Trang

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

224. Nhân Giỗ Tổ Hùng Vương.


       224. Nhân Giỗ Tổ Hùng Vương, mùng mười tháng ba.

                                                            Khảo luận của nhà thơ Xuân Bảo.
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
 Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba mùng mười.

Trong tác phẩm trường ca Âm vang một dòng sông của tôi có hai đoạn:

Trống đồng gõ nền văn minh Lạc Việt
Hồn Ngọc Vạn (1) có hát khúc trời Nam
Về Rừng Sác lại nhớ Bạch Đằng Giang
Nhìn cánh cò bay nhớ đàn chim Lạc
…
Sông nhắc ta nhớ những ngày gian khổ
Dù viễn xứ không quên đất Hy Cương
Nơi phát tích mười tám vị Hùng Vương
“Có ai về Bắc cho ta đi với”(2)

                    1
Dòng dõi Vua Hùng
Hùng Vương, là cách gọi các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt. Hùng Vương thứ I là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước công nguyên thì bị Thục Phán (An Dương Vương) tiếm ngôi..
          Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Lộc Tục cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi (anh trai Lộc Tục) là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Kinh Dương Vương xuống Thủy phủ, lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân thay cha trị nước, còn Kinh Dương Vương không biết đi đâu. Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc, Đế Lai nhân thiên hạ vô sự mà đi chu du khắp nơi, đi qua nước Xích Quỷ, thấy Lạc Long Quân đã về Thủy phủ, liền lưu con gái của mình là Âu Cơ ở lại đó.
Kinh Dương Vương được phong năm Mậu Tuất (cùng thời với Đế Nghi truyền đền cuối đời Hùng Vương, tưc Hùng Duệ Vương, ngang với nhà Chu năm thứ 57 là năm Quý Mão thì hết. Cộng 2622 năm – 258 TCN)
Lạc Long Quân trở về, thấy Âu Cơ xinh đẹp, liền biến hóa thành chàng trai phong tú mĩ lệ, Âu Cơ ưng theo, Lạc Long Quân liền rước nàng về núi Long Trang. Hai người ở với nhau một năm, sinh ra bọc trăm trứng, sinh ra trăm con trai anh dũng phi thường. Lạc Long Quân ở lâu dưới Thủy phủ, Âu Cơ vốn là người Bắc quốc, nhớ nhà liền gọi Long Quân trở về. Âu Cơ nói với Lạc Long Quân:
-Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm con trai mà không gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng, không vợ, một mình vò võ.
Lạc Long Quân bảo rằng:
-Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống tiên, người trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp mà lại có con nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi con trai về Thủy phủ, phân trị các xứ, năm mươi con trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe không được bỏ nhau.
Âu Cơ cùng năm mươi con trai ở tại Phong Châu, đưa người  hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương.
“Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao”
Con của Lạc Long Quân là Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đóng đô ở bộ Văn Lang, Phong Châu. Về bờ cõi, nước đông giáp biển Đông, tây đến Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc), bắc đến hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung quốc), nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành.
Hùng Vương sai các em trai phân trị, đặt em thứ làm Tướng võ, Tướng văn. Tướng văn gọi là Lạc Hầu, Tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, quan Hữu ty gọi là Bố chính, thần bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền nhau cho đến hiệu là Hùng Vương không đổi.
          Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Theo sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng chép. Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc Vương, người giúp việc là Lạc Tướng: đều dùng ấn đồng thao xanh. Nước gọi là Văn Lang. Phong tục thuần hận, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt nút dây làm dấu ghi nhớ; truyền được mười tám chi.
Năm (2557-2258 TCN), năm Mậu Thân thứ 5 đời Đường Nghiêu, Hùng Vương sai sứ sang, tặng vua Nghiêu con rùa thần, có lẽ hơn nghìn năm, mình rùa hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy lịch (lịch rùa). Năm 1110 TCN, Hùng Vương sai sứ qua Trung Quốc, tặng Thành Vương nhà Chu chim trĩ trắng.
Thời Lạc Long Quân trị vì, nhà vua dạy dân ăn mặc, bắt đầu có trật tự về vua tôi, tôn ti, có luân thường về cha con, vợ chồng.
Dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên tâu lại với Hùng Vương. Hùng Vương bảo rằng: Ở núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét dị cho nên mới xâm hại. Bèn lấy mực xăm hình thủy quái ở thân thể, tránh được nạn giao long cắn hại. Tục xăm mình của Bách Việt bắt đầu từ đây.
Ban đầu do ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa đồng làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm; lấy rễ gừng làm muối; lấy dao cày, lấy nước cấy, đất trồng nhiều gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm. Gác cây làm nhà để tránh hổ báo; cắt ngắn đầu để tiện vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm, nhà có người chết thì giã cối gạo để cho hàng xóm nghe chạy đến giúp. Trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau mới giết trâu để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong phòng cùng ăn với nhau cho hết, rồi sau mới tương thông.
‘Lúc bây giờ, vua tôi cùng đi cày, cha con tắm chung sông không chia giới hạn, không phân biệt uy quyền, thứ bậc. Dân đều vẽ mình, uống nước bằng mũi, cùng nhau vui chơi vô sự”.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép phần đầu tiên đặt tên là Kỷ Hồng Bàng thị, 3 tiểu mục là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương
Lãnh thổ nước Văn Lang được sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam ngày nay.
Hùng Vương chia nước Văn Lang làm 15 bộ Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức, đóng đô ở bộ Văn Lang. Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận.
Sơn Nam (bây giờ là Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên) xưa là bộ Giao Chỉ. Sơn Tây xưa là bộ Chu Diên, bộ Phúc Lộc. Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh) xưa là bộ Vũ Ninh. Thuận Hóa (bây giờ là từ Hải Lăng thuộc Quảng Trị đến Điện Bàn thuộc Quảng Nam) xưa là bộ Việt Thường; An Bang (bây giờ là Quảng Yên) xưa là bộ Ninh Hải; Hải Dương xưa là bộ Dương Tuyền; Lạng Sơn xưa là bộ Lục Hải; Thái Nguyên, Cao Bằng xưa là bộ Vũ định nội ngoại; Nghệ An xưa là bộ Hoài Hoan; Thanh Hóa xưa là bộ Cửu Chân; Hưng Hóa và Tuyên Quang xưa là bộ Tân Hưng; Còn hai bộ Bình Văn và Cửu Đức thì đều khuyết nghi. Nay khảo ở sách Tấn chí, quận Cửu Đức, do nhà Ngô đặt, nay là đất Hà Tĩnh. Sử cũ chua tức là nước Chiêm Thành, bây giờ là đất Bình Định.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cuối thời Hùng Vương, vua có người con gái vô cùng xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng, liền sai người đến cầu hôn. Hùng hầu can rằng, Thục vương chỉ lấy làm cớ hôn nhân để xâm lược mà thôi. Thục vương đem lòng oán giận. Về sau Hùng Vương gả con gái cho Sơn Tinh, Thục vương căm giận, căn dặn con cháu phải diệt nước Văn Lang.
Cháu Thục vương là Thục Phán nối ngôi, có dũng lược, đem quân xâm lược Văn Lang. Hùng Vương có binh hùng tướng mạnh đánh bại Thục Phán. Hùng Vương bảo Thục Phán rằng: Ta có sức thần, nước Thục không sợ ư?  rồi bỏ bê đất nước, chỉ lo ăn uống vui chơi. Khi quân Thục kéo sát đến nơi, vua còn say mềm chưa tỉnh. Tỉnh dậy, Hùng Vương cùng đường, thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính đầu hàng Thục Phán. Từ đây trong sử sách nước Việt bước sang kỷ mới gọi là Kỷ nhà Thục.
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính.
18 vị vua Hùng không phải là 18 người cụ thể, mà là 18 chi/ngành, mỗi chi này có nhiều vị vua thay phiên nhau trị vì và dùng chung vương hiệu. Thậm chí con số 18 có thể chỉ nên hiểu là con số tượng trưng ước lệ, vì 18 là bội số của 9 - vốn là một số thiêng đối với người Việt.  Dòng dõi Hùng Vuong tryền ngôi được 88 đới.
1.Kinh Dương Vương: 2879 TCN - ?. Huý là Lộc Tục.
2.Hùng Hiền Vương, còn được gọi là Lạc Long Quân, húy là Sùng Lãm.
3.Hùng Lân Vương
4.Hùng Diệp Vương.
5.Hùng Hi Vương
6.Hùng Huy Vương
7.Hùng Chiêu Vương
8.Hùng Vĩ Vương
9.Hùng Định Vương
10.Hùng Hy Vương
11.Hùng Trinh Vương
12.Hùng Vũ Vương  
13.Hùng Việt Vương  
14.Hùng Anh Vương  
15.Hùng Triệu Vương  
16.Hùng Tạo Vương)
17.Hùng Nghị Vương
18.Hùng Duệ Vương (? - 258 TCN
Lăng Hùng Vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Tương truyền đây là mộ của vua Hùng thứ 6.
Có một điều thú vị là bố đẻ của anh thư Trưng Trắc-người được tôn vinh làm , nữ hoàng đầu tiên của nước ta là con vị hào trưởng Hùng  Định,sau đổi qua họ Trưng


