Trang

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

192. Bài 4. Nhụy kiều tướng quân.

Bài 4. NHỤY KIỀU TƯỚNG QUÂN.

Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, quyển IV trang 131 ghi: “Mậu Thìn (248) (Hán Diên Hy năm thứ 11, Ngô Vĩnh An năm thứ 1). Người Cửu Chân lại nổi lên đánh hãm thành ấp, châu quận rối động. Ngô Vương cho Hành Dương đốc quân đô úy là Lục Dận (có sách chép là Lục Thương) làm thứ sử kiêm hiệu úy. Dận đến nơi, lấy ấn tín hiểu dụ, ra hàng phục hơn 3 vạn nhà, trong châu lại yên. Đến sau người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu Ẩu (Ẩu vú dài ba thước, vắt lên sau lưng, thường ngồi đầu voi đánh nhau với giặc) họp quân đánh cướp quận huyện. Dận dẹp yên được.
 Sách Giao chỉ chỉ chép: Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái em họ Triệu, vú dài 3 thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các huyện trong quận, thường mặc áo ngắn sắc vàng đi guốc gỗ, ngồi đầu voi đánh nhau, sau chết làm thần.
    Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, từ nhà Triệu 111 -TCN đến Ngô Quyền 939 CN có 6 cuộc khởi nghĩa lớn được chính sử ghi chép. Đó là Trưng Vương 40-43, Triệu Ẩu 248, nhà Lý Bí + Triệu Quang Phục + nhà Hậu Lý 541-602, Mai Hắc Đế 722, nhà Phùng Hưng 791-800, nhà Khúc Thừa Dụ + (Dương Đình Nghệ - Kiều Công Tiễn) 906-938. Trong đó có 2 cuộc khởi nghĩa là do phụ nữ lãnh đạo.
Trong mục “Dân ta phải biết sử ta”, bắt đầu từ Bài số 1, tôi đã nói đến cuộc Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Nay tôi cho đăng Bài số 4, nói về cuộc Khởi nghĩa của Bà Triệu Ẩu dưới tựa đề là Nhụy Kiều tướng quân.
Bài 4. Nhụy Kiều tướng quân.
  Thế kỷ thứ III đầu công nguyên, năm 248 Cửu Chân và Giao Chỉ lại nổi dậy chống quân Ngô. Bọn giặc Ngô ngô nghê này vẫn có chút lãng mạn, đặt tên cho người chống lại mình rất ư là văn nghệ: Nhụy kiều tướng quân, có nghĩa là vị nữ tướng yêu kiều. Còn một tên nữa văn hoa hơn, đó là Lệ Hải Bà Vương do nhân dân ta yêu mến Bà mà gọi. Lệ Hải Bà Vương có nghĩa là Vua Bà của vùng biển đẹp. Sự thực Bà Triệu chỉ làm một cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng, chứ chưa hề xưng vương. Cảm phục người nữ anh hùng xứ Quân Yên, miền Hậu Lộc (Thanh Hóa ). Nhà thơ Mai Lĩnh Sơn đã ca ngợi:

    Múa ngang ngọn giáo chống hùm dễ
    Đối mặt Vua Bà thật khó hung (1)
   “Lệ Hải” vung gươm vì nghĩa lớn
   “Nhụy kiều” đốc tượng thúc muôn quân
    Đạp bằng sóng dữ xua tan bão
    Chém nát kình ngư, lặng biển Đông
    Tỳ thiếp khom lưng nào chịu phận
     Trinh Nương đâu kém bậc anh hùng
                                                                   ( Hiên ngang Triệu Ẩu )
                  (1) Quân Ngô có câu: “Hoành qua đương hổ dị/Đối diện Bà Vương nan”.  Mai Lĩnh Sơn đã dịch ở 2 câu đầu bài thơ trên.
 
Bà Triệu (225-248) còn được gọi là Triệu Ẩu, Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Trinh, là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam. Bà Triệu sinh năm Bính Ngọ (226) tại miền núi Quân Yên (hay Quan Yên), quận Cửu Chân, nay thuộc làng Quan Yên (hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, Thanh Hóa. Bà là em gái hào trưởng Triệu Quốc Đạt. Bà là người phụ nữ có sức khỏe phi thường. Khi biết em gái mình có ý định khởi nghĩa, người anh cho rằng phận gái khó có thể đảm đương nổi và đã can ngăn. Bà khẳng khái trả lời:” Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách đô hộ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta”.
Sử thần Ngô Sĩ Liên đã viết:
Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới.
Sử nhà Nguyễn ở thế kỷ 19 cũng đã chép:
Con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường. Bà Triệu Ẩu thật xứng đáng là người sánh vai được với Hai Bà Trưng. Xem thế thì há có phải chỉ Trung Quốc mới có đàn bà danh tiếng như chuyện Thành Phu Nhân và Nương Tử Quân mà Bắc sử đã chép đâu.
Năm 226, Sĩ Nhiếp mất, vua Đông Ngô là Tôn Quyền bèn chia đất từ Hợp Phố về Bắc thuộc Quảng Châu dùng Lữ Đại làm thứ sử; từ Hợp Phố về Nam là Giao Châu, sai Đại Lương làm thái thú, và sai Trần Thì làm thái thú quận Giao Chỉ. Lúc bấy giờ, con của Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy tự nối ngôi và xưng là thái thú, liền đem binh chống lại..
Thứ sử Lữ Đại bèn xua quân sang đánh dẹp. Do nghe lời chiêu dụ, Sỹ Huy cùng năm anh em ra hàng. Lữ Đại giết chết Huy, còn mấy anh em thì đem về đất Ngô làm tội. Dư đảng của Sỹ Huy tiếp tục chống lại, khiến Lữ Đại mang quân vào Cửu Chân giết hại một lúc hàng vạn người.
Thực vậy, Bà đã dấy quân tụ nghĩa ở vùng núi Tùng Sơn, một thung lũng nhỏ nằm giữa hai dãy núi đá vôi, gần biển và là cửa ngõ phía bắc vào Thanh Hóa. Căn cứ Bà lập ra có vị trí quân sự hiểm yếu, thuận lợi cả hai mặt công và thủ. Bà cho quân dựng 7 đồn lũy ở núi Chung Chinh. Quân lính của Bà đã chiến đấu hơn 30 trận với giặc Ngô. Dân chúng Cửu Chân hưởng ứng khởi nghĩa, theo Bà rất đông. Cuộc khởi nghĩa lan ra nhiều nơi, cả ở Giao Chỉ. Các thành ấp của quân Ngô đều bị triệt hạ. Thứ sử Giao Châu bỏ chạy mất tích. Trước tình hình đó, triều Ngô cử tướng Lục Dận sang làm thứ sử Giao Châu, đem theo gần một vạn quân sang để đàn áp cuộc khởi nghĩa.
 Trong Đại Nam quốc sử diễn ca Lê Ngô Cát có viết:
       “…Cửu Chân có ả Triệu Kiều
Vú dài ba thước tài cao muôn người
Gặp cơn thảo muội cơ trời
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang
Đầu voi phất ngọn cờ vàng
 Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha…”

   Truyền thuyết kể rằng: Nghĩa quân của Bà kiên cường chiến đấu đến cùng. Về sau có kẻ phản bội mách với Lục Dận rằng; Bà rất sợ cái dơ bẩn, yêu cái trong sạch (ái khiết úy ố). Quân Ngô liền trần truồng tiến đánh làm Bà hổ thẹn, giao binh quyền cho 3 tướng họ Lý rồi lên Núi Tùng tự vẫn. Lúc bấy giờ Bà mới 23 tuổi. Hiện trên Núi Tùng có mộ Bà Triệu và dưới chân Núi Tùng có đền thờ chính Triệu Trinh Nương.

Ngày nay, sau gần 2000 năm, trong dân gian vẫn còn truyền tụng những câu ca:
Có Bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót Bà vương…
Lại có câu ru con:
“Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng…”

          Như vậy, đúng hai trăm năm sau khởi nghĩa Mê Linh, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu nối chí Hai Bà Trưng quyết” giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ” đã chứng minh một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta : Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.
           Hình ảnh Bà Triệu – người con gái kiên trinh, bất khuất của nước Nam muôn thuở không phai mờ trong tâm trí phụ nữ và dân tộc Việt Nam !

Bên bờ Phước Long Giang, ngày 16/5/2017.

Nhà thơ Xuân Bảo.

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

191. Bài 3- Nữ tướng Lê Chân

191.Bài 3. Nữ tướng Lê Chân.

