Trang

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

220.Nhớ Trinh Công Sơn


220. NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN.
-          
Thế là đến hôm nay, Trịnh vĩnh biệt cõi trần đã 17 năm rồi. Tôi còn nhớ rõ chiều 1/4//2011 điện thoại của nhà thơ Nguyễn Duy réo báo tin Trịnh Công Sơn đã “ra đi”! Một lúc sau lại có tiếng chuông điện thoại của nhà văn Đoàn Minh Tuấn báo cho tôi tin dữ: Trịnh Công Sơn đã mất. Ngày mai bắt đầu lễ viếng. Ngày 2/4 tôi đi viếng tại nơi quàn thi hài Trịnh. Đó là ngôi nhà 47C Phạm Ngọc Thạch, quận 3 Sài Gòn.
Đến viếng có nguyên Bí thư Thành ủy Nguyễn Minh Triết và các lãnh đạo thành phố.  Trong những tràng hoa viếng Trịnh Công Sơn có một vòng hoa rất lớn với câu “Vô cùng thương tiếc một tài hoa của đất nước” của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và phu nhân. Hơn 1000 vòng hoa không ghi tên người viếng mà chỉ có một dải băng màu tím ghi những tên ca khúc của Trịnh như Diễm xưa, Hạ trắng, Diễm xưa, Biển nhớ, Cát bụi, Tuổi đá buồn, Một cõi đi về, Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, Nhớ mùa thu Hà Nội, Nối vòng tay lớn, Huế- Sài Gòn-Hà Nội, Trường ca Đoá hoa vô thường…Đặc biệt, có một đoàn ni sư đến viếng và xin tang quyến cho phép được đồng ca bài Một cõi đi về.
                                           ***
 Một đôi điều nhận biết về người nghệ sĩ tài hoa của đất nước.
Trong sự nghiệp âm nhạc, Trịnh Côngến Sơn đã sáng tác trên 600 tác phẩm, phần lớn là tình ca. Nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản chiến trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và do đó đã chịu sự cấm đoán, hạn chế của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, và ngay cả của chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau này.
Nhạc của Trịnh Công Sơn được rất nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ dù không chuyên.
Ông sinh tại cao nguyên Lạc Giao (xã Lạc Giao-hiện nay là phường Thống Nhất, Ban Mê Thuột), tỉnh Đắk Lắk nhưng lúc nhỏ sống ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông học theo học các trường Lycée Francais và Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée J.J Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây.
Ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi. Nhưng tác phẩm đầu tiên của ông là Ướt mi, được xuất bản An Phú in năm 1959. Từ đó tên tuổi của ông được nhiều người biết đến. Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền miền Nam đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông. Ngay cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vốn đối lập, cũng không tán thành việc ông gọi Chiến tranh Việt Nam là "nội chiến" trong bài Gia tài của mẹ, vì quan điểm của họ cho rằng đây là cuộc chiến tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, nhiều bài hát của ông lại rất thịnh hành trong công chúng cho đến hôm nay. Năm 1961 vì bắt buộc phải trốn lính nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại 1 trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng
Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như Diễm Xưa (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), Ca dao Mẹ, Ngủ đi con.
Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên đài truyền thanh Sài Gòn hát bài Nối vòng tay lớn, bài hát nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968.
Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di tản sang Mỹ và ông đã phải sống 4 năm trong trại cải tạo. Nhưng cũng có những nguồn tin theo tác giả Bùi Đức Lạc thì Trịnh Công Sơn chỉ đi kinh tế mới vài năm chứ không hề có cải tạo hay ông đi học tập 2 năm ở Cồn Tiên. Một thời gian dài sau 1975, nhạc của ông bị cấm đoán ở tại Việt Nam hay bị một ít người ngấm ngầm tẩy chay ở hải ngoại.
Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, và có viết một số bài có nội dung ca ngợi chế độ mới như Thành phố Mùa Xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.
Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ. Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do “có tính phản chiến”. Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam. Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.
Ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường. Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12h45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ). Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.
Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận con.
Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc, những tác phẩm không những mang đậm một phong cách riêng mà còn gửi gắm một triết lý. Ông từng lý giải cho cái sự sáng tác của mình: "Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..."
Nhạc tình. Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc tình của họ Trịnh tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với Ướt mi đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 vẫn có những bản tình ca thấm thía: Như một lời chia tay, Xin trả nợ người...
Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn chán, cô đơn như trong Sương đêm, Ướt mi, những khúc tình ngầm mang sầu ly biệt như Diễm xưa, Biển nhớ, hay tiếc nuối một cái gì đã qua: Tình xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn nhớ hay em đã quên, Hoa vàng mấy độ. Ngoài ra còn những bài triết lý tình, mang một bóng dáng ngậm ngùi, lặng lẽ của người tình từng trải: Cỏ xót xa đưa, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng...Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài trông mộc mạc nhưng rất thâm trầm sâu sắc, đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực. Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam, nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là "người Việt viết tình ca hay nhất thế kỷ".
Nhạc phản chiến. Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, sau này tài tử hơn và để tránh nhầm lẫn với những ca khúc phản chiến của tác giả khác, người ta gọi là Ca khúc da vàng. Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1965- 1966. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trời và Phụ khúc da vàng. Nhạc phản chiến của họ Trịnh phần lớn viết bằng điệu Blues, cộng với lời ca chân tình thống thiết, trở nên những bài hát rất cảm động nhưng không hề yếu đuối, bỉ mị. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp. Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò không nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Cũng vì loại nhạc này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn, không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.
Cho đến nay, sau hơn 30 năm hòa bình, rất nhiều bài hát của ông vẫn còn bị cấm trình diễn tại Việt Nam, dù rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài Chính chúng ta phải nói hòa bình, Hát trên những xác người, Ta đi dựng cờ, Ta quyết phải sống)
          Nhạc khác. Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn để lại những tác phẩm viết về quê hương: Chiều trên quê hương tôi, viết cho trẻ em: Em là hoa hồng nhỏ, Mẹ đi vắng, và cả những bài nhạc đỏ: Huyền thoại mẹ, Em ở nông trường - em ra biên giới, Nối vòng tay lớn, Ánh sáng Mạc Tư Khoa, Chưa mất niềm tin, Huế - Sài Gòn - Hà Nội... Trong đó nổi tiếng hơn cả là các bài "Em là hoa hồng nhỏ" và "Nối vòng tay lớn" - có thể nói rằng không một thanh thiếu niên Việt Nam nào lại không biết đến hai bài hát này.
Thơ. Có khá nhiều bài thơ (văn vần không được phổ nhạc) của ông hoặc được cho là của ông hiện đang được truyền tụng trên các diễn đàn.
Hội họa. Cũng giống như đàn anh Văn Cao, Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội họa, bút tích. Một số trong đó hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại Hội Ngộ Quán.
Vinh dự. Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài "Ngủ đi con" (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ nhì các nhạc phẩm của ông, cũng vào năm này ca khúc "Ngủ đi con" trở thành 1 hit ở Nhật Bản. Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim "Tội lỗi cuối cùng". Giải Nhất của cuộc thi "Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh" với bài "Em ở nông trường, em ra biên giới". Giải Nhất cuộc thi "Hai mươi năm sau" với bài "Hai mươi mùa nắng lạ". Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc sĩ cho một chuỗi bài hát: "Xin trả nợ người", "Sóng về đâu", "Em đi bỏ lại con đường", "Ta đã thấy gì hôm nay"
Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Encyclopédie de tous les pays du monde (Coll. Les Millions)
Đóng góp cho điện ảnh - * Diễn viên: phim "Đất khổ"    * Viết nhạc và bài hát cho phim:   1. Cánh đồng hoang * Nhạc và bài hát được sử dụng trong phim   1. Mùa hè chiều thẳng đứng   2. Công chúa teen và ngũ hổ tướng (bài "Để gió cuốn đi") . * Phim về Trịnh: Trịnh Công Sơn - sống và yêu của đạo diễn Lê Dân (Lê Hữu Phước)

