VĂN VIẾT VỀ MÙA THU 2018


230. CHÙM THƠ VĂN VIẾT VỀ MÙA THU 2018

1. THÁNG TÁM RỒI ĐÓ.
Hôm nay đã bước sang ngày thứ nhất của tháng 8, Nhìn lại 7 tháng qua, thế giới cô biết bao biển động. Vui ít, buồn nhiều. Vui vì cuộc gặp mặt của hai lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên đã bước đầu đem lại hòa bình cho nhân loại.
Buồn thì nhiều:
1.Lũ, lụt Tây Bắc và cả Hà Nội kéo theo sụt lở đất ở Hòa Bình.
2.Vỡ đập ở Lào, mang lũ đến sớm cho đồng bằng Củu Long.
3.Khảo thí thi PTTH ở Hà Giang ,Sơn La và vài nơi khác có chảnh phó chủ khảo vào nhà đá.
4.Tai nạn giao thông ngày càng nhiều và nghiêm trọng. Điển hình vụ 13 người chết trong ngày Vu quy biến ngày Đại hỷ thành Đại tang.
5. Có đến hơn chục tướng lĩnh của CA và QĐ vướng vòng lao lý.
6.Núi lửa phun trào ở Indonesia. Hỏa hoạn ở California.
Vui sao nổi?!

2. THU SANG EM ƠI.
Hôm qua 26/6 lịch âm, đã bước sang mùa Thu (tiết Lập thu). Trời đất vẫn vần vũ âm u. Lụt lội, hỏa họa, làm lòng người dân không yên.
Tuy nhiên, bao giờ mùa thu cũng đẹp. Vậy tôi muốn nhắc lại mấy câu thơ kết trong tác phẩm Hà Nội cơn lốc tháng 7, lấy từ bài thơ Màu thu của tôi (đã in sách Mấy nhanh hoa tím, xuất bản 1997) để nhớ về một mùa thu Hà Thành yên ấm ngày xưa:
Màu thu
Gửi Thu Hiền
Ơi ngọn gió thu lành
Mang mảnh trời thu xanh biếc
Mang mây chiều pha ráng bạc
Manh tình anh bay tới phương em.

Giữa mây chiều cánh chim cháy đỏ
Giữa bầu trời cánh chim say gió
Bay giữa khung trời, bay giữa cuộc đời
Là tình anh gửi về em đó

Ngoài kia, bên ngoài khung cửa sổ
Dập dìu cò trắng, lấp loáng trời xa
Ngọt ngào trong mỗi điệu dân ca
Anh gửi về em mênh mang nỗi nhớ

Ơi mùa thu xanh
Mùa của yêu đương vương vấn
Đôi mắt em in màu trời thu vành vạnh
Mùa thu sao đành vắng em
Anh nhìn đời qua cánh cửa phòng vuông vắn
Vẳng đâu đây khúc nhạc Su-be
Mùa thu ơi! Lòng ta bồi hồi
Em xa rồi…

Trong mây mùa thu em có thấy
Trong gió mùa thu em có nghe
Cánh chim bay trời thu đọng nắng
Mùa thu này cho anh gửi gắm
Tiếng lòng tìm tới phương em
                             Hà Nội - 1968
Bên bờ Phước Long Giang sáng 8/8/2018.
Xuân Bảo.


3. NẮNG THÁNG TÁM (LIGHT IN AUGUST).
Đầu tháng 8 năm nay, tôi may mắn được nhà văn Trần Nhã Thụy, Trưởng Chi nhánh Nhà Xuất bản Hội Nhà văn miền Nam biếu cuốn sách Nắng tháng Tám (Light in August). Đây là một tác phẩm lớn của nền văn học Hoa Kỳ. Tác giả là William Faulkner, (1897 – 1962) đã được tặng giải Nobel Văn học năm 1949. Và 2 giải Pulitzer năm 1955 và năm 1963. Ông là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế kỷ 20. Những sáng tác của Faulkner gây ảnh hưởng sâu rộng lên văn chương châu Mỹ La-tinh, Pháp, Nga…nếu không muốn nói là toàn cầu.
Hào quang của Faulkner
(Trích theo nhà văn Nhật Chiêu trong bài Hào quang của Faulkner nhân Kỷ niệm 50 năm ngày mất của W. Faulkner và Kỷ niệm 80 năm ngày phát hành Nắng tháng Tám).
 Nắng tháng Tám ra đời năm 1932 là tác phẩm trọng đại của W. Faulkner vào thời kỳ mà ông ném ra toàn kiệt tác, sau Âm thanh và cuồng nộ (1929), Khi tôi nằm chết (1930) và Absalom, Absalom! (1936).
Chen giữa những tác phẩm tân kỳ và phức tạp ấy, Nắng Tháng Tám dường như dễ đọc hơn, cho dù nó dài hơn 20 vạn từ! Nghệ thuật kể chuyện qua nhiều điểm nhìn, qua những làn sóng ý thức ở những kiệt tác trước đã lắng đi ở Nắng tháng Tám.
Nhưng không phải vì vậy mà tiểu thuyết này đơn giản hơn những bộ kia. Đây là hào quang của những gương mặt người. Và bao nhiêu chân dung là bấy nhiêu tính cách. Vẫn là những đối thoại đa thanh, những đối truyện đa thể, những độc thoại nội tâm đa đoan, những đảo chuyển thời gian đa tuyến và vô số suy tưởng đa nghĩa.
Màu da, giới tính, thiên nhiên, thành phố, tôn giáo, thế tục, cá nhân, cộng đồng va chạm và tương tác liên tục trong ánh sáng và bóng tối được Faulkner thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh, vừa rực rỡ vừa thâm u, đầy ẩn nghĩa và sinh khí. Như thứ ánh sáng đầu thu kỳ diệu ở Mississippi. Như sự hoài thai và sinh nở.
Tám mươi năm nay, trong lòng độc giả, Nắng tháng Tám chính là hào quang của William Faulkner…
Các lời bình:
“Nói rằng Nắng tháng Tám là một màn trình diễn ấn tượng thật chẳng phải nói quá chút nào…Faulkner không chỉ tích hợp trong cuốn sách này thứ văn phong quyến rũ của sức mạnh và cái đẹp; ông còn cho phép một vài nhân vật của mình nếu không phải là nhân vật chính, thỉnh thoảng được quyền hành động vô cớ,  nằm ngoài những khuôn mẫu xã hội…Nghĩa là, Faulkner tự cho mình lý lẽ và sự thương cảm đối với hệ thống trong thế giới của ông”.
                                                          (Spectator)
“Quyển sách như rực lửa với sự phẫn nộ dữ dội trước bạo lực, sự ngu ngốc và lòng kiêu hãnh – một quyển sách tuyệt vời”.
                                                          (Arnold Bennett)
“Faulkner có một sức sáng tạo không mệt mỏi, trí tưởng tượng phong phú, và ông thường viết như một thiên thần”.
                                                          (Nhà văn Nhật Chiêu)
Nắng tháng Tám của William Faulkner thực sự là tinh hoa văn học của nhân loại. Trong đó số phận của CON NGƯỜI thật là vĩ đại. Macxim Gorki đã đề cập đến CON NGƯỜI trong lời tựa 27 mẩu chuyện nước Ý. “Chúng ta trìu mến chăm sóc hoa cỏ. Chúng ta yêu say mê nhiều thứ khác như hoa, nhưng chúng ta chưa chú ý đầy đủ đến việc săn sóc tâm hồn, săn sóc trái tim CON NGƯỜI. Chúng ta phải tập làm việc đó, vì dù cho cái xấu xa bề ngoài đó, CON NGƯỜI chẳng phải vẫn là cái gì vĩ đại nhất trên trái đất này hay sao?”.
Ở Faulkner, chúng ta lại thấy nhà văn đề cập đến CON NGƯỜI, ông nói: Con người bất tử, không vì giữa muôn loài, nó có tiếng nói không bao giờ tắt, mà chính vì nó có một tâm hồn, một tinh thần biết đồng cảm, hy sinh và chịu đựng. Bổn phận của nhà thơ, nhà văn là viết về những điều đó.
                                                                   (Nhà thơ Xuân Bảo)