Bà Lê Chân quê ở làng An Biên (tên cổ là làng Vẻn), Đông Triều, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay thuộc thôn An Biên, xã Thủy An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Cha bà là ông Lê Đạo làm nghề thầy thuốc, tính nhân từ, hay giúp đỡ người nghèo khó. Vợ ông là Trần Thị Châu cũng là người thuần hậu. Hiềm nỗi, ông bà tuổi đã cao mà chưa có con. Nghe tiếng ngôi chùa ở núi Yên Tử rất linh ứng, ông bà tìm đến cầu tự. Quả nhiên, bà Châu có mang, ngày mồng 8 tháng 2 năm Canh Thìn (20 CN) bà sinh con gái khôi ngô, bụ bẫm. Ông bà đặt tên con là Chân. Năm Lê Chân 18 tuổi, sắc đẹp và đức hạnh của nàng nổi tiếng khắp vùng.
`Bà là người có nhan sắc, giỏi võ nghệ lại có tài thơ phú nên tiếng đồn đến tai thái thú nhà Hán là Tô Định. Tô Định toan lấy bà làm thiếp nhưng bị cha mẹ bà cự tuyệt, chính vì thế họ đã bị sát hại. Lê Chân phải bỏ quê theo đường sông xuôi xuống phía Nam, đến vùng An Dương, cửa sông Cấm, thấy địa hình, đất đai thuận lợi bà dừng lại lập trại khai phá. Lê Chân phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm và đánh bắt thủy hải sản tạo nên một vùng đất trù phú. Nhớ cội nguồn, bà đặt tên vùng này là An Biên trang. Ở đây, bà chiêu mộ trai tráng để luyện binh và được sự ủng hộ của nhân dân quanh vùng. Binh sĩ của Lê Chân được huấn luyện chu đáo và có sở trường về thủy trận.
Lê Chân tìm thày học binh thư, võ nghệ, kết giao với những người cùng chí hướng. Khi võ nghệ đã tinh thông, nàng cùng bạn bè tâm phúc sang đất An Dương (Hải Phòng ngày nay), lúc ấy là một vùng đất bãi phù sa mới bồi. Nàng chiêu dân tứ xứ khai khẩn đất hoang, lập nên xóm ấp, chiêu tập binh mã, sắm sanh vũ khí, tích trữ lương thảo sẵn sàng khởi nghĩa.

                                                ***
Nghe tin ở xứ Đoài, Hai Bà Trưng cũng đang mưu nghiệp lớn, Lê Chân chẳng ngại đường sá cách trở tìm đến đất Mê Linh. Bà Trưng Trắc phong Lê Chân làm tướng được cùng bàn luận kế sách khởi nghĩa rồi phái nàng trở lại quê nhà, chiêu tập thêm binh sĩ, chuẩn bị sẵn lương thảo, chờ thời cơ hành động.
Năm 40, khi Hai Bà Trưng dấy binh, bà đem theo binh lính gia nhập quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Trong các trận đánh, bà thường được cử làm nữ tướng quân tiên phong, lập nhiều chiến công. . Đạo quân của Lê Chân từ mạn biển xứ Đông đánh thốc lên Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) lỵ sở quận Giao Chỉ, nơi có bộ máy thống trị của bè lũ Tô Định, phối hợp với quân của Hai Bà Trưng và các thủ lĩnh nghĩa quân khác, giải phóng quận thành. Tô Định vội vã tháo chạy về đất Nam Hải xin quân cứu viện.
 Sau khi thu phục 65 thành, bà được Trưng Vương phong là Thánh Chân công chúa, giữ chức Chưởng quản binh quyền nội bộ, đứng ra tổ chức, luyện tập quân sĩ, tăng gia sản xuất