Ca sĩ trình bày thành công. Khánh Ly, Hồng Nhung, Trịnh Công Sơn, Trịnh Vĩnh Trinh.
Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của âm nhạc đại chúng, Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc). Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly và Hồng Nhung. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ, một ca sĩ và một diễn viên không chuyên.
2.Thế giới ngợi ca Trinh Công Sơn
'Bob Dylan của Việt Nam' và 'Trịnh Công Sơn của Mỹ'
Dù không phải chính thức, nhưng việc một trang mạng có uy tín đưa hai cây bút người Việt vào dự đoán Nobel văn học 2016 đã ít nhiều tạo dư luận trong và ngoài nước. Nhưng liệu mỗi lần Nobel trao giải thì có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp gì với văn học trong nước?
Bob Dylan đoạt giải Nobel Văn học: một tiền lệ lạ lùng nhưng hợp lý. Nghe lại những ca khúc 'thần sầu' của chủ nhân giải Nobel Văn học 2016 Bob Dylan. Liên quan ở đây xin bỏ qua yếu tố dịch thuật và nghiên cứu, vì đó là hoạt động văn học tất yếu. Như mùa Nobel này, Bob Dylan rõ ràng có một liên hệ mật thiết, vì từ thập niên 1960 - cùng với bạn của mình là nhạc sĩ Joan Baez - Bob Dylan đã có nhiều hoạt động, nhiều tác phẩm lên án, phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.
Đầu thập niên 1960 ca khúc Blowin’ In The Wind (tạm dịch: Lời đáp bay trong gió thoảng) của Bob Dylan có những câu như: “… Bao nhiêu đạn pháo sẽ rơi/ Mới đến ngày im tiếng súng/ Bạn thử nghe câu trả lời/ Lời đáp bay trong gió thoảng/ Bao nhiêu mạng người thác oan/ Quả là quá nhiều chết chóc”. Cho đến nay, ca khúc này đã có hơn 500 phiên bản khác nhau, luôn được nhiều ca sĩ, nhóm nhạc hát lại.
“Trịnh Công Sơn của Mỹ”
Nhà nghiên cứu John C. Schafer từng tình nguyện đến dạy tiếng Anh tại Đà Nẵng từ năm 1968, rất mau sau đó ông nhận ra sự tương đồng về tư tưởng trong nhiều ca khúc giữa Trịnh Công Sơn và Bob Dylan. Có vài lần John C. Schafer viết đại ý Trịnh Công Sơn là “Bob Dylan Việt Nam”, và Bob Dylan là “Trịnh Công Sơn của Mỹ”. Sau này, trong các đặc khảo, ông so sánh ca khúc phản chiến của Bob Dylan với ca khúc “da vàng” của Trịnh Công Sơn, để từ mối quan tâm chung đó chỉ ra hai cá tính sáng tạo và tâm thế khác nhau. Về số lượng ca khúc phản chiến, Trịnh Công Sơn nhiều gấp khoảng 10 lần Bob Dylan.
Cả hai đều có sự quan tâm đặc biệt về triết lý, tôn giáo và chất hiện sinh, tính vô thường của đời sống. Về ca từ, cả hai đều rất chăm chút chất thơ, nhiều ca khúc tách ca từ có thể thành một bài thơ hoàn chỉnh. Trong các lý do mà Hàn lâm viện Thụy Điển công bố, ca từ thấm đẫm chất thơ là một thế mạnh của Bob Dylan.
Chính vì sự tương đồng và dị biệt như vậy mà khi cuốn Trịnh Công Sơn - Bob Dylan: như trăng và nguyệt? (NXB Trẻ 2012) của John C. Schafer phát hành đã tạo nên làn sóng trong giới nghiên cứu.
Khi Bob Dylan đoạt giải Nobel thì hệ quả kéo theo trên toàn thế giới là nhiều tác phẩm văn học của ông sẽ dịch và nghiên cứu, nhiều ca khúc của ông sẽ được hát lại. Việt Nam chắc chắn cũng vậy. Riêng về khía cạnh văn học, Bob Dylan có một tiểu thuyết rất quan trọng, tên là Tarantula - một thể nghiệm văn xuôi thơ. Nó được viết trong các năm 1965 và 1966, dùng thủ pháp dòng ý thức (stream of consciousness), một thủ pháp mà các bậc thầy như William Faulkner, Jack Kerouac, William S. Burroughs, Allen Ginsberg… cũng đã theo đuổi.
Chủ nhân giải Nobel Văn học 2016, Bob Dylan:
'Einstein của nền văn hóa đại chúng'
Bob Dylan là một nhà thơ, ca sĩ kiêm nhà soạn ca khúc, một nhân vật được sùng bái. Dịp Dylan tròn 75 tuổi, nhiều chuyên gia âm nhạc tự hỏi liệu có một người kế nhiệm nào thực sự 'tròn trịa' được như ông?
          Complete Annotated Lyrics (2014), Lyrics 1962-2001 (2004), The Definitive Bob Dylan Songbook (2001), Forever Young (2008)… xứng đáng để dịch và đọc độc lập như những tập thơ. Năm 2001, ông thành công với cuốn hồi ký Chronicles: Volume One; theo một nguồn tin khả tín, ông cũng đã ký hợp đồng in 6 cuốn sách với NXB Simon & Schustertungas - một mảnh đất màu mỡ cho dịch thuật.
Có điều ngạc nhiên, khi nhắc về Bob Dylan, ít khi người ta nhắc đến Tarantula; trong các văn bản đã công bố chính thức tại Việt Nam, tiểu thuyết này gần như chưa bao giờ được nhắc đến. Tiểu thuyết này tiền phong đến mức mà suốt nửa thế kỷ qua, tại Mỹ, người thích thì cứ điêu đứng, người không thích thì tha hồ dè bỉu. Nhưng từ đầu thế kỷ 21, sau các nghiên cứu và tái đánh giá lại vai trò quan trọng của nó, Tarantula đã được tái bản trong tiếng Anh, được dịch sang nhiều thứ tiếng như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Croatia, Czech.