                                                ***
Biệt lệ. W. Faulkner được chọn cho giải năm 1949, nhưng Ủy ban Nobel chỉ loan báo vào tháng 11 năm 1950. Ông đã đọc một bài diễn từ khi nhận giải vào tháng 12 cùng năm. Còn giải Nobel văn chương năm 1950 thì được trao cho triết gia người Anh, huân tước Bertrand Russell. Như vậy trong năm 1950 có 2 nhà văn nhận gỉaỉ cùng lúc cho 2 năm khác nhau.
Diễn từ nhận giải Nobel của W. Faulkner
(đọc tại Stockhom ngày 10 – 12 – 1950) Nhà văn Nhật Chiêu dịch
“Tôi cảm thấy rằng giải thưởng này không cho tôi như một con người mà trao cho tác phẩm của tôi – tác phẩm của một đoạn trường và mồ hôi của tinh thần con người, chẳng phải vì danh vọng, chẳng phải vì lợi nhuận mà chỉ dùng những chất liệu của tinh thần con người sáng tạo ra một cái gì mà chưa từng thấy trước đây. Thế nên giải thưởng này chỉ là  của tôi trong một sự ủy thác mà thôi. Cung hiến phần tiền thưởng sao cho xứng đáng với mục đích và ý nghĩa có từ ban đầu của nó thì có khác gì đâu – nhưng tôi muốn theo đó mà dùng giây phút được khen tặng này như một đỉnh cao mà từ đây tôi được các bạn trẻ nam nữ lắng nghe, những người sẵn sàng hiến mình cho niềm xao xuyến và lao khổ tương tự, thế nào trong đó cũng có một người một ngày kia sẽ đứng nơi tôi đứng hiện giờ.
 Bi kịch của chúng ta hôm nay là cùng chung nỗi lo sợ cụ thể, phổ biến kéo dài lâu rồi mà giờ đây chúng ta vẫn còn mang chịu. Không còn những vấn đề tinh thần nữa. Chỉ còn nghi vấn này: Khi nào chúng ta sẽ nổ tan tác đây. Do đó mà các bạn trẻ nam nữ cầm bút hôm nay đã lãng quên những vấn đề của tâm hồn con người đang giao chiến với chính mình, chỉ duy có điều ấy mới làm ra tác phẩm hay, bởi vì chỉ điều ấy mới đáng viết, xứng đáng với lao khổ và mồ hôi.
Phải học lại, phải tự nhủ rằng điều tệ hại nhất trong tất cả mọi người chính là sự sợ hãi; và tự nhủ rằng hãy vĩnh viễn quên đi niềm lo sợ, trong phòng viết chớ có dành chỗ cho điều gì khác ngoài những chân lý và niềm tin muôn đời của tâm hồn, những sự thật phổ quát nghìn xưa mà thiếu chúng thì mọi câu chuyện đều phù phiếm và tiêu ma. Đó chính là tình yêu và danh dự, trắc ẩn và tự hào, đồng cảm và hy sinh. Không như thế thì ta chỉ làm việc trong sự nguyền rủa mà thôi. Và chỉ còn viết về tình dục chứ không phải tình yêu, về những chiến bại mà chẳng ai mất mát chút ít giá trị nào, về những chiến công không có niềm hy vọng, càng không có trắc ẩn tình thương, những băn khoăn không gây nổi ngấn tích nào trên nhân loại, không để lại một vết sẹo nhỏ. Không còn viết về trái tim nữa mà về những hạch tuyến chẳng ra chi.
Chưa ôn lại những điều ấy thì chỉ viết như thể đang đứng lẫn đâu đó chờ đợi sự cùng tận của con người. Tôi quyết không chấp nhận sự cùng tận của con người. Rất dễ nói rằng con người bất tử chỉ vì giỏi chịu đựng, rằng khi tiếng chuông tận thế đã ngân tàn từ mỏm đá cuối cùng vô nghĩa, giữa hoàng hôn đỏ úa cuối cùng không có thủy triều lên, rằng ngay cả khi ấy vẫn còn âm thanh là tiếng nói yếu ớt không tắt của con người. Tôi quyết không chấp nhận điều ấy. Tôi tin rằng con người không chỉ chịu đựng mà hơn nữa sẽ vượt qua. Con người bất tử, không vì giữa muôn loài, nó có tiếng nói không bao giờ tắt, mà chính vì nó có một tâm hồn, một tinh thần biết đồng cảm, hy sinh và chịu đựng. Bổn phận của nhà thơ, nhà văn là viết về những điều đó. Có sứ mệnh giúp con người chịu đựng bằng cách nâng dậy tâm hồn con người, gợi nhớ lòng can trường và danh dự, hy sinh và tự hào, đồng cảm và trắc ẩn, cùng với sự hy sinh đã làm nên vinh quang trong quá khứ của con người. Tiếng nói của thi nhân không chỉ là tấm bia ghi công con người, mà còn là cột trụ giúp con người chịu đựng và vượt qua ”. ( Xuân Bảo nhấn mạnh đoạn kết).
                             Bên bờ Phước Long Giang,ngày 11/8/2018