Với khí thế tiến công như vũ bão, chỉ trong 2 tháng, nghĩa quân đã chiếm được 65 thành trì, đập tan ách thống trị của nhà Đông Hán. Đất nước sạch bóng quân thù, bà Trưng Trắc được tướng sĩ, nghĩa quân tôn làm vua (Trưng Vương). Trưng Vương xét công lao ban thưởng tướng sĩ. Lê Chân khi ấy 24 tuổi, được phong là Thánh Chân công chúa, ban chức Chưởng quản binh quyền coi giữ vùng hải tần (duyên hải Đông Bắc).
Nữ tướng Lê Chân đem quân trở về vùng đất An Dương khi trước, mở thêm trại, ấp lập ra trang An Biên (lấy tên quê gốc). Bà dùng nhân công khai khẩn đất hoang dọc ven sông Tam Bạc thành đồng ruộng cấy lúa, trồng dâu xanh tốt. Chỉ trong thời gian ngắn,An Biên trang dân cư đã đông đúc, kinh tế phát triển, nhiều nhà dân giàu có. Bà Lê Chân thường xuyên cho luyện tập trận thế, mở những lớp  đấu vật, đài thi võ để nâng cao sức khỏe, khả năng chiến đấu của binh sĩ, dân chúng.
Trong thời gian bà Trưng Trắc làm vua, nhà Đông Hán phải lo đối phó với biến loạn lớn trong nước, nên không thể phát quân xâm lược nước Âu Lạc. Song triều đình Hán đã sửa soạn kỹ cho cuộc đàn áp.
 Mùa hạ, tháng 4 năm Kiến Vũ thứ 18 (42), vua Quang Vũ phong lão tướng 58 tuổi Mã Viện làm Phục Ba Tướng quân thống suất quân sĩ sang xâm lược nước ta.
Mã Viện chỉ huy cả hai đạo quân, chia hai đường thủy bộ, vừa dùng thuyền vượt biển, vừa đi đường ven chân núi phát cây mở đường hơn nghìn dặm; hai cánh quân thủy, bộ không cách xa nhau lắm để còn liên hệ phối hợp với nhau. Từ vùng ven biển vịnh Bái Tử Long, Hạ Long, hai đạo quân thủy, bộ Đông Hán tiến đến cửa sông Bạch Đằng (Quảng Ninh - Hải Phòng) để vào nội địa nước ta.
Đội quân thường trực phòng thủ ven biển Đông Bắc do Chưởng quản binh quyền Lê Chân chỉ huy đã ra quân kịp thời chặn đánh quyết liệt đoàn thuyền binh đông đảo của giặc ngay từ cửa sông Bạch Đằng. Theo lệnh của Trưng Vương trên bộ nữ tướng Thánh Thiện đem quân lên đánh giặc ở biên giới; nữ tướng Bát Nàn chặn cánh quân trên bộ của Mã Viện ở cửa biển, phối hợp với nữ tướng Lê Chân.
Suốt dọc sông Bạch Đằng, Đá Bạc, dưới nước và trên bờ hai đạo quân, đa số là phụ nữ chiến đấu quyết liệt. Lê Chân cho dựng chướng ngại vật trên sông, dùng những chiếc thuyền chiến nhỏ, nhẹ, dễ cơ động tập kích vào mạn sườn đoàn thuyền to lớn, nặng nề của giặc, làm chúng tổn thất không ít. Song do quá chênh lệch về lực lượng, trang bị, vũ khí so với địch, nên hai nữ tướng phải lui quân.
Đội thuyền binh của Lê Chân nhỏ nhẹ, ngược sông Bạch Đằng tiến rất nhanh, còn binh thuyền của Mã Viện to lớn, nặng nề nên đuổi theo rất chậm. Chẳng mấy chốc quân ta đã bỏ xa quân địch. Theo đường sông Bạch Đằng - Kinh Thầy - sông Đuống, thủy quân của Lê Chân tập kết về vùng hồ Tây, Hoàng Mai bên bờ hữu sông Hồng. Trong thời gian ngắn trú quân ở đây, nữ tướng Lê Chân gấp rút củng cố lực lượng, tuyển thêm binh sĩ, đóng thêm thuyền chiến. Bà cho binh sĩ luyện tập võ nghệ, mở lò đấu vật. Mọi việc đã xong, nữ tướng Lê Chân gấp rút hành quân về bảo vệ kinh đô Mê Linh.
Chờ đợi không thấy quân Mã Viện tấn công, Hai Bà Trưng đã chủ động tiến quân từ Mê Linh, qua Cổ Loa (Tây Vu), xuống Lãng Bạc đánh quân xâm lược đang đóng tại đây. Quân ta chiến đấu ngoan cường, đội quân tiên phong do nữ tướng Lê Chân chỉ huy tả xung, hữu đột. Bị cầm chân nhiều ngày, quân tướng địch đã có phần nao núng. Quân Hai Bà Trưng trang bị thiếu, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, chưa quen đánh kiểu trận địa nên bị thiệt hại nặng, Hai Bà Trưng, nữ tướng Lê Chân và một số tướng lĩnh phải chuyển sang hữu ngạn sông Hồng, rồi lùi về căn cứ Cấm Khê (Kim Khê) - thung lũng suối Vàng ở chân dãy núi Ba Vì (Hà Nội). Đây là vùng núi rừng hiểm trở, ba mặt có sông lớn (sông Đà, sông Hồng, sông Đáy) ở thế thiên hiểm, tốt cho việc phòng ngự.
Quân thù kéo tới vây hãm, mở nhiều đợt tấn công. Quân ta kháng cự quyết liệt nhưng dần vào thế bất lợi. Mở đường máu Hai Bà Trưng và các nữ tướng Lê Chân, nàng Tía, lão tướng Đô Dương đem lực lượng còn lại rút theo hai đường thủy, bộ. Đường thủy theo sông Tích ra sông Đáy. Để bảo toàn khí tiết, Hai Bà Trưng gieo mình xuống sông tự tận. Nữ tướng Lê Chân tiếp tục cùng thủy binh xuôi về nam đồng bằng sông Hồng. Đạo quân của Đô Dương, nàng Tía rút theo đường thượng đạo đi len lỏi dưới chân dãy núi đá vôi 99 ngọn từ Ba Vì, Hòa Bình vào đất hai huyện Kim Bảng, Thanh Liêm (gọi là dãy Nam Công) rồi qua Ninh Bình vào Cửu Chân (Thanh Hóa).
Sông Đáy - chi lưu bên hữu ngạn sông Hồng, bắt nguồn ở xã Vân Nam (Phúc Thọ, Hà Nội) chảy qua vùng đồng bằng vào đất Hà Nam thì gặp núi ở thôn Vĩnh Sơn (xã Tân Sơn - Kim Bảng) ở cả hai bờ. Sông tiếp tục uốn khúc qua hai xã Khả Phong, Thi Sơn với những khối núi, quả núi độc lập nằm bên hữu ngạn, đến địa phận xã Liên Sơn, Thanh Sơn núi kết thành dải, trùng điệp, cây mọc thành rừng. Từ địa phận thôn Đồng Sơn hiện nay (xã Liên Sơn) cũng bên hữu ngạn sông Đáy, sông Ngân nhận nước sông mẹ, chảy ngoằn ngoèo ven dãy núi qua các thôn Bút Sơn, Lạt Sơn (Thanh Sơn, Kim Bảng), Tân Lâm, Nam Sơn (thị trấn Kiện Khê) rồi đổ nước vào sông Đáy ở địa phận thôn Đò (xã Thanh Thủy) huyện Thanh Liêm.
Nữ tướng Lê Chân đã chọn vùng rừng núi hiểm trở Lạt Sơn để làm căn cứ phòng thủ chặn quân Đông Hán, để một bộ phận nghĩa quân của nàng Tía, lão tướng Đô Dương tiếp tục rút về Cửu Chân (Thanh Hóa) vì tuyến đường thượng đạo từ Ba Vì cũng qua đây. Căn cứ Lạt Sơn lưng tựa vào dãy núi hình cánh cung ở phía Tây chạy từ Bắc xuống Nam; trước mặt, phía Đông là sông Đáy, sông Ngân như hai hào nước. Địa hình căn cứ tiến có thể đánh, lui có thể giữ, đầu cuối hô ứng lẫn nhau. Trận địa phòng thủ được xây dựng ở các thung lũng trước núi, ở các hang động và các đồi đất lẫn đá kéo dài khoảng 7 km từ Bắc xuống Nam. Các tên thung, núi đồi và ký ức dân gian, mặc dù đã trải qua gần 2.000 năm vẫn giúp đời sau hình dung được những nét cơ bản về căn cứ và những trận đánh cuối cùng của bà Lê Chân.
Đầu căn cứ ở phía Bắc, đặt tiền đồn ở thung Mộc Bài, nơi đây bố trí đội quân tiên phong chặn mũi tiến công đầu tiên của quân thù... phía sau Mộc Bài là đồi Dốc voi Trượt nơi bố trí đội tượng binh. Tiếp xuống phía Nam, lần lượt là thung Hóc Bạc có kho lương thực, hậu cần; thung Bể, thung Dâu nơi đóng đại quân. Hang Diêm trên sườn núi phía Nam thung Bể là nơi đặt tổng hành dinh. Phía Tây thung Dâu là núi Thượi cao khoảng 225 m đặt vọng gác, quan sát được toàn bộ căn cứ. Gần núi Thượi có đồi Điểm quân, có lẽ là địa điểm tập hợp kiểm đếm số lượng binh sĩ. Sau thung Dâu là hai thung Đội Nhất, Đội Nhì nơi trú đóng của hai đội quân. Đồi Ông Tượng, điểm cuối căn cứ cách không xa sông Ngân về phía Tây. Cách vị trí đền bà Lê Chân hiện nay khoảng 3 km là thung Trống, nhân dân địa phương giải thích là nơi có lầu trống dùng để đánh cầm canh và hiệu lệnh chiến đấu. Một số địa danh trong khu căn cứ như đồi Dớn, non Tiên, thung Thùng Chạ, đặc biệt hồ Trứng rộng hàng mấy chục mẫu.
Cùng với xây dựng căn cứ, nữ tướng Lê Chân gấp rút chiêu mộ thêm binh sĩ chủ yếu là người Lạt Sơn và các vùng lân cận, lập nhiều cơ đội. Đạo quân của Đô Dương đã bổ sung một bộ phận binh sĩ, trong đó có nhiều người họ Dương cho căn cứ Lạt Sơn.
Căn cứ còn chưa vững chắc, Mã Viện đã đưa quân đến vây hãm, mở nhiều trận tấn công. Nữ tướng Lê Chân tổ chức kháng cự cả trong các thung và trên sông Ngân. Các trận đánh ác liệt diễn ra, quân ta chiến đấu kiên cường. Biết không đủ lực lượng đánh bại quân thù, hơn nữa lão tướng Đô Dương, nàng Tía đã rút lui an toàn, Bà cho binh sĩ bí mật rút khỏi căn cứ để mưu kháng chiến lâu dài, còn Bà và số ít tướng lĩnh, một bộ phận quân sĩ ở lại tử thủ. Quân giặc nhanh chóng phá vỡ tiền đồn Mộc Bài, tràn vào thung Hiên, thung Bể, dồn nghĩa quân về Đồng Gơ. Trận huyết chiến ác liệt cuối cùng diễn ra ở Đồng Loạn, nữ tướng Lê Chân cùng mấy tướng tâm phúc rút lên núi Giát Dâu. Từ đỉnh núi cao, sườn dốc đứng, nữ tướng Lê Chân gieo mình tự vẫn để khỏi phải sa vào tay giặc, Hiện nay trên núi này có đền bà Lê Chân cách khoảng 3 km về phía Tây). Thời khắc ấy vào buổi chiều ngày 13 tháng 7 năm Quí Mão. Mấy tướng tâm phúc đã mai táng Bà ở một hang động trong căn cứ.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng in đậm dấu son trong sử sách, trong ký ức dân gian qua nhiều thế hệ. Các nữ tướng, nam thần của cuộc khởi nghĩa đều có đền thờ, được nhân dân đời đời khói hương tưởng kính. Nữ tướng, Thánh Chân công chúa, Chưởng quản binh quyền Lê Chân được nhiều địa phương thờ phụng. Đó là: Đền An Biên (xã Thủy An, Đông Triều, Quảng Ninh) quê hương nữ tướng; đền Nghè (An Biên cổ miếu), đình An Biên (phường An Biên), đình Vẻn ngoài (phường Trại Cau) quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là nơi Bà khai hoang, lập nên trang ấp, xây dựng lực lượng và chặn đánh cuộc xâm lược của Mã Viện; đình Hoàng Mai (phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội) nơi bà lập sới vật để rèn luyện quân sĩ. Đặc biệt tại căn cứ Lạt Sơn xưa, từ bao đời nay nhân dân địa phương, khách thập phương xa gần tụ về chiêm bái, đông nhất vào kỳ lễ hội, ngôi đền thờ Bà Lê Chân, tưởng niệm vị nữ tướng anh hùng dành trọn cuộc đời mình vì nghĩa lớn. Cũng nơi đây trên vách đá thung Bể còn lưu lại ba tấm bia niên đại năm 1671, 1672 triều vua Lê Gia Tông thời Hậu Lê, nói đến việc xây chùa Thánh Chân, khởi nguồn là Tiên động Thánh Chân, một bia có khắc hình con hổ, gợi liên tưởng đến sự dũng mãnh như hổ của nữ tướng Lê Chân, điệp thêm sự tôn kính, nâng Bà lên hàng Thánh Mẫu, Phật Mẫu.
Không chỉ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Hà Nam mà cả nước đều tôn vinh, tưởng niệm nữ tướng Lê Chân, bởi vì bà đã để lại cho hậu thế muôn đời tấm gương chói lọi vì nước, vì dân..
 Trong lịch sử đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, phụ nữ Việt Nam luôn sát cánh cùng nam giới, làm nên những chiến công bất hủ. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ, phụ nữ đóng vai trò then chốt cả về chỉ huy và chiến đấu. Bà Lê Chân là vị nữ tướng xuất sắc, công lao, chiến tích của bà lưu dấu ấn sâu đậm ở nhiều địa phương
.Trong các lễ hội, ngày 8 tháng 2 âm lịch là ngày sinh và 25 tháng 12 âm lịch là ngày mất của Lê Chân. Các vua đời sau cũng có chiếu phong bà là Thượng đẳng phúc thần công chúa.
Để nhớ công ơn khai khẩn của Bà, Hải Phòng đặt tên một quận mang tên Bà và dựng tượng Bà tại gần trung tâm thành phố; đồng thời, tên của bà được đặt tên cho giải thưởng "Nữ tướng Lê Chân" để trao cho những phụ nữ có thành tích xuất sắc của đất Cảng.
Lê Chân là nữ tướng của Hai Bà Trưng. Bà được coi là người có công khai khẩn lập nên vùng đất đời sau phát triển thành thành phố Hải Phòng ngày nay.