2.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các Vua Hùng

Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, TP Việt Trì, Phú Thọ là nơi thờ các Vua Hùng - Tổ Tiên chung của dân tộc Việt Nam. Đây là một khu di tích đặc biệt quan trọng, qua các thời kỳ lịch sử luôn được Nhà nước và nhân dân quan tâm, gìn giữ.
Nơi đây cũng đã được UNESCO công nhận “tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng là kiệt tác truyền khẩu phi vật thể của nhân loại.
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chủ Tịch đã 2 lần về thăm Khu di tích này.
 Sau hiệp định Genève, ngày 19.9.1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong - Sư đoàn 308, có các Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn 36, Trung đoàn Tu vũ. Bác căn dặn về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô.
Năm đó, ngồi dưới bậc thềm của Đền thờ các vua Hùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là sự tình cờ, mà là chủ đích của Người. Lần đầu tiên, cả chặng đường dài mấy ngàn năm của lịch sử dân tộc, được Người tổng kết trong một câu nói lịch sử nổi tiếng:
                     Các Vua Hùng đã có công dựng nước
                     Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước

Trong thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của dân tộc là dựng nước và giữ nước, lúc đó việc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương chưa có điều kiện để tiến hành; Quy luật dựng nước và giữ nước trong lịch sử chưa được tổng kết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thời đại Hùng Vương là thời kỳ lịch sử có thật của dân tộc; Các Vua Hùng là người đã khai sinh ra đất nước Việt Nam. Sự khẳng định quy luật dựng nước và giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng không những có ý nghĩa giáo dục lớn, mà còn là sự quan tâm và ý thức tôn vinh Tổ Tiên - Các Vua Hùng - của người đứng đầu Nhà nước thời hiện tại. Sự nghiệp cách mạng rất đỗi vẻ vang nhưng còn nhiều gian khổ, đòi hỏi những hy sinh vô cùng to lớn, niềm tự hào vững chắc về Tổ Tiên dựng nước là nguồn cổ vũ hết sức lớn lao của nhân dân cả nước. Chọn Đền Hùng để khẳng định nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã tôn vinh Đền Hùng lên một tầm cao mới của lịch sử.
      Trong lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh "các Vua Hùng đã có công dựng nước", Người đã viện dẫn đến những con người có thật trong buổi đầu của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là một biểu tượng cao quý mà các thế hệ con cháu người Việt Nam đời này qua đời khác tôn thờ. Nói về Các Vua Hùng ngay tại nơi thiêng liêng mà bao đời người Việt trở về trong tâm thức cũng như trong đời sống thường nhật - Đền Hùng - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi gợi cho chúng ta ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn. Trên thế giới không có một dân tộc nào lại không có bề dày lịch sử của dân tộc mình, điều đó quyết định sức sống, sự thống nhất và phát triển của mỗi một dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hôm nay tất yếu của sự phát triển là nhiệm vụ tiếp tục dựng nước và giữ nước của các thế hệ con cháu người Việt Nam. "Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".
      Năm 1962, Đế quốc Mỹ chuẩn bị cuộc chiến tranh đánh phá cả miền Bắc. Cả nước thành chiến trường chống Mỹ. Một lần nữa, Đền Hùng lại đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào ngày 19.8.1962. Trong hồ sơ Di tích lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng có ghi lời dặn của Người khi lên tới đỉnh núi Hùng: Đã đi là phải tới đích, leo núi là phải lên đến đỉnh, cũng như người làm cách mạng không được bỏ dở chừng. Người còn dặn phải trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng trở thành một công viên lịch sử cho con cháu sau này đến thăm viếng. Cả 2 lần Người về Đền Hùng, cả 2 lần Người đều lên đến đỉnh cao mà ngày xưa Tổ Tiên của người Việt Nam từng mơ ước cầu Trời cho mưa thuận gió hòa, an dân hạnh phúc.
   Điểm lại sự kiện 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng không phải vì sợ hãi trước những khó khăn của lịch sử mà phải mượn tới vong linh của Tổ Tiên, để tìm một sức mạnh bởi niềm tin huyễn hoặc vào cõi thánh thần. Nhân dân ta vốn coi trọng nguồn gốc, tha thiết ở tình cảm "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả không quên ơn người trồng cây", Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng, viện dẫn đến "Các Vua Hùng đã có công dựng nước", chính là để ca ngợi sự cố gắng quyết tâm dựng nước và giữ nước trong thời đại mới, từ đó khơi dậy những tình cảm thiêng liêng của dân tộc, để từ truyền thống lịch sử tạo ra những điều bất diệt, tạo lên sức mạnh và nguồn sinh lực mới cho cuộc sống, để dân tộc hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng, đi đến đích của mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
      Trong lịch sử hiện đại, bắt đầu bằng ý chí và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã hướng đạo cho chúng ta quan tâm xây dựng tôn tạo Khu di tích lịch sử Đền Hùng ở tầm cao của thời đại mới. Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội Khóa XI đã thông qua sửa đổi Điều 73 của Bộ luật Lao động, cho phép người lao động cả nước được nghỉ ngày mùng 10.3 âm lịch. Đó là điều kiện tốt để đồng bào cả nước về thăm viếng Đền Hùng, dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, tri ân công đức của Tổ Tiên, tạo động lực tinh thần yêu nước, gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân. Khu di tích lịch sử Đền Hùng trong thời hiện tại, không chỉ gắn với Các Vua Hùng - Tổ tiên của dân tộc Việt Nam, mà còn gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người con ưu tú nhất của dân tộc, người thầy vĩ đại nhất của Cách mạng Việt Nam, những tiền nhân có công dựng nước và giữ nước
.
(1)   Công nữ Ngọc Vạn con của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được gả cho vua Chân Lạp Chett Chenta II – người đã có công đưa dân vào khai phá Thủy Chân Lạp, tức đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
(2)   Câu thơ của Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ trong bài Nhớ Bắc.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày mùng Mười tháng Ba năm Mậu Tuất, nhằm ngảy 25/4/2018
Nhà thơ Xuân Bảo


Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

223. Chào "thiều quang năm Mậu Tuất"


Chào “thiều quang năm Mậu Tuất”

          Đến hôm nay, mùa xuân Mậu Tuất đã bước sang ngày thứ sáu mươi bảy (mùng 7 tháng ba). Tôi có một số bài thơ tứ tuyệt Chào thiều quang!

Bài 1. Chào xuân!
Gặp nhau cất tiếng chào xuân
Thiều quang rắc nắng trào dâng ngọt ngào
Mây vờn trên đỉnh non cao
Còn ta quyến luyến nụ đào cùng xuân

Bài 2. Nụ tình xuân
Chao nghiêng cánh én liệng tầng không
Trời đất giao mùa tỏa ánh hồng
Nguyên đán trao em tình nở muộn
Hoa đào chớm nụ báo tàn đông.