               
         

                                                                                                                               


Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018

229. NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27/7/2018


  1.   NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ VIỆT NAM 27-7.

  2. Trong 4 cuộc chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu, ngoài sự hy sinh vô bờ bến của nhân dân, còn có hàng triệu chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang đã mãi mãi nằm xuống trong lòng đất Mẹ! Hài cốt có người được tìm về cố hương, nhưng cũng có người chưa được tìm thấy. Họ vẫn còn đâu đó trên mảnh đất hình chữ S này.

  3. Có thể:
  4.  …Rải rác biên cương mồ viễn xứ 
  5.           Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
  6. Áo bào thay chiếu anh về đất
  7.           Sông Mã gầm lên khúc độc hành…
  8.                                             
  9.                                                (Quang Dũng)


  10. Nhân ngày này, tôi khóc những linh hồn bất tử bằng những vần thơ:

  11. Bài 1. Chiều nghĩa trang Trường Sơn.

  12. Gió Lào thổi hun hút
  13. Lao xao rặng bạch đàn
  14. Rừng Trường Sơn xào xạc 
  15. Như tiếng ai gọi hồn
  16. Đường 9 ơi, đường 9
  17. Vời vợi nắng Khe Sanh
  18. Bên khung trời bịn rịn
  19. Bao nấm mồ khuyết danh
  20. Nhớ năm xưa Tà Cơn
  21. Lửa đồn thù bốc cháy
  22. Nay xanh lại màu xanh
  23. Nơi các anh nằm lạị
  24. Quê hương lên hương mới
  25. Cà phê phơi phới bông
  26. Đỏ một màu ngói mới
  27. Giữa đại ngàn Đak-Rông
  28. Lao Bảo xuôi Hướng Hóa
  29. Về Cam Lộ lên Cùa
  30. Khói nhà ai vương tỏa
  31. Sau lũ lại được mùa
  32. Chiều nghĩa trang Trường Sơn
  33. Giữa hàng hàng bia mộ
  34. Xin thắp một nén hương
  35. Tưởng nhớ người nằm đó!

  36. Bài 2. Thăm lại Bến Cát.

  37. Về thăm quê em Bến Cát
  38. Cao su rụng lá cuối mùa
  39. Đồi xa lên hương cỏ mật
  40. Tìm người đồng đội năm xưa
  41. Tôi đến Lai Hưng, Mỹ Phước
  42. Gặp lại các Mẹ anh hùng
  43. Ôn chuyện Bến Tượng ngày trước
  44. Nhớ con, mắt mẹ rung rung
  45. Sông Bé oai hùng biết mấy
  46. Nổi danh trận đánh Phước Thành
  47. Tiểu đoàn 500 thuở ấy
  48. Nay còn sống được mấy anh
  49. Nơi đây các anh nằm lại
  50. Có đàn bướm trắng lượn quanh
  51. Có hoa bốnmùa thắm mãi
  52. Lời ru đất Mẹ yên bình
  53. Nghĩa trang chiều nay nắng nhạt
  54. Vẳng nghe chim gáy cúc cu
  55. Hồn người chiến sĩ bất khuất
  56. Hòa cùng tiếng hát chiến khu.

  57. Bài 3. Đền tưởng niệm Rừng Sác.


  58. Nhớ nhà văn,Anh hùng LLVT Lê Bá Ước,Tư lệnh Đoàn 10 Rừng Sác
  59. Con đường vươn mình ra phía biển
  60. Mùa xuân náo nức tiễn người đi
  61. Thương về Rừng Sác thời chinh chiến
  62. Đoàn Mười* hỏi có mấy ai về?
  63. Một nét tươi son Đền tưởng niệm
  64. Anh hùng sống mãi với non sộng
  65. Nhơn Trạch rộng thêm nhà máy mới
  66. Ta đi vời vợi nắng nghìn trùng
  67. *Bí số của Đoàn Đặc công Rừng Sác.

  68. Bài 4. Những con đường ra trận.


  69. “Thương về Ngã Ba Đồng Lộc"
  70. Thơ văn xuôi
  71.  Con người đi lâu mà thành con đường. Đường ra trận không thể chờ lâu, Ta phạt rừng mở lối, làm cầu qua núi cao qua khe sâu. Qua muôn ngàn cheo leo đèo dốc.
  72. Đối mặt từng giây, từng phút, ngày cũng như đêm với bom bầy bom tấn, với hỏa tiễn pháo chùm, con đường vẫn hiên ngang vươn mình ra phía trước. Hậu phương tiếp sức cho tiền phương, triệu triệu tấn lương thực, khí tài. Vạn vạn chiến binh.