3. Một kỷ niệm nhỏ của tôi với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
 Tháng 4 năm 1995, chúng tôi gồm có nhà thơ Nguyễn Duy, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và tôi về dự lễ Kỷ niệm 20 năm Ngày Giải phóng Xuân Lộc. Đến Long Khánh, tôi ghé mời nhà nhiếp nhà nhiếp ảnh Ngọc Sơn cùng đi. Cuối lễ, tôi gặp và hỏi ông Nguyễn Huệ, bây giờ đã là đại tá, phó Giám đốc Công an Đồng Nai – nguyên là người chỉ huy Đội T6 Trinh sát vũ trang Long Khánh năm xưa, người trực tiếp chỉ huy trận bắt tên thiếu úy tình báo Lê Thị Lụa, bí số IB0099, thường gọi là “Nhung gấu”. Anh Sáu Huệ cười hiền:
-Tên thật của “Nhung gấu” là Nguyễn Thị Thuận, sinh năm 1952, tại Bùi Chu, cha là pạc-ti-dăng của Pháp, chết trận. Lên 3 tuổi theo mẹ vào Nam. Bị lạc mẹ nên Thuận được đưa vào nuôi ở trại Tế bần Hố Nai. Năm 18 tuổi Thuận là một cô gái nổi tiếng về sắc đẹp và đã được tuyển vào đội Thiên nga của Quân lực Việt Nam cộng hòa. Nhung gấu bị bắt trong trận Suối Rết. Sau giải phóng được tha và hiện đang sống ở Long Khánh. Hình như đang mở quán cà-phê tại Gia Liêu?!
 “Nhung gấu” là nhân vật trong truyện ngắn Con thiên nga lạc loài của tôi (đã in sách).
Chúng tôi tìm đến một quán cà phê nhỏ gần K4 – trại giam của Công an Đồng Nai – hỏi thăm “Nhung gấu” nhưng không ai biết. May thay, có một vị khách đang ngồi trong quán nói: Tôi có biết một cô chủ quán cà phê ở gần chân cầu Gia Liêu, nghe đâu trước 75 cũng là sĩ quan Quân lực Cộng hòa, cô có tiếng hát rất hay được nhiều người mến mộ. Tên cô chủ quán là Kim Chi. Chúng tôi đến quán và được bà chủ đon đả mời vào. Khi mọi người yên vị, tôi nhìn trên vách có một cây đàn ghi-ta. Tôi hỏi: Ai chơi đàn? Bà chủ vừa pha cà phê vừa trả lời: Em đang tập chơi. Thời gian này, Nguyễn Duy đi thực tế ở Trại Phục hồi nhân phẩm về có bài thơ Cây đàn ghi-ta trên cọc gỗ. Khi cà phê đã bưng ra, tôi đề nghị bà chủ chơi đàn. Tôi nhắc hát bài Diễm xưa. Chủ quán vừa đàn lại vừa hát rất điệu nghệ. Nhìn sang phía Trịnh Công Sơn tôi thấy anh lấy kính cận ra và lau nước mắt. Ngọc Sơn cao hứng giới thiệu: Cô có biết ai đây không? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đó. Kim Chi buông đàn và ôm chầm lấy nhạc sĩ. Kim Chi khóc! Trịnh Công Sơn cầm lấy cây đàn và bảo Kim Chi cùng hát bài Huyền thoại Mẹ. Hai người hát rất say sưa. Lời bài hát đã đưa chúng tôi về những ngày máu lửa thời chống Mỹ. Tôi thấy Nguyễn Duy mắt cũng rơm rớm.
Tuy đã ở vào cái tuổi trên tứ tuần nhưng trông Thuận vẫn còn nhiều nét thanh xuân như ngày nào. Tôi hỏi nhỏ:
-         Bây giờ Nhung sống ra sao?
Thuận gạt đi có vẻ không bằng lòng gọi Thuận là Nhung:
-                          -  Chuyện cũ bỏ đi anh. Bây giờ em đã có cháu gọi bằng bà rồi đấy. Chồng em cũng là người Bùi Chu anh ạ! Chúng em có vườn rẫy ở Suối Rết. Khi nào tiện em mời các anh vào rẫy chơi.
           Bên bờ Phước Long Giang, sau ngày Giỗ lần thứ 17 của Trịnh, ngày 5/4/2018.
-                  
§  Nhà thơ Xuân Bảo