                             Bên bờ Phước Long Giang, ngày 10/5/2017



                                                  Nhà thơ Xuân Bảo                                                                                           

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

190, Thân mẫu Trưng nữ vương, Bà Man Thiện...

Bài 2. Thân mẫu của Trưng Nữ Vương -Bà Man Thiện – Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Bà tên là Man Thiện, cũng có tên là Trần Thị Đoan, quê làng Nam Nguyễn, nay là Thịnh Thôn, thuộc xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội.
Truyền thuyết kể rằng, bà Man Thiện là cháu chắt bên ngoại Hùng Vương. Lúc sinh thời, bà là người con gái có tài sắc nhất vùng, khó ai sánh kịp, lại có tài ứng biến, võ nghệ tinh thông chẳng kém gì đàn ông. Lớn lên, bà lấy ông Hùng Định, sau đổi là Trưng Định, có nơi chép là Trưng Nghĩa Dũng, Lạc tướng đất Mê Linh (miền Sơn Tây cũ và Vĩnh Phú ngày nay), thuộc dòng dõi Hùng Vương. Lạc tướng là người rất khảng khái và có tinh thần yêu nước nồng nàn, uy tín lan rộng khắp vùng, ai ai cũng kính phục. Bà sinh được một con trai khôi ngô tuấn tú, nhưng không may mất sớm. Vào ngày 1 tháng 8 năm Giáp Tuất (tức năm 14 công lịch), bà sinh đôi hai con gái, đặt tên chị là Trưng Trắc, em là Trưng Nhị.
Được ít năm sau, Hùng Định mất, bà Man Thiện một mình phải lo toan mọi việc cày cấy, tầm tang, nuôi dạy và hết lòng chăm sóc đến tương lai hạnh phúc của các con. Bà đã đi mời ông Đỗ Năng Tế, người thôn Mỹ Giang, xã Tam Hiệp (nay thuộc huyện Quốc Oai) về làm gia thần để giúp đỡ việc dạy bảo và huấn luyện võ nghệ cho hai chị em Trưng nữ, mong muốn hai còn trở thành những người anh hùng xuất thế, có thể làm rạng rỡ tổ tiên và non sông gấm vóc.
Năm Trưng Trắc 19 tuổi, bà cho lấy Dương Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (nay là miền Hà Đông cũ và Nam Hà, dọc theo sông Đáy), cũng là một người yêu nước và có chí khí quật cường, khắp nơi trong vùng ai cũng biết tiếng.
Giữa lúc nhân dân trong vùng và hai gia đình Lạc tướng đang cùng nhau giúp đỡ con cái trong sự nghiệp cứu nước, đuổi đánh Tô Định - một tên thái thú vô cùng tàn bạo - để giành lại độc lập, tự do cho đất nước, thì Thi Sách bị Tô Định giết chết. Hành vi bạo ngược của Tô Định không những không làm cho Trưng Trắc sờn lòng, trái lại càng làm cho họ Trưng thêm quyết tâm tiến hành gấp rút cuộc khởi nghĩa để mau chóng đánh đổ chính quyền đô hộ của nhà Đông Hán, khôi phục nền độc lập, đền nợ nước, trả thù nhà.
Trước những hành động cương quyết và chí phục thù của con gái, bà Man Thiện lại càng hết lòng tin tưởng và ráo riết ủng hộ sự nghiệp cứu nước của con mình. Dựa vào lòng kính yêu và tưởng nhớ tới tổ Hùng Vương của nhân dân và uy tín của Lạc tướng Mê Linh, bà đã đi khắp mọi nơi từ vùng núi Ba Vì, Hưng Hoá, Tam Đảo, Tiên Du, đến vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng v.v.. giao thiệp với nhiều quan lang, phụ đạo và thủ lĩnh để chiêu mộ anh hùng hào kiệt bốn phương và tuyển mộ quân lính. Mặt khác, bà ra sức đẩy mạnh việc cày cấy, tích luỹ lương thảo, bí mật luyện tập binh mã chờ ngày khởi sự. Nhiều anh hùng hào kiệt ở các vùng Phúc Lộc, Ma Nghĩa, Quốc Oai, Thạch Thất (Hà Tây ngày nay), Bạch Hạc, Vĩnh Tường, Yên Lãng (Vĩnh Phú ngày nay) v.v... đều nhất tề về theo.
Mùa xuân năm 40, bà Man Thiện cùng với hai con gái kéo quân về cửa sông Hát (thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ ngày nay) lập đàn thề, truyền lệnh khởi nghĩa.
Đàn thề uy nghi, khí thế lẫm liệt “Tiếng chiêng trống vang đến mười dặm” như trong ngọc phả đã chép.
Quân của hai Bà Trưng rầm rộ tiến đánh thành Liên Lâu (Thuận Thành – Hà Bắc ngày nay), là thủ phủ của chính quyền Đông Hán ở quận Giao Chỉ. Hai Bà đi đến đâu đều được nhân dân mang lương thực ra ủng hộ. Thế quân mạnh khiến cho quân Tô Định phải bỏ chạy về phương Bắc. Tàn quân còn lại đều phải quy hàng. Hai Bà đã nhanh chóng thu phục được 5 huyện, thành (toàn bộ lãnh thổ nước ta hồi đó). Nền độc lập dân tộc được phục hồi. Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh (thuộc Hà Nội ngày nay), phong cho Trưng Nhị là Bình Khôi công chúa và suy tôn mẹ là Hoàng hậu (đóng quân tại Nam Nguyễn), mở tiệc khao quân, luận công ban thưởng các tướng sĩ.
Đất nước được độc lập vừa 3 năm. Tháng 4 năm 43, vua Quang Vũ nhà Hán sai Mã Viện đem 2 vạn quân cùng 2 nghìn thuyền xe ồ ạt tiến vào miền Lãng Bạc (có thể là vùng Tiên Sơn, Hà Bắc ngày nay) để xâm lược nước ta lần nữa.
Trưng Vương cùng các tướng lĩnh từ đất Mê Linh xuất quân chống cự. Mặc dầu quân ta đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, song vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch, nên quân của hai Bà bị thua. Biết không thể thắng nổi địch, hai Bà bèn rút quân qua vùng sông Đáy về đất Cẩm Khê, (nay là xóm Trại Vàng thuộc xã Hoà Thạch, huyện Quốc Oai) là một vùng rừng núi trùng điệp, địa hình hiểm trở và dựa vào hậu cứ ở núi Vua Bà làm kế trường cửu. Nhưng hai Bà chưa kịp đóng quân thì Mã Viện đã đuổi kịp và vây kín tứ phía. Trước sức mạnh hùng hổ của quân địch, hai Bà thấy không sao thắng nổi, hơn nữa không có quân tiếp viện, nên phải dựa vào núi Hi Sơn mà quyết chiến. Nhưng vì thế cùng lực kiệt, hai Bà bị vây hãm và hy sinh anh dũng tại trận.
Trong khi đó, Man Hoàng hậu đóng quân tại đồn Nam Nguyễn. Được tin hai con bị vây hãm, bà hết sức căm phẫn, bèn thu thập quân sĩ trong các huyện Phúc Lộc (Phúc Thọ), Bạch Hạc v.v... cùng với đoàn thuyền chiến ngược dòng sông Hồng, tiến qua sông Đà, qua vùng chân núi Ba Vì, vòng về núi Hi Sơn (Vua Bà) để giải vây cho hai con. Nhưng bà mới đi được nửa đường thì quân Hán đã đuổi kịp và đánh gấp. Trước cảnh người mệt, ngựa mỏi, Man Hoàng hậu biết mình không sao có thể thoát khỏi tay giặc, bèn lên ngựa tả xung hữu đột, phá vòng vây của địch suốt nửa ngày trời. Cuối cùng, Man Hoàng hậu bèn gieo mình xuống sông tuẫn tiết để khỏi sa vào tay giặc. Hôm ấy là ngày mồng 10 tháng chạp. Xác bà trôi về đến bến Nam Nguyễn, diện mạo vẫn hồng hào như khi còn sống. Nhân dân và quân sĩ trông thấy vô cùng thương tiếc, bèn vớt lên, tổ chức lễ an táng tại khu gò đất cao trong đồn Nam Nguyễn, đặt tên là gò Mả Dạ và lập đền thờ để tưởng nhớ tới công ơn Bà.
Bà Man Thiện xứng đáng là Bà mẹ Việt Nam anh hùng đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Bà là tấm gương sáng chói cho truyền thống yêu nước, thương con của người phụ nữ Việt Nam từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc
.