Bài 3. Trao
Trao em một đóa hồng nhung
Trao em nỗi nhớ tận cùng yêu thương
Trao em huyền ảo làn sương
Trao em tất cả mùa xuân thắm nồng

Bài 4. Ước
Ước gì níu được làn hương
Ước gì ngắt đóa lan rừng năm xưa
Ước gì biển đến cùng ta
Ước gì trời đất giao thoa xuân này
Bài 5. Nhớ
Nhớ gì như nhớ người yêu
Nhớ sen Đồng Tháp, nhớ chiều Trấn Biên
Nhớ sao đôi mắt dịu hiền
Đào mai hội ngộ nên duyên chúng mình

Bài 6. Cây cao su
Em vào Bình Lộc cùng ta
Phận phu cạo mủ đã qua lâu rồi
Cao su thay lá xanh trời
Mầm non nẩy lộc cùng người sang xuân.

Bài 7. Hoa nắng Đà Lạt
Gió ơi nhè nhẹ thổi
Sương ơi nhè nhẹ rơi
Lộc xuân đầy hoa nắng
Đẹp lắm Đà Lạt ơi!

Bài 8. Vô đề
Sơn ca vui hót mừng trong nắng sớm
Bình minh reo trên lá mới xuân đào
Đẹp biết bao khi tình yêu vừa chớm
Hồn giao nhau trên đỉnh các vì sao.




Bài 9. Gửi
Gủi mối sầu tư vào năm tháng
Thời gian! Xin giấu hộ nỗi buồn
Em như cánh gió miền xa thẳm
Thổi bùng lên ngọn lửa yêu thương.

Bái 10. Tìm lại Nàng Thơ.
Ta đi tìm lại Nàng Thơ
Vần thơ thuở ấy bây giờ thấy đâu
Đến nay tóc đã bạc màu
Câu thơ ngày cũ nỗi sầu khôn nguôi.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 22 tháng 4 năm 2018
Nhà thơ Xuân Bảo


Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2018

222. 12 NGÀY ĐÊM BÃO LỬA


 222.  12 NGÀY ĐÊM BÃO LỬA

(Trích Nhật ký Thơ chiến trường của nhà thơ Xuân Bảo, nhân kỷ niệm 43 năm Chiến thắng Xuân Lộc -Long Khánh 21/4/2975 – 21/4/2018).

Mùa xuân năm 1975, với sức tiến công mạnh mẽ của các binh đoàn chủ lực Quân Giải phóng miền Nam và sự phối hợp kịp thời của nhân dân địa phương, chúng ta đã lần lượt xóa sổ Quân khu 2 - Quân đoàn 2, Quân khu 1 - Quân đoàn 1 của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa, giải phóng hoàn toàn địa bàn Tây Nguyên và miền Trung, trong đó có hai tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở Huế và Đà Nẵng, đẩy chính quyền và quân đội Sài Gòn vào tình trạng bị động đối phó.

Dưới sự chỉ đạo của cố vấn Mỹ, quân lực VNCH huy động hầu hết lực lượng còn lại, cùng với quân thất trận từ Tây Nguyên và miền Trung chạy vào, nhanh chóng thiết lập một tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ Sài Gòn – Gia Định. Trong đó, Xuân Lộc được xác định là điểm trọng yếu ở phía đông Sài Gòn.
Tướng Mỹ Weyand - Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ -  tướng ngụy Cao Văn Viên - Tổng Tham mưu trưởng quân đội VNCH cùng các tướng lĩnh khác của chế độ cũ nhận định: “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”.
Chính vì thế, địch tập trung một lực lượng mạnh mà nòng cốt là Sư đoàn 18 bộ binh do Lê Minh Đảo chỉ huy, một đơn vị còn nguyên vẹn của Quân đoàn 3 ngụy. Tuyến phòng ngự của sư đoàn này được xác định trên một chính diện khá rộng, từ Túc Trưng qua Dầu Giây, Thị xã Xuân Lộc đến ngã ba Tân Phong.
Cánh cửa thép đông bắc Sài Gòn bị mở toang.

12 ngày đêm bão lửa

 Ngày 9/4/1975

Trời Xuân Lộc mây đen vần vũ
Đất Long Khánh bão lửa gầm vang
Ôi thôi cửa ngõ phía đông
Quân đoàn số IV giật tung ra rồi!

Tướng Uây – en đứng ngồi sốt vó*
“Vòng đai thép” như có như không
“Mất Xuân Lộc, mất Sài Gòn”
Cái ngày đại bại chẳng còn bao lâu.

Ngày 11/4/1975

Nguyễn Văn Thiệu âu sầu tuyệt vọng
Lầu Năm góc riết róng thêm bom
C.B.U. loại bom chùm**
Kèm theo hơi ngạt bao trùm mục tiêu

Ngày 21/4/1975

Nắm thời cơ là điều quan trọng
Quân đoàn II lực lượng bổ sung
Cùng với bộ đội địa phương
Quyết chôn lũ giặc ngông cuồng thiêu thân

Thế là hết ngai vàng Tổng Thiệu ***
Chiều cùng ngày “xuống chiếu” rút lui
Trần Văn Hương ghế tạm ngồi
Ngồi chưa nóng chỗ vội dời đi ngay

Ngày 30/4/1975

Trọn mười hai ngày đêm khốc liệt
Cánh cửa thép Xuân Lộc tan tành
Thần tốc nâng bước quân hành
Bái ca Chiến thắng đô thành ngân vang.

-------------
*Uây-en (Weyand) Tổng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ - người thiết kế “vành đai thép” Xuân Lộc.
**Loại bom C.B.U (Cluster bomb units) là loại bom chùm khổng lồ chứa nhiều hơi ngạt, khả năng sát thương rất lớn.
***Nguyễn Văn Thiệu từ chức lúc 19 giờ ngày 21/4/1975.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 12/4/2018.


Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

221. Nhớ về một nhà chí sĩ -Cụ Huỳnh Thúc Kháng

 · 
221.Nhớ về một nhà chí sĩ lừng danh. Cụ Huỳnh Thúc Kháng-nhân ngày Giỗ của Cụ 21/4/1947 - 21/4/2018.
Trong thư gửi vĩnh biệt cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
"Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà Cụ trước đây bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường gian nan cực khổ, nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ chẳng những không sờn, mà lại thêm cương quyết.
Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời Cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập, đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Chính phủ ta mời Cụ ra. Tuy đã 71 tuổi, nhưng Cụ vẫn hăng hái nhận lời, Cụ nói: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ quốc"".
Trước khi lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, Hồ Chí Minh trao cho Cụ Quyền Chủ tịch nước với lời dặn bất hủ “Dĩ bất biến - ứng vạn biến”.
Cụ đã để lại 4 bài Di ngôn trước lúc từ giã cõi trần. Đó là Di ngôn 1 kính gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh với lời trăn trối:
“Tôi bệnh nặng chắc không khỏi. 40 năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân đến đường vinh quang hạnh phúc.
Chào vĩnh quyết
Huỳnh Thúc Kháng”.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần ngày 21/4/1947, tại Quảng Ngãi, thọ 71 tuổi. Được tin đau buồn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm bài thơ điếu bằng chữ Hán và Người đã tự dịch nhu­ sau:
“Than ôi
Bể Đà Nẵng triều thảm
Đèo Hải Vân mây sầu
Tháng tư tin buồn đến
Huỳnh Bộ trưởng đi đâu
Trông vào Bộ Nội vụ
Tài đức tiếc thương nhau
Đồng bào ba chục triệu
Đau đớn lệ rơi châu”.
Và đây là bài thơ tôi viết năm 2004 khi tôi và đoàn công tác của Trung tâm Thông tin-nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc hội về làm việc với tỉnh Quảng Ngãi
Trước mộ Cụ Mính Viên
Nhân 60 năm Ngày húy Cụ Huỳnh Thúc Kháng, 21/04/1947 – 21/04/2007
.
Ngày đêm lắng tiếng sông Trà hát
Một khúc Di ngôn gửi lại Người
Độc lập hồn thiêng sông núi gọi
Tiếng Dân ý nguyện quốc dân đòi
Nghìn thu yên giấc lòng thơ thới
Giờ phút biệt ly luống ngậm ngùi
Mong Bác sống lâu đưa đất nước
Phồn vinh hạnh phúc đến muôn đời
Núi Thiên Ấn, tháng 4 năm 2007.
Nhà thơ Xuân Bảo
Trong kho tàng đồ sộ về Thi ca của Cụ có một bài thơ mà những năm học phổ thông tôi còn nhớ đến bây giờ. Đó là bài thơ Cụ ca ngợi Hồ Chủ tịch:
“Tung hoành bể Sở với non Ngô
Đảm lược ai hơn Chủ tịch Hồ
Mưa gió dãi dầu bao tuế nguyệt
Nước non gây dựng nội cơ đồ
Sen kia chẳng ngại hôi bùn lắm
Tùng nọ bao phen ngọn gió xô
Khắp cả ba kỳ đều tín nhiệm
Rộn ràng muôn miệng tiếng hoan hô”.
Bên bờ Phước Long Giang, những ngày cuối mùa khô – 11/4/2018
Nhà thơ Xuân Bảo
Ảnh 1. Nhà chí sĩ cách mạng Huỳnh Thúc Khang
Ảnh 2. Chính phủ lâm thời VNDCCH. Cụ Huỳnh được mời giữ chức Phó Chủ tich rồi tạm quyền Chủ tịch nước trong thời gian Hồ Chủ tịch sang Pháp. 