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2018

219. Bài thơ viết cách đây nủa thế kỷ




219. Bài thơ viết cách đây nửa thế kỷ.

1.CÒN ĐÓ CHÚT TÌNH BUỔI XẾ TÀ

Ngày này cách đây đúng 2 năm. Đó là 25/02/2016. Bích Hạnh từ HàNội vào Biên Hòa và ngày 31 Tháng 3 2016 tôi đã poste lên MXH bài viết này.

Ở cái tuổi 77 mà còn gắng sức để vượt hơn 1700 cây số từ Hà Nội vào Sài Gòn là một điều đáng quý. Có lẽ chuyến đi này của Bích Hạnh là chuyến đi “dối già” để thăm thú mảnh đất cuối trời phương Nam. Để gặp lại những bà con thân thích, bạn bè thuở thiếu thời và gặp lại “người tình trong mộng”.
Tôi đón Bích Hạnh và các cháu Nguyễn Thị Minh Lạng, Thúy Bắc vào một sáng mùa xuân mà “Thiều quang chín chục đã ngoài một phần hai”, tức là vào ngày 17 tháng hai Giáp Thân, nhằm ngày 25 thảng 3 năm 2016. Trong câu chuyện hàn huyên, chúng tôi nhắc đến nhiều kỷ niệm ch1 đây vế Hà Nội. Bích Hạnh còn nhớ và nhắc lại: chiều 22 tháng 2 năm 1976, trên sân ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội), Bích Hạnh và Huyền Anh ra tiễn gia đình chúng tôi vào Nam. Trong giờ phút lưu luyến này, tim tôi như thắt lại. Xa rồi 20 năm sống giữa lòng thủ đô yêu quý, biết mấy buồn vui, biết bao niềm thương va nỗi nhớ!
Như vậy, đến hôm nay là vừa tròn 40 năm, 1 tháng và 3 ngày (22-2-1976 – 25 -3-2016), chúng tôi xa Hà Nội đến với Trấn Biên (Biên Hòa). Cây xoài cát Lộc Hà trong sân nhà chúng tôi cũng đã xấp xỉ 39 tuổi. Bích Hạnh nhớ hồi cách đây gần 28 năm, cây xoài mới cao chỉ chừng quá tầm tay với, thế mà đã cho trái trĩu cành. Đó là năm mà Châu Âu vào mùa bóng Euro 1988. Năm đó tôi về Hà Nội và đã viết nên cái bút ký “Hà Nội cơn lốc Tháng Bảy”. (Xem toàn văn trên Blog: xuanbaohanoi.blogspot.com). Tôi làm mấy câu thơ để ghi lại sự kiện này.

Còn đó chút tình buổi xế tà
Vượt ngàn dặm ngái đến cùng ta.
Hoàng hôn tím đậm trời Biên Trấn
Vương vấn giọt buồn nỗi cách xa!
Xuân Bảo
(bên bờ Phước Long Giang, sáng 30 tháng 03 năm 2016).




2. BÀI THƠ VIẾT CÁCH ĐÂY NỬA THẾ KỶ.

Bài thơ này đã được in trong tập “Mấy nhành hoa tím”         Nhà Xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 1997.

Đã tám mùa xuân
                             Gửi Bích Hạnh

Biết em tám mùa xuân
Trọn tám mùa thương nhớ
Xa em tám mùa xuân
Tám mùa đào vẫn nở

Em lại tới cùng anh
Mưa buồn qua cửa
Nhựa vẫn chuyển cành xanh
Mà khối tình tan vỡ

Biết nói gì với em
Khi thuyền rời xa bến
Đây lời thơ tâm tình
Gửi em niềm thương mến

Hà Nội đã vào xuân
Xa em da diết nhớ
Nghe triều dậy lòng anh
Sóng triền miên vỗ vỗ.

                   Hà Nội, xuân 1968.
                                  Xuân Bảo

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 22 tháng 03 năm 2018

218. MỘT KỶ NIỆM VỚI ĐIỆN ẢNH VN


218.MỘT KỶ NIỆM NHỎ VỚI ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM.

Hồi ức của nhà thơ Xuân Bảo

Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 147/SL.