Bên bờ Phước Long Giang, ngày Phật Đản,15/04/Đinh Dậu.
Nhà thơ Xuân Bảo.

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

189. Mở chuyên mục "Dân ta phải biết sử ta"

189.“Dân ta phải biết sử ta”
                   Bloger Nguyễn Xuân Bảo mở chuyên mục mới.
Đây là chuyên mục của Bloger Nguyễn Xuân Bảo. Bắt đầu từ Các anh hùng liệt nữ của nước ta. Những người đàn bà đã làm rạng danh nòi giống “con rồng cháu tiên”.Đồng thời không quên ghi ân những người đã giúp các anh thư nước Việt – có công trong việc chống ngoại xâm.
Phần tiếp theo sẽ nêu những tám gương tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam trong 2 cuộc kháng chiến vệ quốc của thời cận đại: chống Pháp và đuổi Mỹ.
Phần thứ nhất: Tìm trong sử cũ.
Bài 1. Nữ hoàng nước Việt đầu tiên.
TRƯNG TRẮC, NỮ HOÀNG NƯỚC VIỆT ĐẦU TIÊN :

Ở thế kỷ trước, nhà thơ Dương Khai - Nguyễn Xuân Thái, người làng Đại Hào, phủ Đăng Xương, sau đổi thành Triệu Phong đã viết ca ngợi hai người con gái xứ Mê Linh, trong bài “Tròn Nghĩa Khí” :
                      Độc lập đầu tiên Việt chiến công
                      Quần thoa chi kém bậc anh hùng
                      Phất cờ nương tử giành quyền nước
                      Đánh bọn Tô gian rửa hận chồng
                      Sông Hát gieo mình tròn nghĩa khí
                      Mê Linh giết giặc dậy oai phong
                      Mài gươm cứu nước em cùng chị
                      Lịch sử treo gương rạng má hồng

Lạc tướng huyện Chu Diên có con là Thi Sách. Lạc tướng huyện Mê Linh có 2 con gái, Trưng Trắc là chị, Trưng Nhị là em. Gia đình có nghề chăn tằm. Nghề tầm tang gọi kén đầy là kén chắc, kén mỏng là kén nhị. Tên Trắc và Nhị từ đó mà ra.
Môn đăng hộ đối, gia đình Lạc tướng Chu Diên cưới Trưng Trắc về làm vợ Thi Sách. Dưới thời Đông Hán, các thái thú người Tàu vô cùng tàn nhẫn, bóc lột dân ta thậm tệ. Thái thú Tô Định là một tên gian ác đã giết Thi Sách một cách dã man trước khi khởi nghĩa nổ ra.
Nợ nước cộng với thù nhà đè nặng lên hai vai người phụ nữ Giao Châu. Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị nổi trống Mê Linh dấy nghĩa. Tiếng trống đồng Lạc Việt đã thức tỉnh tinh thần dân ta. Hai Bà được nhân dân các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố … rầm rộ hưởng ứng. Bà đã tập hợp được hơn bẩy chục tướng lĩnh, phần lớn là nữ, có nhiều thủ lĩnh nghĩa quân. Những Lê Chân, Thánh Thiên … là nữ tướng đã lập công xuất sắc. Trong đó phải kể đến công lao của bà Man Thiện vừa là mẹ vừa là tướng của Hai Bà Trưng. Bà Man Thiện sinh ra ở làng Nam Nguyễn, ở xứ Đoài Đường Lâm, dưới chân núi Ba Vì hùng vĩ.
 Chẳng bao lâu 65 thành ở Lĩnh Nam về tay Hai Bà. Theo Hậu Hán thư, cuộc khởi nghĩa bùng nổ khoảng tháng 3 năm 40 CN. Nghĩa quân xuất phát từ Mê Linh, đánh phá cơ quan chỉ huy quân sự của nhà Hán ở Giao Chỉ, đánh xuống Tây Vu chiếm thành Cổ Loa. Từ đây quân thủy bộ của Hai Bà “Voi đi nườm nượp, thuyền bè tấp nập” vượt sông Hoàng, sông Đuống xuôi sông Dâu đánh chiếm Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) là lỵ sở của Quận Giao Chỉ giáng một đòn tấn công trực diện vào bọn cai trị. Tô Định phải cắt tóc, cạo râu lẻn trốn về Nam Hải (Quảng Đông).
Dân chúng Âu Lạc theo phục. Thủy Kinh chú ghi : “Trưng Trắc công phá châu, quận, hàng phục được các Lạc tướng, họ đều suy tôn Trắc làm vua”. Sau khi thu phục được giang sơn, Bà Trưng Trắc lên ngôi vua. Đây là vị Nữ hoàng đầu tiên của nước ta trong những năm đầu công nguyên, chống nô dịch và đồng hóa mà đỉnh cao chói lọi ngàn thu .Ca ngợi Hai Bà Trưng, Đại Nam quốc sử diễn ca  của Lê Ngô Cát có đoạn :
 ...Chị em nặng một lời nguyền
    Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân
    Ngàn Tây nổi áng phong trần
    Ầm ầm binh mã tới gần Long Biên
    Hồng quần nhẹ bước chinh yên
    Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành
     Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh
     Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta...”
Trong đêm dài Bắc thuộc (111 TCN -939 CN), ngót một nghìn năm đó, các thái thú Tàu vô cùng tàn ác. Chúng không chỉ xâm lấn đất đai biên giới và thi hành chính sách đồng hóa vô cùng thâm độc.
Hai năm sau, mùa hạ năm 42 vua Hán phong cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, thống suất 2 vạn quân chủ lực và 2.000 thuyền, xe sang đánh Trưng Vương... Mã Viện là tên tướng đã thu gom trống đồng nước ta để đúc thành cột đồng với câu thề độc: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”.(Cột đồng gãy thì Giao Châu diệt). Tương truyền cột đồng chôn ở động Cổ Lâu châu Khâm. Người dân khi đi qua đây, sợ cột đồng đổ nên đã lấy đá chất vào thành đống, thành gò. Cuối cùng thì cột bị lấp. Đến đời Mã Tổng nhà Đường, chúng lại cho dựng 2 cột đồng ở chỗ cũ, về phía hai sông Tả Giang, Hữu Giang mỗi nơi một cột. Nay chưa rõ là ở chỗ nào?
 Mã Viện tấn công tàn quân của Hai Bà. Lúc này do tướng Đô Dương chỉ huy. Chúng đuổi tới Cư Phong  thì Đô Dương đầu hàng. Trước vũ lực kẻ thù, quân Hai Bà Trưng rút về Cấm Khê. Nơi đây là một chiến trường đẫm máu dài ngày, là nơi hy sinh oanh liệt của Hai Bà Trưng. Hai Bà đã nhảy xuống sông Hát tự vẫn để giữ tròn nghĩa khí. Đó là ngày 8.3 âm lịch theo sử ta, còn sử Hán ghi khoảng tháng 5 năm 43.
Hai nghìn năm sau, Giao Châu vẫn là nước Việt Nam độc lập, còn cột đồng thì lại mất dấu tự bao giờ! Thế mới biết sự ngoan cường của dân tộc Việt. Mọi mưu đồ cấm mốc, lấn chiếm, thậm chí xua hàng chục vạn quân ồ ạt sang 6 tỉnh biên giới phía bắc (ngày 17/2/1979) với mưu đồ thôn tính chỉ là trò đùa!
Cột đồng này chẳng thấy đâu mà nước Việt thì vẫn vững vàng độc lập.
Đúng như nhà sử học Lê Văn Hưu đã bình luận : “Trưng Trắc, Trưng Nhị là phụ nữ, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và sáu mươi lăm thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng. Việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay. Đủ biết là hình thế đất Việt ta có thể dựng được cơ nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tới cho người phương bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy”.(Đại việt sử ký toàn thư).
Bên bờ Phước Long Giang, ngày 4 tháng 5 năm 2017.

Nhà thơ Xuân Bảo

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

188. chúng ta tiếp tục đòi công lý cho nạn nhân chất độc cam/dioxin

CHÚNG TA TIẾP TỤC ĐÒI CÔNG LÝ CHO NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC CAM/DIOXIN DO CHÍNH PHỦ HOA KỲ TIẾN HÀNH Ở VIỆT NAM.

Nhà báo , nhà thơ Xuân Bảo.