Trong hình ảnh có thể có: 1 người, kính mắt và mũ

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

220.Nhớ Trinh Công Sơn


220. NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN.
-          
Thế là đến hôm nay, Trịnh vĩnh biệt cõi trần đã 17 năm rồi. Tôi còn nhớ rõ chiều 1/4//2011 điện thoại của nhà thơ Nguyễn Duy réo báo tin Trịnh Công Sơn đã “ra đi”! Một lúc sau lại có tiếng chuông điện thoại của nhà văn Đoàn Minh Tuấn báo cho tôi tin dữ: Trịnh Công Sơn đã mất. Ngày mai bắt đầu lễ viếng. Ngày 2/4 tôi đi viếng tại nơi quàn thi hài Trịnh. Đó là ngôi nhà 47C Phạm Ngọc Thạch, quận 3 Sài Gòn.
Đến viếng có nguyên Bí thư Thành ủy Nguyễn Minh Triết và các lãnh đạo thành phố.  Trong những tràng hoa viếng Trịnh Công Sơn có một vòng hoa rất lớn với câu “Vô cùng thương tiếc một tài hoa của đất nước” của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và phu nhân. Hơn 1000 vòng hoa không ghi tên người viếng mà chỉ có một dải băng màu tím ghi những tên ca khúc của Trịnh như Diễm xưa, Hạ trắng, Diễm xưa, Biển nhớ, Cát bụi, Tuổi đá buồn, Một cõi đi về, Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, Nhớ mùa thu Hà Nội, Nối vòng tay lớn, Huế- Sài Gòn-Hà Nội, Trường ca Đoá hoa vô thường…Đặc biệt, có một đoàn ni sư đến viếng và xin tang quyến cho phép được đồng ca bài Một cõi đi về.
                                           ***
 Một đôi điều nhận biết về người nghệ sĩ tài hoa của đất nước.
Trong sự nghiệp âm nhạc, Trịnh Côngến Sơn đã sáng tác trên 600 tác phẩm, phần lớn là tình ca. Nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản chiến trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và do đó đã chịu sự cấm đoán, hạn chế của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, và ngay cả của chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau này.
Nhạc của Trịnh Công Sơn được rất nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ dù không chuyên.
Ông sinh tại cao nguyên Lạc Giao (xã Lạc Giao-hiện nay là phường Thống Nhất, Ban Mê Thuột), tỉnh Đắk Lắk nhưng lúc nhỏ sống ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông học theo học các trường Lycée Francais và Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée J.J Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây.
Ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi. Nhưng tác phẩm đầu tiên của ông là Ướt mi, được xuất bản An Phú in năm 1959. Từ đó tên tuổi của ông được nhiều người biết đến. Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền miền Nam đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông. Ngay cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vốn đối lập, cũng không tán thành việc ông gọi Chiến tranh Việt Nam là "nội chiến" trong bài Gia tài của mẹ, vì quan điểm của họ cho rằng đây là cuộc chiến tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, nhiều bài hát của ông lại rất thịnh hành trong công chúng cho đến hôm nay. Năm 1961 vì bắt buộc phải trốn lính nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại 1 trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng
Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như Diễm Xưa (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), Ca dao Mẹ, Ngủ đi con.
Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên đài truyền thanh Sài Gòn hát bài Nối vòng tay lớn, bài hát nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968.
Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di tản sang Mỹ và ông đã phải sống 4 năm trong trại cải tạo. Nhưng cũng có những nguồn tin theo tác giả Bùi Đức Lạc thì Trịnh Công Sơn chỉ đi kinh tế mới vài năm chứ không hề có cải tạo hay ông đi học tập 2 năm ở Cồn Tiên. Một thời gian dài sau 1975, nhạc của ông bị cấm đoán ở tại Việt Nam hay bị một ít người ngấm ngầm tẩy chay ở hải ngoại.
Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, và có viết một số bài có nội dung ca ngợi chế độ mới như Thành phố Mùa Xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.
Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ. Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do “có tính phản chiến”. Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam. Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.
Ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường. Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12h45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ). Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.
Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận con.
Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc, những tác phẩm không những mang đậm một phong cách riêng mà còn gửi gắm một triết lý. Ông từng lý giải cho cái sự sáng tác của mình: "Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..."
Nhạc tình. Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc tình của họ Trịnh tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với Ướt mi đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 vẫn có những bản tình ca thấm thía: Như một lời chia tay, Xin trả nợ người...
Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn chán, cô đơn như trong Sương đêm, Ướt mi, những khúc tình ngầm mang sầu ly biệt như Diễm xưa, Biển nhớ, hay tiếc nuối một cái gì đã qua: Tình xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn nhớ hay em đã quên, Hoa vàng mấy độ. Ngoài ra còn những bài triết lý tình, mang một bóng dáng ngậm ngùi, lặng lẽ của người tình từng trải: Cỏ xót xa đưa, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng...Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài trông mộc mạc nhưng rất thâm trầm sâu sắc, đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực. Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam, nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là "người Việt viết tình ca hay nhất thế kỷ".
Nhạc phản chiến. Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, sau này tài tử hơn và để tránh nhầm lẫn với những ca khúc phản chiến của tác giả khác, người ta gọi là Ca khúc da vàng. Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1965- 1966. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trời và Phụ khúc da vàng. Nhạc phản chiến của họ Trịnh phần lớn viết bằng điệu Blues, cộng với lời ca chân tình thống thiết, trở nên những bài hát rất cảm động nhưng không hề yếu đuối, bỉ mị. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp. Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò không nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Cũng vì loại nhạc này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn, không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.
Cho đến nay, sau hơn 30 năm hòa bình, rất nhiều bài hát của ông vẫn còn bị cấm trình diễn tại Việt Nam, dù rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài Chính chúng ta phải nói hòa bình, Hát trên những xác người, Ta đi dựng cờ, Ta quyết phải sống)
          Nhạc khác. Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn để lại những tác phẩm viết về quê hương: Chiều trên quê hương tôi, viết cho trẻ em: Em là hoa hồng nhỏ, Mẹ đi vắng, và cả những bài nhạc đỏ: Huyền thoại mẹ, Em ở nông trường - em ra biên giới, Nối vòng tay lớn, Ánh sáng Mạc Tư Khoa, Chưa mất niềm tin, Huế - Sài Gòn - Hà Nội... Trong đó nổi tiếng hơn cả là các bài "Em là hoa hồng nhỏ" và "Nối vòng tay lớn" - có thể nói rằng không một thanh thiếu niên Việt Nam nào lại không biết đến hai bài hát này.
Thơ. Có khá nhiều bài thơ (văn vần không được phổ nhạc) của ông hoặc được cho là của ông hiện đang được truyền tụng trên các diễn đàn.
Hội họa. Cũng giống như đàn anh Văn Cao, Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội họa, bút tích. Một số trong đó hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại Hội Ngộ Quán.
Vinh dự. Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài "Ngủ đi con" (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ nhì các nhạc phẩm của ông, cũng vào năm này ca khúc "Ngủ đi con" trở thành 1 hit ở Nhật Bản. Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim "Tội lỗi cuối cùng". Giải Nhất của cuộc thi "Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh" với bài "Em ở nông trường, em ra biên giới". Giải Nhất cuộc thi "Hai mươi năm sau" với bài "Hai mươi mùa nắng lạ". Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc sĩ cho một chuỗi bài hát: "Xin trả nợ người", "Sóng về đâu", "Em đi bỏ lại con đường", "Ta đã thấy gì hôm nay"
Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Encyclopédie de tous les pays du monde (Coll. Les Millions)
Đóng góp cho điện ảnh - * Diễn viên: phim "Đất khổ"    * Viết nhạc và bài hát cho phim:   1. Cánh đồng hoang * Nhạc và bài hát được sử dụng trong phim   1. Mùa hè chiều thẳng đứng   2. Công chúa teen và ngũ hổ tướng (bài "Để gió cuốn đi") . * Phim về Trịnh: Trịnh Công Sơn - sống và yêu của đạo diễn Lê Dân (Lê Hữu Phước)