Ngày 15/3/1953, giữa Thủ đô Gió ngàn, tại khu Đồi Cọ, bản Bắc thuộc xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 147/SL đặt Phòng Điện nhiếp ảnh trong Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thành “Doanh nghiệp Quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam” - tiền thân của Điện ảnh cách mạng Việt Nam. Từ đó, ngành Điện ảnh Cách mạng Việt Nam chính thức ra đời và từng bước phát triển.
Trên hành trình bôn ba khắp năm Châu để tìm đường cứu nước, vào những năm hai mươi của thế kỷ XX, Bác Hồ đã được tiếp cận với nền điện ảnh thế giới. Bác đã hiểu rất sâu sắc vai trò và sự tác động mạnh mẽ, trực tiếp, sâu rộng và phổ cập của loại hình nghệ thuật điện ảnh. Bên cạnh tư duy mẫn tiệp, sự nhìn xa trông rộng của một nhà chiến lược văn hóa kiệt xuất, Bác còn là “bạn đồng nghiệp” rất thân thiết và gần gũi đối với các nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam ngay từ những bước đi chập chững đầu tiên.
Năm 1953, thời điểm này, cuộc “kháng chiến trường kỳ chống Pháp” của nhân dân ta vào giai đoạn quyết liệt nhất. Quân dân ta chuyển giai đoạn từ “phòng ngự” sang “tổng phản công”. Trên toàn chiến trường Đông Dương, tướng Henri Navarre co cụm lại và xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ. Nhưng rồi “kế hoạch Navarre” cũng tan thành mây khói!
 Nhân dân Liên Xô đặc biệt quan tâm và viện trợ vô điều kiện cho Việt Nam. Trong lĩnh vực điện ảnh Việt Nam được đón tiếp nhà đạo diễn và quay phim nổi tiếng Roman Lazarevich Karmen.
Đối với nền điện ảnh cách mạng Việt Nam non trẻ, R. L. Karmen như người thầy, người anh, người bạn lớn. Bộ phim "Việt Nam" của ông đã để l1 lợiại dấu ấn và những kinh nghiệm sâu sắc cho nền điện ảnh Việt Nam.Sau này đổi thành “Việt Nam trên đường thắng lợi”.Đây là bộ phim màu đầu tiên.
 Ngày 18-7-1955, đạo diễn Roman Karmen vinh dự được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.
Roman Karmen (1906 - 1978) là một trong những nhà làm phim tài liệu vĩ đại nhất thế kỷ XX. Cuộc đời nghệ thuật của ông rất đa dạng trong các vai trò: Đạo diễn, biên kịch, quay phim, nhà báo, nhà sư phạm điện ảnh. Những thước phim tư liệu mà Karmen để lại thật sự là những thiên anh hùng ca huyền thoại. Ông là người viết sử bằng máy quay.
Đạo diễn Roman Karmen cùng hai đồng sự Xôviết Evghenhi Mukhin và Vladimia Echurin được Nhà nước Liên Xô giao nhiệm vụ sang Việt Nam làm phim tài liệu vào những ngày cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ. Được sự chỉ dẫn của Bác Hồ, sự giúp đỡ tận tình của các đồng nghiệp và nhân dân Việt Nam, Karmen đã miệt mài lao động, hoàn thành xuất sắc bộ phim màu "Việt Nam" (1954) ghi lại những giây phút hào hùng nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và những năm tháng hòa bình đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam.
Tháng 10/1954, từ chiến khu Việt Bắc, Roman Karmen về Hà Nội để chứng kiến giờ phút bộ đội ta tiếp quản Thủ đô. Theo lời kể của ông Lưu Phúc Thái, sĩ quan liên lạc dẫn đường cho đạo diễn Roman Karmen ở Hà Nội, đoàn làm phim đi trên 3 chiếc xe Commăngca, xuất phát từ làng Vòng lúc 5h30 sáng ngày 9/10, tiến vào trung tâm thành phố. Đường phố Hà Nội vắng vẻ, chỉ có những người lính Pháp chuẩn bị cho cuộc ra đi vĩnh viễn... Chợt Karmen muốn được quay cảnh bối rối của lính Pháp trước giờ rút khỏi Hà Nội nên đoàn làm phim tiến vào khu Cột Cờ, điểm không có trong kịch bản. Đến 16h30 cùng ngày, khi những chiếc xe cuối cùng của quân Pháp rút qua cầu Long Biên, Karmen quay cảnh nhân dân Hà Nội đổ ra đường với ngập tràn cờ hoa. Người người rộn ràng theo đoàn quân giải phóng tiến về Bờ Hồ. Đoàn xe của Karmen đi đầu, ông đứng trên xe, hiên ngang giữa rừng cờ hoa. Nhân dân reo hò và vị đạo diễn đã hướng ống kính máy quay ghi lại những hình ảnh cảm động ấy.
Sau bộ phim "Việt Nam", Karmen còn viết 2 cuốn sách về những kỷ niệm ở Việt Nam "Ánh sáng trong rừng sâu" (1957) và "Việt Nam chiến đấu" (1958) với nhiều câu chuyện hay và cảm động. Ông cho biết, hình ảnh đoàn quân giải phóng tiến vào tiếp quản Thủ đô trong sự chào đón nồng nhiệt của đông đảo người dân Hà Nội là cảnh quay đẹp. Ông đã chuẩn bị cho những cảnh quay này rất kỹ với một niềm ưu ái và cảm hứng vô bờ. Karmen viết: "Bảy tháng ở Việt Nam, thời gian trôi nhanh đến mức không kịp nhận ra những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh đã qua, những ngày hòa bình đầu tiên đã đến. Trong tôi không thể nào phai mờ được những kỷ niệm về các cuộc gặp gỡ với nhân dân Việt Nam, những trẻ em, bộ đội, du kích, những bộ trưởng, thầy giáo, công nhân, nông dân… Lần đầu tiên trong đời, tôi đến đất nước và suốt đời tôi còn yêu mến nó".