Ngày 18/4/2017, Tòa án Quốc tế tại thành phố The Hague (Hà Lan) phán xử Tập đoàn  Monsanto (Mỹ) gây tổn hại môi trường, phạm tội ác “diệt chủng thiên nhiên” và tội ác chiến tranh vì sản xuất và cung cấp cho quân đội Mỹ chất độc cam/dioxin thời chiến tranh Việt Nam.
 Năm 2012, tôi đã có 2 bài báo nói về vấn đề này. Tuy nhiên chính phủ Mỹ và Tòa án các cấp gồm toà án Liên bang Mỹ (Quận Tây Brooklyn New York ), Toà phúc thẩm lưu động số 2 New York và Toà án Tối cao Hoa Kỳ đã không xem xét đến yếu tố bồi thường cho nạn nhân bị phơi nhiễm chất độc cam/dioxin của Việt Nam.
Hôm nay, nhân Tòa án Quốc tế The Lague tuyên bố khẳng định Monsanto phải chịu trách nhiệm về chất độc cam/dioxin tại Việt Nam. Tuy nhiên tập đoàn này vẫn ngoan cố chối bỏ. Do đó, tôi trích đăng lai một phần nội dung các bài báo mà tôi đã viết, góp thêm tiếng nói công lý cho nạn nhân chất độc này và cảnh báo cho nhân loại nhận thức được rằng “bọn lái súng” chẳng bao giờ từ bỏ âm mưu chiến tranh, kể cả các loại vũ khí chất độc hóa học, vi trùng, thậm chí cả bom A và bom H.
Bài số 1.DI HỌA KHÔN LƯỜNG.
Từ buổi bình minh nhân loại, con người thoát xác không bò bốn chân nữa mà vươn lên thành vượn người, sinh sống bằng hái lượm trên đôi tay của mình. Các bộ tộc hình thành và đã xuất hiện xung đột bộ tộc. Con người đã tìm ra các độc tố tự nhiên trong động vật và thực vật tẩm vào mũi tên, đầu gươm, ngọn giáo để tiêu diệt lẫn nhau.
Đến thế kỷ 19, các nhà khoa học Pháp đã dùng hóa chất diệt cỏ trong nghề làm vườn. Song, loại hóa chất này có gốc A.sen rất độc cho nên không bao lâu sau đã bị cấm không cho sử dụng.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) ngày 22/4/21915 quân Đức đã sử dụng chất độc chlo làm nhiễm độc và làm chết hàng ngàn quân Anh, Pháp. Tháng 7/1917, quân Đức tiếp tục sử dụng chất độc y.perit trên chiến trường. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) quân Nhật sử dụng y.perit tại Trung Quốc. Quân Đức sử dụng chất ziclon B đầu độc tù nhân ở các trại tập trung.
Ở Mỹ từ những năm 1937 – 1938, các công ty hóa chất Hoa Kỳ phát hiện ra các chất diệt cỏ có gốc Phenoxy (Phenoxy herbicides) có tác dụng diệt cỏ hiệu quả. Hai chất trong nhóm này được sử dụng là chất 2,4 D (2,4 Dicloro phenoxy acétic acid) và 2, 4, 5 – T (2,4,5 Trichloro phenoxy acétic acid). Đây được coi là những phát minh lớn. Và từ những năm 1940, nhanh chóng được đưa vào sử dụng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và nghề làm vườn. Các chất diệt cỏ cùng với các chất diệt sâu làm hại mùa màng đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng xanh ở nhiều nước trên thế giới.
Cũng như nguyên tử, mặt phải của nó là phục vụ dân sinh, phục vụ hòa bình nhưng những tên trùm lái súng đã lợi dụng nó để đưa vào chiến tranh với mục đích hủy diệt. Thảm họa Hirosima và Nakazaki năm 1945 do Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật là một minh chứng. Tìm ra các chất diệt cỏ, diệt sâu bọ là để làm tăng năng suất mùa màng đem lại no ấm cho con người. Song những tên thực dân kiểu mới Hoa Kỳ đã sử dụng nó vào mục đích chiến tranh. Hoa Kỳ lại được sự tiếp tay của Ngô Đình Diệm. Diệm đã trắng trợn tuyên bố: “Việc rải chất khai quang là một phương tiện rất hiệu quả mà các nước chậm phát triển có thể sử dụng để chống lại chiến tranh du kích của Cộng sản. (Diệm trả lời Đài tiếng nói Hoa Kỳ ngày 7/3/1962). Chả thế mà khi tiến hành phun rải Mỹ ngụy đã phải sơn cờ ba que đỏ sọc vàng lên thân máy bay và quân nhân ngồi trên đó phải mặc thường phục?! Vải thưa sao che nổi mắt thánh!
.
CHIẾN DỊCH RANCH HAND