  73. Đó là đường mòn “Hồ Chí Minh”, con đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Biết bao chiến sĩ làm đường đã ngã xuống vì con đường. Đường ra mặt trận mùa nào cũng đẹp. Những La Thị Tám, những tiểu đội anh hùng ngã ba Đồng Lộc và vô vàn anh hùng liệt sĩ anh hùng, liệt sĩ vô danh đã nằm xuống cho con đường mãi mãi dài ra. Họ ra đi cho đất nước sống còn.

  74. Nghĩa trang Trường Sơn chiều nay nhạt nắng. Gió Lào hun hút thổi đưa hương hồn những người đã khuất về với quê nhà. Đường mòn Hồ Chí Minh nay đã thành con đường công nghiệp hóa. Mãi mãi thắp sáng trong ta niềm tin và hy vọng.

  75. Bên bờ Phước Long Giang, 27/7/2018
  76.                                                                                                                                            Xuân Bảo













































Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2018

227.KỶ NIỆM 64 NĂM HIỆP NGHỊ GENÈVE

KỶ NIỆM 64 NĂM HIỆP NGHỊ GENÈVE.
Hồi ức của nhà thơ Xuân Bảo
TẬP KẾT RA BẮC
Thế là đã 64 năm trôi qua. Tôi còn nhớ, trưa ngày 21 tháng 7 năm 1954, tiếng mõ báo động Tây lên lùng. Cả làng chạy giặc vào Xóm Mộ, vào hác Sủng Moong, vào rú Cầu Đất. Khoảng một giờ sau thì mõ báo yên. Mọi người trở về nhà và ùa ra bờ sông Thạch Hãn để xem ca nô của Tây lên. Ca nô cắm cờ trắng.
Thôn đội trưởng Lê Văn Ngữ cho liên lạc mang loa chạy từ đầu làng đến cuối làng thông báo hiệp định đình chiến Đông Dương đã được ký kết. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp “ba ngàn ngày” tạm thời ngưng tiếng súng! Máu của đồng bào tạm thời ngừng chảy! Mừng ơi là mừng.
Những học sinh cấp 2 chúng tôi đang kỳ nghỉ hè. Nửa tháng sau, xã đội trưởng Lê Trường Lữ cho người mang giấy báo cho tôi tập trung, chuẩn bị tập kết. Một số ít trong đám học sinh được phiên chế vào hàng ngũ quân đội. Chúng tôi thuộc đại đội bộ đội địa phương huyện Triệu Phong, mang phiên hiệu là đại đội 235.
Bộ đội điạ phương 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên hành quân bộ. Sau 2 tháng kể từ ngày 20/8/1954 là ngày khóa tuyến đến huyện Nghi Xuân (quê hương đại thi hào Nguyễn Du) thì dừng lại, thành lập 2 trung đoàn chính quy có phiên hiệu là trung đoàn 271 và trung đoàn 270. Ngày đó, chúng tôi đã được đón tiếp phái đoàn chính phủ về thăm. Tôi nhớ trong đoàn có Bộ trưởng không bộ Bồ Xuân Luật (ministre sans portefeuille), bà Hà Thị Quế, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, ông Lê Nam Thắng, tư lệnh Khu IV và vài thành viên khác tôi không nhớ. Đặc biệt trong đoàn có nhạc sĩ Tô Hải. Đoàn về, nhạc sĩ ở lại dạy chúng tôi bài hát (tôi không nhớ tựa đề) có những câu: Hôm qua thắng trận Điện Biên, chiến hào xuất kích, đồi Him Lam ta tiến vào, đột phá tiên đao ta tiến vào… Đi mở đường thắng lợi, ba tháng đổ mồ hôi, ta tới đây quyết diệt cho hết quân thù…
Những học sinh đang học cấp 2, cấp 3 thì được chọn cho đi học các lớp đào tạo cấp tốc. Sau khi tốt nghiệp, tôi và một số anh chị em được điều về Chi sở Mậu dịch đặc biệt, đóng ở Bái Thượng, Thanh Hóa. Chi sở này giải tán, tôi được điều về Ty Lương thực Thanh Hóa. Đầu năm 1955 tôi được đi học ở Hà Nội. Ra trường, tôi được bổ sung cho Khu Tự trị Thái Mèo, là một trong số 200 cán bộ tăng cường đó. 
SÔNG HIỀN LƯƠNG CHIA CẮT HAI MIỀN
Theo “Ô Châu cận lục” của Sùng Nham Hầu Dương Văn An thì châu Minh Linh phía tây có núi Cổ Trai, phía đông có ngọn Thần Phù, tức đảo Cồn Cỏ. Giờ đây Cồn Cỏ đã thành một huyện của Quảng Trị. Có cửa biển Tòng Luật, ngày nay thường gọi là Cửa Tùng. Cửa Tùng đón nhận nguồn nước từ hai con sông: sông Hiền Lương chảy từ thượng nguồn về khoảng 60 cây số thì hợp lưu với sông Sa Lung từ hướng tây bắc đổ vào thành ngả ba sông. Đứng trên cầu Hiền Lương nhìn theo hướng tây thấy rất rõ cái bán đảo này. Cả hai con sông này đều chảy qua làng Minh Lương nằm ở bờ bắc và làng Xuân Hòa ở bờ nam. Sông Hiền Lương thực ra có tên là Minh Lương. Thời vua Minh Mạng, do kiêng húy chữ Minh nên cả tên làng, tên sông đều đổi thành Hiền Lương. Sông dài hơn 70 cây số, chỗ rộng nhất 200 mét, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy dọc vĩ tuyến 17 từ tây sang đông, ranh giới giữa 2 huyện Vĩnh Linh và Do Linh rồi đổ ra biển Đông tại cửa Tùng Luật.
Con sông này còn có tên là Bến Hải. Thực ra chữ Bến Hải là do người Pháp đọc chệch ra từ địa danh Bến Hai, bến thứ hai từ thượng nguồn sông. Ngoài ra, sông còn có nhiều tên gọi khác. Đoạn thượng nguồn có tên là Rào Thanh, đoạn cuối có tên là sông Cửa Tùng hay Tùng Luật. Hồi chúng tôi tập kết ra Bắc qua đoạn sông rất hẹp mà ở đó có một cây rừng đổ ngang từ bờ nam sang bắc, bộ đội leo lên thân cây sang sông thì gọi là sông Hói Cụ. Sông còn có tên gọi là sông Hồi. Trong kháng chiến chống Mỹ nhà văn Nguyễn Tuân sáng tạo ra cái tên mới là sông Tuyến khi đất nước bị cắt bởi Hiệp định Genève năm 1954.
Những năm mới ra Hà Nội tôi thường được nghe và được hát bài hát “Câu hò bên bến Hiền Lương”. Lời bài hát như cào xé tâm can của những người con miền Nam đang sống trên đất Bắc. Một thời khi mà chúng tôi nghĩ là chỉ xa quê hương trong vòng hai năm để rồi sẽ có ngày tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, sẽ có ngày đoàn tụ gia đình. Bài hát của một thời chia cắt đứt ruột đứt gan. Thời của Bắc di cư Nam tập kết. Mẹ xa con, anh lạc em, vợ lìa chồng. Thời của hận thù nồi da xáo thịt. 
Tôi lại hồi tưởng hơn mấy trăm năm trước cũng tại dải đất hẹp Quảng Bình nơi có con sông Gianh đã là nơi chia cách trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Như vậy khúc ruột miền trung này đã hai lần bị xẻ làm đôi. Trước là hận sông Gianh nay là hận sông Hiền Lương.
Đêm đến lòng bồi hồi da diết nhớ quê tôi đã làm bài thơ có nhan đề:
Nhớ nhà
Quạnh quẽ đêm nay ta với bóng
Bồi hồi nhớ mẹ nơi quê nhà
Đầu non sương lạnh trăng mờ khuất
Eo óc thôn xa mấy tiếng gà
Bên bờ Phước Long Giang, sáng 21/7/2018.
Nhà thơ Xuân Bảo