Ca sĩ trình bày thành công. Khánh Ly, Hồng Nhung, Trịnh Công Sơn, Trịnh Vĩnh Trinh.
Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của âm nhạc đại chúng, Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc). Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly và Hồng Nhung. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ, một ca sĩ và một diễn viên không chuyên.
2.Thế giới ngợi ca Trinh Công Sơn
'Bob Dylan của Việt Nam' và 'Trịnh Công Sơn của Mỹ'
Dù không phải chính thức, nhưng việc một trang mạng có uy tín đưa hai cây bút người Việt vào dự đoán Nobel văn học 2016 đã ít nhiều tạo dư luận trong và ngoài nước. Nhưng liệu mỗi lần Nobel trao giải thì có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp gì với văn học trong nước?
Bob Dylan đoạt giải Nobel Văn học: một tiền lệ lạ lùng nhưng hợp lý. Nghe lại những ca khúc 'thần sầu' của chủ nhân giải Nobel Văn học 2016 Bob Dylan. Liên quan ở đây xin bỏ qua yếu tố dịch thuật và nghiên cứu, vì đó là hoạt động văn học tất yếu. Như mùa Nobel này, Bob Dylan rõ ràng có một liên hệ mật thiết, vì từ thập niên 1960 - cùng với bạn của mình là nhạc sĩ Joan Baez - Bob Dylan đã có nhiều hoạt động, nhiều tác phẩm lên án, phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.
Đầu thập niên 1960 ca khúc Blowin’ In The Wind (tạm dịch: Lời đáp bay trong gió thoảng) của Bob Dylan có những câu như: “… Bao nhiêu đạn pháo sẽ rơi/ Mới đến ngày im tiếng súng/ Bạn thử nghe câu trả lời/ Lời đáp bay trong gió thoảng/ Bao nhiêu mạng người thác oan/ Quả là quá nhiều chết chóc”. Cho đến nay, ca khúc này đã có hơn 500 phiên bản khác nhau, luôn được nhiều ca sĩ, nhóm nhạc hát lại.
“Trịnh Công Sơn của Mỹ”
Nhà nghiên cứu John C. Schafer từng tình nguyện đến dạy tiếng Anh tại Đà Nẵng từ năm 1968, rất mau sau đó ông nhận ra sự tương đồng về tư tưởng trong nhiều ca khúc giữa Trịnh Công Sơn và Bob Dylan. Có vài lần John C. Schafer viết đại ý Trịnh Công Sơn là “Bob Dylan Việt Nam”, và Bob Dylan là “Trịnh Công Sơn của Mỹ”. Sau này, trong các đặc khảo, ông so sánh ca khúc phản chiến của Bob Dylan với ca khúc “da vàng” của Trịnh Công Sơn, để từ mối quan tâm chung đó chỉ ra hai cá tính sáng tạo và tâm thế khác nhau. Về số lượng ca khúc phản chiến, Trịnh Công Sơn nhiều gấp khoảng 10 lần Bob Dylan.
Cả hai đều có sự quan tâm đặc biệt về triết lý, tôn giáo và chất hiện sinh, tính vô thường của đời sống. Về ca từ, cả hai đều rất chăm chút chất thơ, nhiều ca khúc tách ca từ có thể thành một bài thơ hoàn chỉnh. Trong các lý do mà Hàn lâm viện Thụy Điển công bố, ca từ thấm đẫm chất thơ là một thế mạnh của Bob Dylan.
Chính vì sự tương đồng và dị biệt như vậy mà khi cuốn Trịnh Công Sơn - Bob Dylan: như trăng và nguyệt? (NXB Trẻ 2012) của John C. Schafer phát hành đã tạo nên làn sóng trong giới nghiên cứu.
Khi Bob Dylan đoạt giải Nobel thì hệ quả kéo theo trên toàn thế giới là nhiều tác phẩm văn học của ông sẽ dịch và nghiên cứu, nhiều ca khúc của ông sẽ được hát lại. Việt Nam chắc chắn cũng vậy. Riêng về khía cạnh văn học, Bob Dylan có một tiểu thuyết rất quan trọng, tên là Tarantula - một thể nghiệm văn xuôi thơ. Nó được viết trong các năm 1965 và 1966, dùng thủ pháp dòng ý thức (stream of consciousness), một thủ pháp mà các bậc thầy như William Faulkner, Jack Kerouac, William S. Burroughs, Allen Ginsberg… cũng đã theo đuổi.
Chủ nhân giải Nobel Văn học 2016, Bob Dylan:
'Einstein của nền văn hóa đại chúng'
Bob Dylan là một nhà thơ, ca sĩ kiêm nhà soạn ca khúc, một nhân vật được sùng bái. Dịp Dylan tròn 75 tuổi, nhiều chuyên gia âm nhạc tự hỏi liệu có một người kế nhiệm nào thực sự 'tròn trịa' được như ông?
          Complete Annotated Lyrics (2014), Lyrics 1962-2001 (2004), The Definitive Bob Dylan Songbook (2001), Forever Young (2008)… xứng đáng để dịch và đọc độc lập như những tập thơ. Năm 2001, ông thành công với cuốn hồi ký Chronicles: Volume One; theo một nguồn tin khả tín, ông cũng đã ký hợp đồng in 6 cuốn sách với NXB Simon & Schustertungas - một mảnh đất màu mỡ cho dịch thuật.
Có điều ngạc nhiên, khi nhắc về Bob Dylan, ít khi người ta nhắc đến Tarantula; trong các văn bản đã công bố chính thức tại Việt Nam, tiểu thuyết này gần như chưa bao giờ được nhắc đến. Tiểu thuyết này tiền phong đến mức mà suốt nửa thế kỷ qua, tại Mỹ, người thích thì cứ điêu đứng, người không thích thì tha hồ dè bỉu. Nhưng từ đầu thế kỷ 21, sau các nghiên cứu và tái đánh giá lại vai trò quan trọng của nó, Tarantula đã được tái bản trong tiếng Anh, được dịch sang nhiều thứ tiếng như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Croatia, Czech.