Tôi thi vào Trường Điện ảnh đầu tiên.

                    Đầu năm 1958, tôi đang thực tập tại nhà Máy xay Đáp Cầu (Băc Ninh) thì nhận được Giấy báo dự tuyển vào Trường Điện ảnh Việt Nam, khóa đào tạo đạo diễn và diễn viên đầu tiên. Tôi xin được nghỉ phép năm và tức tốc về Hà Nội. Tôi về ở tại nhà ba me nuôi của tôi là ông bà Vũ Văn Thư tại 20 ngõ Yên Ninh (Ba Đình).
          Ngày hôm sau (tôi không nhớ rõ là ngày nào) tôi đến nơi khảo thí. Ngôi nhà này nằm trên đoạn đầu đường Trần Phú, gần đường xe lửa. Phía sau là ngôi biệt thự 24 Cột Cờ, nơi ở của 2 nhà thơ lớn Cù Huy Cận và Xuân Diệu.
           Xuân Diệu có câu thơ nhắc nhở thiên hạ: “Nhà tôi 24 Cột Cờ/Ai yêu thì đến hững hờ thì thôi’. Tại đây tôi có vinh dự được làm quen với “ông phán finance Mỹ Tho Ngô Xuân Diệu” * và được nhà thơ tặng 2 tập thơ vừa mới xuất bản. Đó là tập Một Khối Hồng và tập Riêng Chung.Thời gian này tôi cũng chập chững bước vào Làng Thơ. Có lần tôi rụt rè đưa bài thơ mới làm cho thi sĩ. Ông xem xong, vò nát vứt vào sọt giấy loại! Tôi không tự ái mà 2 năm sau, tôi lại tới “24 Cột Cờ” đưa cho ông xem bài thơ của tôi đăng trên Người Hà Nội. Lần này, khi xem xong, ông chỉ phán có hai từ “Được đấy”!
. Cùng lớp đi thi đầu tiên này tôi có quen biết với Huy Phương, Lâm Tới, Tuệ Minh, Ngọc Lan, Minh Châu, Thượng Soạn, Bích Được và rất nhiều người khác, tôi không biết hết. Người thầy chấm thi là nghệ sĩ Huân công Mônakhov của Liên Xô. Tôi thi đến vòng “tiểu phẩm” thì bị loại.
*Nhà thơ Xuân Diệu có thời làm công chức “tài chính, thường gọi là ông phán finance tỉnh Mỹ Tho”.





Tôi đi đóng phim truyện “Lối rẽ trái trên đường mòn”.

Năm 1985, sau 27 năm thi hỏng vào ngành điện ảnh thì đột nhiên tôi được nhà đạo diễn - nghệ sĩ nhân dân Huy Phương cất công từ Hà Nội vào mời tôi tham gia đóng phim “Lối rẽ trái trên đường mòn”.
Đây là bộ phim nói về đề chủ đề công nghiệp hóa. Kịch bản văn học của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn. Nguyễn Mạnh Tuấn trước đó đã có kịch bản phim Đứng trước biển, chuyển thể từ tiểu thuyết Cù lao Chàm của cùng tác giả. Trên bảng giới thiệu phim có đạo diễn Huy Thành, phó đạo diễn Nhật Ninh, quay phim Lê Đình Ấn, âm nhạc Hồng Đăng. Các vai chính: Lâm Tới. Kim Chi, Kim Thành. Các vai khác có Lê Cung Bắc, Xuân Bảo, Ngọc Bích…Tôi được giao vai Chánh Thanh tra Bộ (Công nghiệp Nặng). Thời lượng là 97 phút. Con gái thứ hai của tôi Nguyễn Thúy Ngọc được phân công đóng vai quần chúng - công nhân của nhà máy Luyện Cán thép. Bối cảnh và phim trường  được chọn là Nhà máy Luyện Cán thép Vicasa nằm trong Khu Công nghiệp Biên Hòa.
Hiện tại trên Trang Phim hay Điện ảnh có Phim Lối rẽ trái trên đường mòn dược xếp vào danh mục “Phim Việt Nam cũ hay nhất”.













Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2018

217. 10 bài thơ viết về chủ đề Nguyên tiêu




Mục lục 10 bài thơ mang chủ đề Nguyên tiêu cuả nhà thơ Xuân Bảo sáng tác.

1.    1 Sông khuya
2.     Trăng Giêng
3.     Khúc Nguyên tiêu
4.     Khấn Nguyên tiêu
5.     Ngày Thơ Việt Nam
6.     Thuyền neo sông Đáy
7.     Xuân Thơ
8.     Mở Ngày Hội Thơ
9.     Chào Ngày Hội Thơ
10. Đánh giặc và làm thơ

Bài 1. Sông khuya
Trên sông nơi ấy Bác làm thơ
Gió thoảng thuyền trôi bóng tỏ mờ
Vằng vặc rằm giêng soi sóng nước
Bồng bềnh tiên cảnh dệt đường tơ
Giữa trời man mác lồng xuân tứ
Dưới ánh nguyên tiêu lộng ý thơ
Người vịnh Đường thi bàn quốc sự
Trăng vàng bát ngát đẹp như mơ
Nhà thơ Xuân Bảo
Bên bờ Phước Long Giang sáng 29 Tết Mậu Tuất (14/2/2018)