Một binh chủng không lực Hoa Kỳ được mang mật danh “Binh chủng không quân 309” có nhiệm vụ chuyên trách các vụ rải. Chiến dịch sử dụng chất diệt cỏ và làm rụng lá cây được tiến hành với mật danh là “chiến dịch operation Ranch Hand”. Mục đích của chiến dịch được phía Mỹ xác định là: làm trụi lá cây để tạo điều kiện thuận lợi việc quan sát, phát hiện nơi trú quân của đối phương. Ngoài việc rải nó bằng máy bay, chất diệt cỏ còn được sử dụng bằng các phương tiện trên mặt đất (ô tô, tàu thuyền, bình phun tay…) quanh các vị trí đóng quân, trận địa pháo binh của quân đội Mỹ - ngụy và chư hầu; dọc hai bên đường giao thông thủy, bộ để tránh sự tấn công của quân du kích. Mục tiêu thứ hai không kém phần quan trọng là phá hoại mùa màng, nhằm triệt phá nguồn lương thực, thực phẩm của đối phương làm cho họ đói, mất khả năng chiến đấu, rối loạn hàng ngũ. Và cuối cùng là giúp Mỹ - ngụy giành “thắng lợi” quân sự ?! Than ôi, ngày tàn của chúng trước sau rồi cũng sẽ đến!
Tôi còn nhớ những ngày tháng năm 1959, Hà Nội sục sôi biểu tình phản đối bọn xâm lược Mỹ và tay sai bỏ thuốc độc, giết chết hơn 1.000 người tù ở nhà giam Phú Lợi. Nhà thơ Tố Hữu đã phải thét lên:
Đồng bào ơi anh chị em ơi!
Hỡi lương tâm tất cả loài người
Hãy nghe tiếng của nghìn người bị giết
Không sống nữa nhưng không chịu chết
Nghìn hồn oan bay khắp nhân gian
Thù muôn đời, muôn kiếp không tan…
Thực chất chất diệt cỏ, hay còn gọi là chất khai quang không đơn thuần như tên gọi mà là cái chất độc để Mỹ tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học kéo dài tới 10 năm - một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Trong những năm đầu 1961 – 1964, Mỹ thường dùng hóa chất màu tím (egent purple) và màu xanh lam (agent blue). Hai hóa chất màu hồng (agent pink) và màu xanh lá cây (agent green) cũng được dùng nhưng với quy mô nhỏ hơn.Khoảng tháng 1/1965, hai công thức mới của chất diệt cỏ được đưa vào chiến trường, đó là chất màu da cam  (agent orange) và chất màu trắng (agent white). Các danh từ Da cam, Tím, Hồng, Xanh, Xanh lá cây… thực ra chỉ là mật danh quân sự và thể hiện bằng một vòng sơn, rộng khoảng 20cm quanh thùng 200 lít chứa hóa chất để dễ nhận biết trong khi vận chuyển và bảo quản.
Chất độc cam (agent orange/dioxin) là dung dịch màu hồng - nâu hòa tan trong dầu diesel và các dung môi hữu cơ, không hòa tan trong nước; chất độc da cam là hỗn hợp 50 : 50 của hai chất n-butyl ester 2,4D và 2,4,5-T.
Bắt đầu từ chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mỹ đã thực hiện ở chiến trường miền Nam Việt Nam một số lượng hóa chất khổng lồ với kinh phí ban đầu là 12,5 triệu đô la Mỹ lên tới đỉnh điểm là 57,7 triệu đô la. Các công ty cung cấp hóa chất diệt cỏ gồm Dow chemical Co, Diamond Akali Co, Uniroyal chemical Co, Thompson Co , Hercules Co, Monsanto Co, Ansul Co và Thompson, Hayward Co. Đây là 8 công ty lúc đầu, sau này con số công ty cung cấp cho chiến tranh hóa học ở Việt Nam lên tới con số 37.
Cho tới khi thế giới và cả nhân dân Mỹ lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh hóa học tàn bạo vô nhân đạo này của Mỹ thì quân đội Mỹ đã thực hiện 19.905 phi vụ (gồm các loại máy bay UC123, trực thăng H34, C47, C123…) rải chất độc trên 25.585 thôn, bản với diện tích 2.631.297 ha, trong đó có 86% diện tích bị phun rãi hơn 2 lần, 11% diện tích bị phun rải hơn 10 lần. Đông Nam Bộ là vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, trên 56% diện tích tự nhiên bị phun rải. Khoảng 86% lượng chất độc đã được rải lên các vùng rừng rậm, 14% còn lại được dùng để phá hủy ruộng vườn, hoa màu mà chủ yếu là đồng lúa và nương rẫy ở các vùng đồi núi. Diện tích rừng ngập mặn bị ảnh hưởng chất độc là 150 ngàn ha, nặng nề nhất là rừng ngập mặn Cà Mau.
Tổng lượng chất độc hóa học mà quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 100 ngàn tấn các chất độc hóa học khác nhau. Trong đó có 9.000 tấn chất độc CS và 95.000 tấn các chất diệt cỏ CDC. Trong 95.000 tấn đó có tới 65.700 tấn có chứa dioxin với khối lượng lớn từ 366 đến 650 kg, tương đương 44 triệu lít.
Đông Nam Bộ là địa phương có rừng rậm Mã Đà chiến khu D, có sân bay Biên Hòa là nơi hứng chịu nhiều chất độc da cam nhất. Chúng rải để khai quang trụi lá cây rừng, bay đi rải chất độc về còn lại bao nhiêu chúng trút cả xuống đây. Những kho chứa, những bồn chứa rò rỉ, thùng bẹp chúng bỏ bừa bãi trong sân bay. Dư lượng tồn lưu trên khu vực này là rất lớn!
GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG
Đó là cái chết của đại úy phi công Elmo Zumwalt III, con của trung tướng đô đốc hải quân Hoa Kỳ, người trực tiếp ra lệnh cho quân đội Mỹ rải chất diệt cỏ, khai quang lên chiến trường miền Nam Việt Nam. Elmo đã bị ung thư do nhiễm dioxin. Đó là chất độc cam này đã được quân đội Hoa Kỳ “thử nghiệm” tại căn cứ quân sự Mỹ đóng ở Canadian Forces Base Gagetown Brunswick - Canada . Theo Bộ Quốc Phòng  Canada , đã có 200 ngàn nhân viên quân sự đóng quân trong căn cứ CFB từ 1956 – 1984. Số nhân viên này bao gồm binh sĩ của Anh, Scotland và Mỹ đã tiến hành thử nghiệm. Họ cũng bị phơi nhiễm chất độc dioxin. Không những chỉ những người lính bị tác động đến sức khoẻ. Nó là bi kịch của những người vợ và con cái họ đã chết hoặc đau ốm, bệnh tật. Nó cũng là bi kịch của những thường dân làm thuê trong vùng và vùng phụ cận căn cứ. Đó là những người lính của quân đội chư hầu của Mỹ cùng tham chiến ở miền Nam Việt Nam như Hàn Quốc, New Zeiland , Australia …
Ta hãy nghe những lời phát biểu của họ: “…Do bị bưng bít thông tin, đa số nhân dân Hàn Quốc đều không biết về vấn đề này. Một số lớn cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam bị đau ốm mà không rõ nguyên nhân và đã chết ở độ tuổi 40. Họ không hiểu vì sao họ phải chết. Ngay cả các bác sĩ cũng không giải thích được. Nhiều người đã tự vẫn vì không lối thoát và không muốn ảnh hưởng đến gia đình…”/ “…Kết quả là tổ chức đại diện cho các bệnh nhân chất da cam, Hàn quốc đã được chính thức thành lập…”/ “Trong tương lai, bệnh nhân mà chính phủ phải trợ cấp do chất da cam có thể lên tới 100.000 người. Và theo điều tra của Hội này, số cựu chiến binh đã chết bởi chất da cam ước tính vào khoảng 2 vạn người…”. (Trích phát biểu của Trưởng đoàn Cựu chiến binh Hàn Quốc đã tham chiến tại miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Quốc tế nạn nhân chất độc cam/dioxin).
Và đây là tiếng nói của một nguyên sĩ quan quân ngụy quyền Sài Gòn, ông Mai Giảng Vũ người đã trực tiếp rải chất độc hoá học trong thời gian chiến tranh, cũng tại Hội nghị Quốc tế nạn nhân độc cam/dioxin. “Trong khi rải các hoá chất độc hại mà tôi không biết, tưởng thuốc diệt cỏ như các nhà nông họ làm, không ngờ lại nó ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, bao nhiêu thế hệ. Sau chiến tranh 30 năm các nạn nhân ở những vùng bị rãi hoá chất đó vẫn còn các cháu ra đời nhiễm phải bệnh chết  người đó. Nếu tôi biết nó nguy hiểm tôi sẽ không làm, 3 đứa con tôi đâu chết oan uổng thế”. Ba con ông đều bị nhiễm dioxin mà chết.
Còn ở Mỹ thì sao? Ngay từ 1984, các cựu quân nhân bị tác hại do chất độc này gây ra đã khởi kiện 7 Công ty sản xuất chất độc cam/dioxin, trong đó có Dow Chemical Co và Monsanto Co với số tiền bồi thường là 180 triệu USD.
Một làn sóng phản đối tràn khắp nước Mỹ, những quan chức cao cấp trong chính phủ Mỹ cũng lên tiếng đòi  chấm dứt cuộc chiến tranh hoá học vô nhân đạo và bẩn thỉu này.