3. Một kỷ niệm nhỏ của tôi với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
 Tháng 4 năm 1995, chúng tôi gồm có nhà thơ Nguyễn Duy, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và tôi về dự lễ Kỷ niệm 20 năm Ngày Giải phóng Xuân Lộc. Đến Long Khánh, tôi ghé mời nhà nhiếp nhà nhiếp ảnh Ngọc Sơn cùng đi. Cuối lễ, tôi gặp và hỏi ông Nguyễn Huệ, bây giờ đã là đại tá, phó Giám đốc Công an Đồng Nai – nguyên là người chỉ huy Đội T6 Trinh sát vũ trang Long Khánh năm xưa, người trực tiếp chỉ huy trận bắt tên thiếu úy tình báo Lê Thị Lụa, bí số IB0099, thường gọi là “Nhung gấu”. Anh Sáu Huệ cười hiền:
-Tên thật của “Nhung gấu” là Nguyễn Thị Thuận, sinh năm 1952, tại Bùi Chu, cha là pạc-ti-dăng của Pháp, chết trận. Lên 3 tuổi theo mẹ vào Nam. Bị lạc mẹ nên Thuận được đưa vào nuôi ở trại Tế bần Hố Nai. Năm 18 tuổi Thuận là một cô gái nổi tiếng về sắc đẹp và đã được tuyển vào đội Thiên nga của Quân lực Việt Nam cộng hòa. Nhung gấu bị bắt trong trận Suối Rết. Sau giải phóng được tha và hiện đang sống ở Long Khánh. Hình như đang mở quán cà-phê tại Gia Liêu?!
 “Nhung gấu” là nhân vật trong truyện ngắn Con thiên nga lạc loài của tôi (đã in sách).
Chúng tôi tìm đến một quán cà phê nhỏ gần K4 – trại giam của Công an Đồng Nai – hỏi thăm “Nhung gấu” nhưng không ai biết. May thay, có một vị khách đang ngồi trong quán nói: Tôi có biết một cô chủ quán cà phê ở gần chân cầu Gia Liêu, nghe đâu trước 75 cũng là sĩ quan Quân lực Cộng hòa, cô có tiếng hát rất hay được nhiều người mến mộ. Tên cô chủ quán là Kim Chi. Chúng tôi đến quán và được bà chủ đon đả mời vào. Khi mọi người yên vị, tôi nhìn trên vách có một cây đàn ghi-ta. Tôi hỏi: Ai chơi đàn? Bà chủ vừa pha cà phê vừa trả lời: Em đang tập chơi. Thời gian này, Nguyễn Duy đi thực tế ở Trại Phục hồi nhân phẩm về có bài thơ Cây đàn ghi-ta trên cọc gỗ. Khi cà phê đã bưng ra, tôi đề nghị bà chủ chơi đàn. Tôi nhắc hát bài Diễm xưa. Chủ quán vừa đàn lại vừa hát rất điệu nghệ. Nhìn sang phía Trịnh Công Sơn tôi thấy anh lấy kính cận ra và lau nước mắt. Ngọc Sơn cao hứng giới thiệu: Cô có biết ai đây không? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đó. Kim Chi buông đàn và ôm chầm lấy nhạc sĩ. Kim Chi khóc! Trịnh Công Sơn cầm lấy cây đàn và bảo Kim Chi cùng hát bài Huyền thoại Mẹ. Hai người hát rất say sưa. Lời bài hát đã đưa chúng tôi về những ngày máu lửa thời chống Mỹ. Tôi thấy Nguyễn Duy mắt cũng rơm rớm.
Tuy đã ở vào cái tuổi trên tứ tuần nhưng trông Thuận vẫn còn nhiều nét thanh xuân như ngày nào. Tôi hỏi nhỏ:
-         Bây giờ Nhung sống ra sao?
Thuận gạt đi có vẻ không bằng lòng gọi Thuận là Nhung:
-                          -  Chuyện cũ bỏ đi anh. Bây giờ em đã có cháu gọi bằng bà rồi đấy. Chồng em cũng là người Bùi Chu anh ạ! Chúng em có vườn rẫy ở Suối Rết. Khi nào tiện em mời các anh vào rẫy chơi.
           Bên bờ Phước Long Giang, sau ngày Giỗ lần thứ 17 của Trịnh, ngày 5/4/2018.
-                  
§  Nhà thơ Xuân Bảo