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

225.Tôi ca ngợi Hòa bình


TÔI CA NGỢI HÒA BÌNH

 Đầu năm nay, tôi có mấy dòng chúc năm mới 2018 đăng trên Fb của tôi. Nguyên văn:
 Còn đúng 12 giờ nữa là bước sang năm mới 2018. Năm qua, một năm đầy biến động kể cả của Trời, của Người, của Đất.
Năm 2018 này, 100 năm trước là năm kết thúc Đệ nhất Thế chiến 1914 - 1918. Mong rằng thế giới không có chiến tranh, vì chiến tranh là đau khổ, là đổ máu. Xin những người đứng đầu các quốc gia hãy nói to hai chữ HÒA BÌNH. Xin CON NGƯỜI VỚI CON NGƯỜI LÀ BẠN!
Đây là Lời chúc năm mới 2018 của nhà thơ Xuân Bảo.
Bên bờ Phước Long giang,12 giờ trưa ngày 31 tháng 12 năm 2017.
___----
          Cái Dự cảm lời chúc Năm mới của tôi thế mà đúng
          Phía Hàn  Quốc đã tổ chức lễ đón long trọng bằng nghi thức triều đình Joseon. Trong ngôi nhà Hòa Bình, ông Kim để lại thông điệp đầu tiên với nội dung “Lịch sử mới bắt đầu, kỷ nguyên của hòa bình, từ điểm khởi đầu của lịch sử”.
          Thế là sau 65 năm, kể từ năm 1953, hai phía mới chỉ đạt được thỏa thuận ngừng bắn nhưng chưa ký kết hiệp định hòa bình nên về mặt lý thuyết thì chiến tranh giữa hai miền Triều Tiên chưa kết thúc.
          Ta hãy lắng nghe tiếng nói Hòa bình của hai nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều Tiên.
          Ông Moon đã nói: Ngày hôm nay làng đình chiến Bàn Môn Điếm, từng là biểu tượng của sự chia cắt, trở thành nơi sản sinh hòa bình thế giới,
          Lãnh đạo nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng đã nói: Đây thật sự là khung cảnh đầy cảm xúc, tái khẳng định sự thật rằng chúng ta là một, không thể bị chia cắt và điều này khiến trái tim tôi rung động.
          Chúng ta cùng rung động và cảm xúc trào dâng khi được chứng kiến giờ phút thiêng liêng của Hòa Bình đã đến với nhân dân Triều Tiên và đến với  Genèvemang lạiNhân loại! cố thi
          Tôi đăng lên MXH bài thơ Tôi ca ngợi hòa bình của nhà thơ Neswaln (Tiệp Khắc)  năm 1953. Baì thơ này tôi được cố thi sĩ Xuân Diệu cho tôi vào thời điểm mà nước ta đã có hòa bình trên nửa nước do Hiệp định Đình chiến Genève mang lại. Sau Giải phóng Thủ đô, cố thi sĩ có thời gian là cộng tác viên của tờ tạp chí Litérature d’Europe (Văn học Châu Âu).