Bài 2. Trăng giêng
Lồng lộng trăng soi khắp mọi miền
Qua rồi bão tố bến bình yên
Trời quang mây tạnh ngày xuân đẹp
Vang vọng thơ Người " Nguyệt chính viên"
Nhà thơ Xuân Bảo
Bên bờ Phước Long Giang sáng 30 Tết Mậu Tuât (15/2/2018)

Bài 3.  Khúc Nguyên tiêu*
Ngày xuân rạng rỡ ánh thiều quang
Một khúc Nguyên tiêu vọng núi ngàn
Việt sử oai hùng trang tự chủ
Giang sơn một cõi vững âu vàng
___*Ngày Thơ Việt Nam được chính thức công nhận kể từ Nguyên tiêu Quý Mùi 2003
Nhà thơ Xuân Bảo
Bên bờ Phước Long Giang.Trưa mùng 1 Tết Mậu Tuất (16/2/2018)

Bài 4. Khấn Nguyên tiêu
Xin dâng lên một nén hương trầm
Khấn nguyện Nguyên tiêu dạo khúc ngâm
Thơ Bác nghìn sau vang mãi
Non sông ngời ngợi ánh trăng rằm.
Nhà thơ Xuân Bảo
Bên bờ Phước Long Giang, sáng mùng 2 Tết Mậu Tuất (17/2/2018)
Bài 5. Thơ với Ngày Thơ
Trăng lên sóng dậy cuộn đôi bờ
Non nước tưng bừng rộn tiếng tơ
Ngọn bút thêu vần mừng Tổ quốc
Cung đàn dệt mộng đón Ngày Thơ
Nhà thơ Xuân Bảo
Bên bờ Phước Long Giang, sang ngày mùng 4 Tết Mậu Tuất – tức ngày 19/2/2018.



Bài 6. Thuyền neo sông Đáy
Đôi bờ sông Đáy rợp trời xuân
Rạng rỡ “rằm giêng” dát ánh vàng
Việc nước bàn mưu tiêu diệt giặc
Thuyền về bát ngát ngập tràn trăng
Nhà thơ Xuân Bảo
          Bên bờ Phước Long Giang, trưa ngày mùng 3 Tết Mậu Tuất –  tức ngày 18/2/2018

Bài 7. Xuân Thơ
Ta vẽ lên trời ngọn bút thần
Chữ Thơ rạng rỡ giữa ngày xuân
Nguyên tiêu vằng vặc trăng rằm tỏ
Hằng nga lưu luyến với thi nhân
Nhà thơ Xuân Bảo
Bên bờ Phước Long Giang, năm 2011.

Bài 8.  Mở hội Ngày Thơ
Triều dâng sóng dậy tỏa đôi bờ
Đất nước hồng tươi lộng sắc cờ
Tứ gấm hân hoan tràn bến mộng
Lời hoa thắm thiết khẳm thuyền mơ
Nguyên tiêu khởi sáng lung linh ngọc
Thơ Bác tiếp vần óng mượt tơ
Nam Bắc tưng bừng vào hội lớn
Xuân về dào dạt đón Ngày Thơ
Nhà thơ Xuân Bảo
Bên bờ Phước Long Giang, năm 2010.

Bài 9. Chào Ngày Hội Thơ
Văng vẳng đất trời dội khúc ngâm
Nguyên tiêu tỏa rạng ánh trăng rằm
Đài Nghiên mãi đọng câu văn hiến
Tháp Bút còn nguyên dấu nét thần
Văn Miếu cờ thơ soi ngấn nước
Ba Đình lời Bác vọng muôn năm
Hồn thiêng dân tộc đúc hào khí
Dào dạt nguồn thơ đượm ý xuân
Nhà thơ Xuân Bảo
Bên bờ Phước Long Giang, đêm mùng 5 Tết Mậu Tuất tức 20/2/2018.

Bài 10. Đánh giặc và làm thơ
Việt Nam đánh giặc, giỏi làm thơ
Hun đúc khí thiêng tự bao giờ
Đại cáo Bình Ngô hồn Nguyễn Trãi
Tuyên ngôn Độc lập chí Già Hồ
Thanh gươm trừ bạo ngời trang sử
Ngọn bút tài hoa đẹp tiếng tơ
Non nước yên bình tình rạng rỡ
Ngàn năm văn hiến bụi không mờ.

Bên bờ Phước Long Giang, ngày thứ hai - Ngày Thơ Việt Nam, Nguyên tiêu Mậu Tuất – 2018
                                                  Nhà thơ Xuân Bảo