*Tôi ca ngợi hòa bình
Để cho khắp muôn phương trên trái đất
Nhân loại cười trong cuộc sống dài lâu
Để cho sữa đầy thùng
                             của những người du mục
                                                          chốn rừng sâu
Và để những dòng sông đầy cá,

*Tôi ca ngợi hòa bình
Để cho con anh miệng cười như hoa nở
Khi mắt nhìn những chiếc máy bay
Khuôn mặt hiền luôn dịu thơ ngây
Không phút chốc phải giật mình kinh hãi

*Tôi ca ngợi hòa bình
Để không trung bao la rộng rãi
Không quay cuồng trong những trận mưa bom
Trời xanh xanh bát ngát
                             Không sạm bóng u buồn
Và lặng chết như đống tro tàn vụn phá,

*Tôi ca ngợi hòa bình
Để Prague, Paris và La-mã
Không bao giờ tro bụi cuốn tung trời
Và để thành Nữu Ước xa xôi
Không đổ sụp những ngôi nhà đồ sộ

*Tôi ca ngợi hòa bình
Để em bé thơm thơm mùi sữa
Và các cụ già tóc đã ngả màu sương
Được tắm mình trong ánh nắng ngát hương
Như chiếc ghế trên vườn hoa công cộng,

*Tôi ca ngợi hòa bình
Để người thợ làm vườn say cuộc sống
Sẽ trồng cây trên dãy sông Elbe
Sẽ say sưa nghe chim hót êm đềm
Và nhìn thấy lầu chuông
                             Khi ngẩng dầu kiêu ngạo,

*Tôi ca ngợi hòa bình
Để được thắm tỏ nụ cười tươi trẻ
Để yêu nhau hôn những cái hôn nồng
Để bao người mẹ yên lòng
Đặt con trong chiếc nôi hồng ấm êm,


*Tôi ca ngợi hòa bình
Để những bông lau khóm sậy
Được tự do nghiêng ngả bên sông
Để tươi những áng mây hồng
Để qua giấc ngủ đêm đông yên dài
Để hoa thơm ngát hương đời
Để dòng suối chảy về xuôi êm đềm.

                                                NESWALN. 1953

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 27 tháng Tư năm 2018 - ngày đầu tiên 2 miền Nam Bắc Triều tiên hạnh ngộ . Ngày Ông Kim bước sang ranh  giới phân chia giới tuyến tại  khu vực (DMZ) Bàn Môn Điếm và dắt tay Ông Moon bước trở về phía bắc trong vài giây.
Nhà thơ Xuân Bảo
-----------------------


Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

224.Nhan GioTozHungVuong


        Nhân Giỗ Tổ Hùng Vương, mùng mười tháng ba.
                                                            Khảo luận của nhà thơ Xuân Bảo.
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
 Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba mùng mười.

Trong tác phẩm trường ca Âm vang một dòng sông của tôi có hai đoạn

Trống đồng gõ nền văn minh Lạc Việt
Hồn Ngọc Vạn (1) có hát khúc trời Nam
Về Rừng Sác lại nhớ Bạch Đằng Giang
Nhìn cánh cò bay nhớ đàn chim Lạc
…
Sông nhắc ta nhớ những ngày gian khổ
Dù viễn xứ không quên đất Hy Cương
Nơi phát tích mười tám vị Hùng Vương
“Có ai về Bắc cho ta đi với”(2)
                     1
Dòng dõi Vua Hùng
Hùng Vương, là cách gọi các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt. Hùng Vương thứ I là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước công nguyên thì bị Thục Phán (An Dương Vương) tiếm ngôi..
          Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Lộc Tục cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi (anh trai Lộc Tục) là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Kinh Dương Vương xuống Thủy phủ, lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân thay cha trị nước, còn Kinh Dương Vương không biết đi đâu. Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc, Đế Lai nhân thiên hạ vô sự mà đi chu du khắp nơi, đi qua nước Xích Quỷ, thấy Lạc Long Quân đã về Thủy phủ, liền lưu con gái của mình là Âu Cơ ở lại đó.
Kinh Dương Vương được phong năm Mậu Tuất (cùng thời với Đế Nghi truyền đền cuối đời Hùng Vương, tưc Hùng Duệ Vương, ngang với nhà Chu năm thứ 57 là năm Quý Mão thì hết. Cộng 2622 năm – 258 TCN)
Lạc Long Quân trở về, thấy Âu Cơ xinh đẹp, liền biến hóa thành chàng trai phong tú mĩ lệ, Âu Cơ ưng theo, Lạc Long Quân liền rước nàng về núi Long Trang. Hai người ở với nhau một năm, sinh ra bọc trăm trứng, sinh ra trăm con trai anh dũng phi thường. Lạc Long Quân ở lâu dưới Thủy phủ, Âu Cơ vốn là người Bắc quốc, nhớ nhà liền gọi Long Quân trở về. Âu Cơ nói với Lạc Long Quân:
-Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm con trai mà không gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng, không vợ, một mình vò võ.
Lạc Long Quân bảo rằng:
-Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống tiên, người trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp mà lại có con nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi con trai về Thủy phủ, phân trị các xứ, năm mươi con trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe không được bỏ nhau.
Âu Cơ cùng năm mươi con trai ở tại Phong Châu, đưa người  hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương.
“Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao”
Con của Lạc Long Quân là Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đóng đô ở bộ Văn Lang, Phong Châu. Về bờ cõi, nước đông giáp biển Đông, tây đến Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc), bắc đến hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung quốc), nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành.
Hùng Vương sai các em trai phân trị, đặt em thứ làm Tướng võ, Tướng văn. Tướng văn gọi là Lạc Hầu, Tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, quan Hữu ty gọi là Bố chính, thần bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền nhau cho đến hiệu là Hùng Vương không đổi.
          Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Theo sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng chép. Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc Vương, người giúp việc là Lạc Tướng: đều dùng ấn đồng thao xanh. Nước gọi là Văn Lang. Phong tục thuần hận, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt nút dây làm dấu ghi nhớ; truyền được mười tám chi.
Năm (2557-2258 TCN), năm Mậu Thân thứ 5 đời Đường Nghiêu, Hùng Vương sai sứ sang, tặng vua Nghiêu con rùa thần, có lẽ hơn nghìn năm, mình rùa hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy lịch (lịch rùa). Năm 1110 TCN, Hùng Vương sai sứ qua Trung Quốc, tặng Thành Vương nhà Chu chim trĩ trắng.
Thời Lạc Long Quân trị vì, nhà vua dạy dân ăn mặc, bắt đầu có trật tự về vua tôi, tôn ti, có luân thường về cha con, vợ chồng.
Dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên tâu lại với Hùng Vương. Hùng Vương bảo rằng: Ở núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét dị cho nên mới xâm hại. Bèn lấy mực xăm hình thủy quái ở thân thể, tránh được nạn giao long cắn hại. Tục xăm mình của Bách Việt bắt đầu từ đây.
Ban đầu do ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa đồng làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm; lấy rễ gừng làm muối; lấy dao cày, lấy nước cấy, đất trồng nhiều gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm. Gác cây làm nhà để tránh hổ báo; cắt ngắn đầu để tiện vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm, nhà có người chết thì giã cối gạo để cho hàng xóm nghe chạy đến giúp. Trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau mới giết trâu để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong phòng cùng ăn với nhau cho hết, rồi sau mới tương thông.
‘Lúc bây giờ, vua tôi cùng đi cày, cha con tắm chung sông không chia giới hạn, không phân biệt uy quyền, thứ bậc. Dân đều vẽ mình, uống nước bằng mũi, cùng nhau vui chơi vô sự”.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép phần đầu tiên đặt tên là Kỷ Hồng Bàng thị, 3 tiểu mục là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương
Lãnh thổ nước Văn Lang được sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam ngày nay.
Hùng Vương chia nước Văn Lang làm 15 bộ Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức, đóng đô ở bộ Văn Lang. Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận.
Sơn Nam (bây giờ là Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên) xưa là bộ Giao Chỉ. Sơn Tây xưa là bộ Chu Diên, bộ Phúc Lộc. Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh) xưa là bộ Vũ Ninh. Thuận Hóa (bây giờ là từ Hải Lăng thuộc Quảng Trị đến Điện Bàn thuộc Quảng Nam) xưa là bộ Việt Thường; An Bang (bây giờ là Quảng Yên) xưa là bộ Ninh Hải; Hải Dương xưa là bộ Dương Tuyền; Lạng Sơn xưa là bộ Lục Hải; Thái Nguyên, Cao Bằng xưa là bộ Vũ định nội ngoại; Nghệ An xưa là bộ Hoài Hoan; Thanh Hóa xưa là bộ Cửu Chân; Hưng Hóa và Tuyên Quang xưa là bộ Tân Hưng; Còn hai bộ Bình Văn và Cửu Đức thì đều khuyết nghi. Nay khảo ở sách Tấn chí, quận Cửu Đức, do nhà Ngô đặt, nay là đất Hà Tĩnh. Sử cũ chua tức là nước Chiêm Thành, bây giờ là đất Bình Định.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cuối thời Hùng Vương, vua có người con gái vô cùng xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng, liền sai người đến cầu hôn. Hùng hầu can rằng, Thục vương chỉ lấy làm cớ hôn nhân để xâm lược mà thôi. Thục vương đem lòng oán giận. Về sau Hùng Vương gả con gái cho Sơn Tinh, Thục vương căm giận, căn dặn con cháu phải diệt nước Văn Lang.
Cháu Thục vương là Thục Phán nối ngôi, có dũng lược, đem quân xâm lược Văn Lang. Hùng Vương có binh hùng tướng mạnh đánh bại Thục Phán. Hùng Vương bảo Thục Phán rằng: Ta có sức thần, nước Thục không sợ ư?  rồi bỏ bê đất nước, chỉ lo ăn uống vui chơi. Khi quân Thục kéo sát đến nơi, vua còn say mềm chưa tỉnh. Tỉnh dậy, Hùng Vương cùng đường, thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính đầu hàng Thục Phán. Từ đây trong sử sách nước Việt bước sang kỷ mới gọi là Kỷ nhà Thục.
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính.
18 vị vua Hùng không phải là 18 người cụ thể, mà là 18 chi/ngành, mỗi chi này có nhiều vị vua thay phiên nhau trị vì và dùng chung vương hiệu. Thậm chí con số 18 có thể chỉ nên hiểu là con số tượng trưng ước lệ, vì 18 là bội số của 9 - vốn là một số thiêng đối với người Việt.  Dòng dõi Hùng Vuong tryền ngôi được 88 đới.
1.Kinh Dương Vương: 2879 TCN - ?. Huý là Lộc Tục.
2.Hùng Hiền Vương, còn được gọi là Lạc Long Quân, húy là Sùng Lãm.
3.Hùng Lân Vương
4.Hùng Diệp Vương.
5.Hùng Hi Vương
6.Hùng Huy Vương
7.Hùng Chiêu Vương
8.Hùng Vĩ Vương
9.Hùng Định Vương
10.Hùng Hy Vương
11.Hùng Trinh Vương
12.Hùng Vũ Vương  
13.Hùng Việt Vương  
14.Hùng Anh Vương  
15.Hùng Triệu Vương  
16.Hùng Tạo Vương)
17.Hùng Nghị Vương
18.Hùng Duệ Vương (? - 258 TCN
Lăng Hùng Vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Tương truyền đây là mộ của vua Hùng thứ 6.
Có một điều thú vị là bố đẻ của anh thư Trưng Trắc-người được tôn vinh làm , nữ hoàng đầu tiên của nước ta là con vị hào trưởng Hùng  Định,sau đổi qua họ Trưng