216. Bác và Trăng (Tiểu luận)


                             BÁC VÀ TRĂNG
                                  Tiểu luận cuả nhà thơ Xuân Bảo.
Tự cổ chí kim, từ Âu sang Á, những nhà thơ không ngừng lấy cảm hứng từ “phong, hoa, tuyết, nguyệt”. Nguyệt- cái ánh sáng lung linh, huyền ảo, cao khiết giữa bầu trời đêm, giữa muôn vàn tinh tú của vũ trụ bao la thường đem lại nhiều cảm xúc cho nhà thơ.
Dù là ánh trăng non thượng huyền mỏng như lá lúa, mềm như liễu nhưng cũng đủ ngân lên:
“Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung…(1)”, hoặc trăng hạ huyền, ánh trăng sắp lặn  để cho mới đang đến dần thì vẫn cứ là đẹp:
“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,,,(2)”
Trong cuộc đời của mình, Bác Hồ của chúng ta có đến ba bài thơ nói về trăng. Nhưng không phải:
Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây…(3) mà là thể hiện yêu vẻ đẹp trời đất của một thi nhân. Trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, nhà thơ Hồ Chí Minh đã viết:
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đối thủ lương tiêu nại nhược hà
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khán thi gia
                                      (Vọng nguyệt)
Dịch thơ:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ
                                        (Ngắm trăng)
Trong hoàn cảnh ngặt nghèo của sự tù túng, Bác của chúng ta vẫn biểu lộ một phong thái sống ung dung, ngắm trăng trong tư thế chủ động. Trong tù, ngay cả tự do còn khó kiếm. Ở đây rõ ràng là không có rượu và không có hoa. Dĩ nhiên rồi, nhưng người thơ Hồ Chí Minh lại thấy trăng như một người bạn tâm giao. Thấy trăng ngoài kia, trăng trên cao kia sao Bác lại bối rối nhỉ? (nại nhược hà). Chính trong cơn bối rối đó Bác lại thấy không thể nào hững hờ với trăng cho được. Một tâm hồn thơ mộng quá đỗi!
          Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
          Chỉ có những tâm hồn cao đẹp mới dạt dào, tinh tế trước một ánh trăng như trăng đêm nay. Người đã vượt lên và quên đi cảnh “trong tù không rượu cũng không hoa” rồi. Thật là lãng mạn! Hồ Chí Minh ngắm trăng ngoài cửa sổ. Còn trăng thì “nguyệt tòng song khích” qua song cửa nhà tù để “khán thi gia”. Nguời đây là người tù, là Bác của chúng ta đang ngồi tù. Ý thơ chuyển vận thật là tài tình từ người tù sang nhà thơ. Duy chỉ có cái song cửa nhà tù là thực tại thô bạo, nhưng chúng cũng phải bất lực trước con người thơ Hồ Chí Minh. Ở đây không hề thấy bi lụy (trước cảnh tù) mà chỉ còn lại sự hòa quyện giữa trăng và thi nhân. Dù ở vào hoàn cảnh nào Hồ Chí Minh vẫn vững vàng trong tư thế chủ thể của một con người – con người cách mạng – không có sức mạnh huyền bí hay thực tế phũ phàng nào lay chuyển được ý chí của một nhà cách mạng thực thụ.
            Trên đây là bài thơ Bác viết lúc ngồi tù vào khoảng năm 1942 (trích Nhật ký trong tù) lúc nước nhà chưa giành được độc lập cho đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công và hơn một năm sau đó (ngày 19-12-1946) toàn dân ta lại đi vào cuộc trường kỳ chống bọn thực dân Pháp. Chúng muốn xâm chiếm nước ta một lần nữa. Bác của chúng lại phải xa Hà Nội để lên Việt Bắc thành lập một “thủ đô gió ngàn” giữa núi rừng, lãnh đạo kháng chiến. Bác đi chiến dịch Thu Đông 1947. Bác lặn lội qua suối, qua khe. Trên mình ngựa, Bác qua các nẻo đường Việt Bắc. Cuộc kháng chiến dù bận trăm công nghìn việc, ở cương vị là vị Thống soái của quân đội, Bác đã từng nói: “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn thì cũng phải giành cho được độc lập”.
                Thế mà, nhà thơ Hồ Chí Minh đã ngắm một cảnh khuya, cảm nhận được “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” và lại thấy trăng – người bạn tâm giao – trong tán cây cổ thụ, trong hoa rừng “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”.
          Trên cao xanh kia là nguyệt – ánh trăng bao trùm lên tất cả với vẻ đẹp thuần khiết trong cái đêm khuya thanh vắng đến nỗi cho ta nghe được tiếng suối trong. Tuy nhiên nhà thơ đã tự nhắc nhở mình rằng: cảnh có đẹp đấy nhưng không thể nào ngủ được. Ngoài tấm long lưu luyến với trăng, Người còn lo bao nỗi lo khác mà trong đó:
          Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
          Đúng vậy, như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
          Bác ngồi đó với cây chì đỏ
          Chỉ đường đi từng phút từng giờ
          Ở đây không có cảnh giặc Pháp nhảy dù Băc Kạn, không có cảnh từng đoàn tù binh nối dài của hai sư đoàn thiện chiến Lepage va Charton đầu hàng bộ đội Việt Minh, không có tiếng bom rền, đạn xé cuả chiến tranh nữa, chỉ còn lại “cảnh khuya như vẽ”.
Dù có đẹp đến mấy thì với cương vị là người đứng đầu Nhà nước, Bác phải lo toan, tính toán làm sao để đánh thắng quân thù. Đọc đến đây ta cảm nhận được một tư thế, một vóc dáng cuả nhà thơ thật vô cùng lớn lao, vô cùng vĩ đại. Đúng như câu:
Tiên thiên hạ chi ưu
           Hậu thiên hạ chi lạc
Một hồn thơ giản dị, một áng thơ mộc mạc và một tâm hồn nghệ sĩ đã rót vào bài thơ cái cốt cách vĩ đại mà chỉ có ở nhà thơ Hồ Chí Minh.
Thế mới biết nhà thơ Hồ Chí Minh, nhà quân sự lỗi lạc Hồ Chí Minh đã yêu trăng đến nhường nào. Bạn trăng cũng thường nũng nịu với thi nhân:
          Trăng vào cửa sổ đòi thơ
Và Bác đã khất:
           Việc quân đang bận xin chờ trăng ơi!
Chú  thích
(1)   Thơ Đường
(2)   Thơ Trương Kế
(3)   Thơ Sóng Hồng

       Bên bờ Phước Long Giang-những Ngày Thơ Việt Nam, Giêng Mậu Tuất 2018.
                                                                  Nhà thơ Xuân Bảo