2.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các Vua Hùng
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, TP Việt Trì, Phú Thọ là nơi thờ các Vua Hùng - Tổ Tiên chung của dân tộc Việt Nam. Đây là một khu di tích đặc biệt quan trọng, qua các thời kỳ lịch sử luôn được Nhà nước và nhân dân quan tâm, gìn giữ.
Nơi đây cũng đã được UNESCO công nhận “tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng là kiệt tác truyền khẩu phi vật thể của nhân loại.
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chủ Tịch đã 2 lần về thăm Khu di tích này.
 Sau hiệp định Genève, ngày 19.9.1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong - Sư đoàn 308, có các Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn 36, Trung đoàn Tu vũ. Bác căn dặn về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô.
Năm đó, ngồi dưới bậc thềm của Đền thờ các vua Hùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là sự tình cờ, mà là chủ đích của Người. Lần đầu tiên, cả chặng đường dài mấy ngàn năm của lịch sử dân tộc, được Người tổng kết trong một câu nói lịch sử nổi tiếng:
                     Các Vua Hùng đã có công dựng nước
                     Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước
Trong thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của dân tộc là dựng nước và giữ nước, lúc đó việc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương chưa có điều kiện để tiến hành; Quy luật dựng nước và giữ nước trong lịch sử chưa được tổng kết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thời đại Hùng Vương là thời kỳ lịch sử có thật của dân tộc; Các Vua Hùng là người đã khai sinh ra đất nước Việt Nam. Sự khẳng định quy luật dựng nước và giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng không những có ý nghĩa giáo dục lớn, mà còn là sự quan tâm và ý thức tôn vinh Tổ Tiên - Các Vua Hùng - của người đứng đầu Nhà nước thời hiện tại. Sự nghiệp cách mạng rất đỗi vẻ vang nhưng còn nhiều gian khổ, đòi hỏi những hy sinh vô cùng to lớn, niềm tự hào vững chắc về Tổ Tiên dựng nước là nguồn cổ vũ hết sức lớn lao của nhân dân cả nước. Chọn Đền Hùng để khẳng định nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã tôn vinh Đền Hùng lên một tầm cao mới của lịch sử.
      Trong lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh "các Vua Hùng đã có công dựng nước", Người đã viện dẫn đến những con người có thật trong buổi đầu của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là một biểu tượng cao quý mà các thế hệ con cháu người Việt Nam đời này qua đời khác tôn thờ. Nói về Các Vua Hùng ngay tại nơi thiêng liêng mà bao đời người Việt trở về trong tâm thức cũng như trong đời sống thường nhật - Đền Hùng - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi gợi cho chúng ta ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn. Trên thế giới không có một dân tộc nào lại không có bề dày lịch sử của dân tộc mình, điều đó quyết định sức sống, sự thống nhất và phát triển của mỗi một dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hôm nay tất yếu của sự phát triển là nhiệm vụ tiếp tục dựng nước và giữ nước của các thế hệ con cháu người Việt Nam. "Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".
      Năm 1962, Đế quốc Mỹ chuẩn bị cuộc chiến tranh đánh phá cả miền Bắc. Cả nước thành chiến trường chống Mỹ. Một lần nữa, Đền Hùng lại đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào ngày 19.8.1962. Trong hồ sơ Di tích lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng có ghi lời dặn của Người khi lên tới đỉnh núi Hùng: Đã đi là phải tới đích, leo núi là phải lên đến đỉnh, cũng như người làm cách mạng không được bỏ dở chừng. Người còn dặn phải trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng trở thành một công viên lịch sử cho con cháu sau này đến thăm viếng. Cả 2 lần Người về Đền Hùng, cả 2 lần Người đều lên đến đỉnh cao mà ngày xưa Tổ Tiên của người Việt Nam từng mơ ước cầu Trời cho mưa thuận gió hòa, an dân hạnh phúc.
   Điểm lại sự kiện 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng không phải vì sợ hãi trước những khó khăn của lịch sử mà phải mượn tới vong linh của Tổ Tiên, để tìm một sức mạnh bởi niềm tin huyễn hoặc vào cõi thánh thần. Nhân dân ta vốn coi trọng nguồn gốc, tha thiết ở tình cảm "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả không quên ơn người trồng cây", Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng, viện dẫn đến "Các Vua Hùng đã có công dựng nước", chính là để ca ngợi sự cố gắng quyết tâm dựng nước và giữ nước trong thời đại mới, từ đó khơi dậy những tình cảm thiêng liêng của dân tộc, để từ truyền thống lịch sử tạo ra những điều bất diệt, tạo lên sức mạnh và nguồn sinh lực mới cho cuộc sống, để dân tộc hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng, đi đến đích của mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
      Trong lịch sử hiện đại, bắt đầu bằng ý chí và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã hướng đạo cho chúng ta quan tâm xây dựng tôn tạo Khu di tích lịch sử Đền Hùng ở tầm cao của thời đại mới. Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội Khóa XI đã thông qua sửa đổi Điều 73 của Bộ luật Lao động, cho phép người lao động cả nước được nghỉ ngày mùng 10.3 âm lịch. Đó là điều kiện tốt để đồng bào cả nước về thăm viếng Đền Hùng, dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, tri ân công đức của Tổ Tiên, tạo động lực tinh thần yêu nước, gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân. Khu di tích lịch sử Đền Hùng trong thời hiện tại, không chỉ gắn với Các Vua Hùng - Tổ tiên của dân tộc Việt Nam, mà còn gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người con ưu tú nhất của dân tộc, người thầy vĩ đại nhất của Cách mạng Việt Nam, những tiền nhân có công dựng nước và giữ nước.
(1)   Công nữ Ngọc Vạn con của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được gả cho vua Chân Lạp Chett Chenta II – người đã có công đưa dân vào khai phá Thủy Chân Lạp, tức đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
(2)   Câu thơ của Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ trong bài Nhớ Bắc.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày mùng Mười tháng Ba năm Mậu Tuất, nhằm ngảy 25/4/2018
Nhà thơ Xuân Bảo