 CHIẾN TRANH QUA ĐI - NỖI ĐAU CÒN LẠI

Ngày 10/01/2004 thành lập VAVA Việt Nam và Hội đã tiến hành khởi kiện các công ty hoá chất Mỹ đã sản xuất và cung cấp chất độc hoá học cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, đòi bồi thường tất cả những thiệt hại. Vụ kiện phải dừng lại ở Toà phúc thẩm Hoa Kỳ??
Chúng ta những người Việt Nam đang sống trên quê hương mình đều nhận thức được rằng: Kể từ ngày 10/08/1961 đến ngày 31/10/1971, trong 10 năm 2 tháng, quân đội Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh hoá học, hay nói một cách chính xác hơn là một cuộc chiến tranh sinh thái có qui mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Nó tác hại nghiêm trọng đối với môi trường và sức khoẻ con người hiện tại và cả mai sau.
Nhìn vào bản đồ Việt Nam, chúng ta đau xót thấy những vùng bị chất độc cam tàn phá nặng nề. Rừng, núi, trảng, dòng sông, bờ biển… ở đây như những vết bỏng trên thân mình Tổ quốc ta. Trước năm 1960 độ che phủ rừng tự nhiên từ nam vĩ tuyến 17 trở vào là 60 – 70%.  Tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng. Rừng có trữ lượng gỗ khoảng 200 – 300 m3/ha có các cây gỗ quý đường kính 1 đến 2 mét, cao từ 30 – 40 mét. Dưới tán rừng là nơi sinh sống của nhiều động vật quý, nay vì chất độc cam/dioxin mà có giống bị tiêu diệt hoàn toàn.
Chất độc hoá học đã tàn phá huỷ diệt khoảng 1,7 triệu ha rừng. Hệ quả của nó là trên đầu nguồn các con sông lớn như Bến Hải (Hiền Lương), sông Hương, sông Hàn, sông Ba, sông Đồng Nai, Vàm Cỏ…gió bão, lũ lụt và nhiều yếu tố tự nhiên khác làm cho chất độc hoá học truyền lan gần như toàn bộ diện tích đất đai miền Nam Việt Nam. Toàn bộ thảm thực vật bị huỷ diệt làm cho chất lượng đất biến đổi, bề mặt đất bị xói mòn rửa trôi, cấu trúc thổ nhưỡng bị thay đổi ngày càng nghèo kiệt. Chất phát quang đi đến đâu thì mặt đất chỉ còn lại sỏi đá khô cằn.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam , tôi có đi thăm nhiều nơi. Nơi nào bị rải chất độc thì nơi đó có rất nhiều cỏ đuôi chồn mà người dân thường gọi là cỏ Mỹ (tên khoa học Pennisetum polystachym) và các loại cỏ tranh, lau, sậy…đua nhau mọc. Còn các loại cây khác thì không sao mọc nổi. Chất độc cam/dioxin ngấm vào lòng đất còn để lại hậu quả cho cả trăm năm sau và đối với con người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cuộc chiến tranh hoá học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam đã làm cho hơn 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, trong đó có 3 triệu người là nạn nhân. Hàng vạn người đã chết. Hàng triệu người mắc các chứng bệnh: bệnh ung thư gan nguyên phát, ung thư tổ chức phần mềm, Ulymphô ác tính, bệnh Hodgkin, ung thư đường hô hấp (thanh quản, khí phế quản, phổi), ung thư tiền liệt tuyến. Và các bệnh rối loạn chuyển hoá, lipit có tai biến mạch máu não, bệnh động mạch vành; gluxit có đái tháo đường. Bệnh thần kinh có ngoại vi cấp và mãn, da u tuỷ (multiple myeloma). Bệnh ngoài da thì có xạm da, nhiễm porphyrin da chậm và các bệnh thường gặp ở phụ nữ: sẩy thai, đẻ non, con chết lưu (tử tại phúc trung), chửa trứng, ung thư màng nuôi…Các loại dị tật bẩm sinh, quái thai xuất hiện trên nhiều người và cũng có thể xẩy ra ở thế hệ thứ hai (cháu).
Tôi nghĩ rằng để khắc phục hậu quả cuộc chiến tranh hoá học này, 2 vấn đề cơ bản được đặt ra: tẩy độc môi trường và chăm lo sức khoẻ nạn nhân chất độc cam/dioxin. Chúng ta hãy lắng nghe từ phía kẻ thù, bên kia chiến tuyến: “…Hôm nay là một ngày rất quan trọng với nước Mỹ để tiến thêm một bước làm giảm nhẹ những nỗi đau thương mà đất nước chúng ta đã vô tình gây nên cho những con người của mình khi buộc họ tiếp xúc với chất độc cam/dioxin  ở Việt Nam. Hơn hai thập kỷ qua các cựu chiến binh đã than phiền rằng việc tiếp xúc với chất độc cam/dioxin trước khi họ rời chiến trường đang giết dần, giết mòn và thậm chí tổn thương đến con cái của họ…”.
“…Cuối cùng, tôi cũng rất cám ơn người bạn cũ lâu năm của tôi – Đô đốc Zumwalt - người đã đấu tranh xuất sắc nhất cho các cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam…Không ai có thể làm tốt hơn ông trong việc làm sáng tỏ tác hại của chất độc  cam/dioxin. Không ai biết rõ hơn và nhận trách nhiệm cá nhân (nhấn mạnh của tác giả XB) tốt hơn ông về những hành động của chúng ta…”
Như thế là phía Mỹ, như lời cựu tổng thống Bill Clinton phát biểu tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng khi ông đương nhiệm công bố thêm những loại bệnh do chất độc  cam/dioxin gây nên (ngày 28.5.1996). Ông ta cũng có nhắc đến một người bạn cũ, đô đốc hải quân Zumwalt, người đã trực tiếp ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ rãi chất độc cam lên Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Zumwalt đã sám hối vì trong cuộc chiến tranh hoá học này, người con thứ 3 của đô đốc, đại úy Elmo Zumwalt đã phải trả giá khi anh ta ngày ngày ngược xuôi trên các dòng sông, trên các con kênh để kiểm tra việc rãi chất độc cam/dioxin này. Anh ta đã bơi lội, tắm táp, ăn uống trên những dòng nước này và kết cục là căn bệnh ung thư do nhiễm chất độc  cam/dioxin đã cướp mất mạng sống. Oái ăm thay! Rõ ràng không ai biết rõ hơn và nhận trách nhiệm tốt hơn Zumwalt. Và cũng đau đớn như bao người bố khác: mất con vì chất độc cam /dioxin.
TỔNG THỐNG BIẾT TOÀ ÁN LÀM NGƠ
Và toà án Liên bang Mỹ (Quận Tây Brooklyn New York ). Cấp sơ thẩm đã tiếp nhận đơn của VAVA Việt Nam cùng một số nạn nhân khởi kiện 37 công ty Mỹ sản xuất hoá chất độc hại ngày 30.1.2004. Một năm sau, ngày 28.2.2005 tranh tụng miệng tại Toà sơ thẩm. Mười ngày sau đó, thẩm phán Jack Weinstein ra phán quyết bác bỏ đơn kiện với lý do ngây ngô rằng: “không thừa nhận chất da cam là chất độc hại đối với con người”. Phía ta, tiếp tục kháng cáo lên Toà phúc thẩm New York . Ngày 22.2.2008 Toà phúc thẩm lưu động số 2 New York đã đồng ý với phán quyết của Toà án sơ thẩm (10.3.2005) rằng; “việc sử dụng chất độc của Mỹ không cố ý gây thiệt hại cho con người Việt Nam ”.
Nhân dân Việt Nam vô cùng phẫn nộ và hết sức bất bình trước Quyết định sai lầm và bất công của Toà án Tối cao Hoa Kỳ. Quyết định phi lý này được đưa ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam có nhiều cố gắng để góp phần khắc phục hậu quả của chất độc cam/dioxin ở Việt Nam.
Dù không được kiện trước Toà án liên bang Hoa Kỳ, nhưng vụ kiện đã thu được những thắng lợi có ý nghĩa tích cực, đáng khích lệ. Nổi bật là ở trong nước, vụ kiện đã thúc đẩy phong trào đòi công lý, tạo ra sự thông cảm sâu sắc và giúp đỡ mạnh mẽ các nạn nhân nhiễm chất độc cam/dioxin.
Với thế giới, vụ kiện nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân các nước. Vụ kiện phơi bày ra trước nhân loại mọi thủ đoạn phía Hoa Kỳ đã che giấu hơn 30 năm nay của các công ty hoá chất Mỹ. Nó đã trở thành một phong trào rộng lớn mang tính quốc tế và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cuộc đấu tranh trực diện về mặt pháp lý tại Toà án Mỹ, kết hợp với cuộc đấu tranh ngoài toà, được sự ủng hộ của các bạn Mỹ. Vụ kiện này, chúng ta đã thắng trên mặt trận chính trị và nhân văn.
Rõ ràng, Toà án Hoa Kỳ đã chà đạp lên công lý, bất chấp đạo lý. Đây là một phán quyết phi lý và sai lầm. Người Mỹ thường lớn tiếng dạy thiên hạ về quyền con người, nhưng ở đây họ đã bỏ lỡ cơ hội thể hiện tôn trọng nhân quyền. Đây là một phán quyết đáng hổ thẹn!.
Những đau khổ và di họa chất độc cam/dioxin gây ra sẽ tiếp tục làm rớm máu trái tim nhân loại.
Cuộc chiến đấu để đi đến thắng lợi của vụ kiện vẫn tiếp tục…

Bài 2 .KHÚC SÁM HỐI
                                                                   Nhà báo, nhà thơ Xuân Bảo
      Đô đốc Elmo Russell Zumwalt, Jr là Tư lệnh Hải quân Mỹ, đặc trách Lực lượng duyên hải và đường sông thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Sau này ông được thăng tiến lên chức Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ, chính là người đã phát động chiến dịch Ranch Hand, rải chất độc hóa học tại Việt Nam trong suốt một giai đoạn rất dài của cuộc chiến, để lại nhiều di họa cho đất nước Việt Nam cũng như nước Mỹ và chính gia đình ông. Ba cha con dòng họ Zumwalt đều có mặt tại chiến trường Nam Việt Nam.
       Ông có hai người con trai. Con đầu là trung úy Elmo Russell Zumwalt III đã chết ở tuổi 42 vì nhiễm chất độc cam/dioxin do chính cha mình ra lệnh rải xuống chiến trường Việt Nam.
   Và người con thứ hai là trung tá Thủy quân lục chiến James G. Zumwalt, người may mắn thoát chết trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu này. Sau này ông ta trở thành nhà báo cựu chiến binh và là chủ tịch công ty Tư vấn An ninh mang tên cha mình : Công ty Admiral Zumwalt & Consultants, Inc. Ngoài Việt Nam, James còn tham gia cuộc can thiệp quân sự của Mỹ vào Panama năm 1989 và chiến dịch Bão táp sa mạc tại Vùng Vịnh, Iraq năm 1990-1991. Sau chặng đường binh nghiệp, với vốn sống chiến tranh, ông trở thành một diễn giả, tác giả của hàng loạt bài viết về quân sự và chính sách đối ngoại trên các báo và tạp chí nổi tiếng của Mỹ như USA Today, The Washington Post, The New York Times, The Washington Times…Sau những chuyến trở lại Việt Nam, ông đã viết cuốn sách Chân trần, Chí thép. (Bare  Feet, Iron Will). Cuốn sách xuất bản ở Mỹ ngày 26-4-2010 và đã gây tiếng vang lớn và thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận Mỹ. Cuốn sách đã được dịch ra Việt ngữ, được thượng tướng Phan Trung Kiên , Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đề tựa.
                                                          ***
        Chúng ta hãy nghe những lời thú nhận của kẻ thù về cuộc chiến tranh hóa học tàn bạo nhất của người Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam. Những điều viết ra đây được rút ra từ  cuốn sách Bare Feet, Iron Will ( Chân tran,Chi thep) . của James G Zumwalt
James viết :
        “… Gia đình tôi có một truyền thống binh nghiệp đáng tự hào, hầu như mỗi cuộc chiến mà nước Mỹ tham gia, kể từ Cách mạng Mỹ đến nay đều có it nhất một người mang họ Zumwalt phục vụ. Bạn bè thân thiết không hề ngạc nhiên khi  biết rằng tất cả các thành viên nam trong gia đình trực hệ của tôi đều xung phong phục vụ tại Việt Nam.
        Từ năm 1968 đến 1970, người cha đã quá cố của tôi, Elmo R. Zumwalt Jr, là phó đô đốc chỉ huy Lực lượng Hải quân tại Việt Nam, trong vai trò   Comnavforv ( Commanda Naval Forces VietNam – Tư lệnh Hải lực tại Việt Nam ), ông chỉ huy tất cả lực lượng duyên hải và đường sông của Hải quân Mỹ tham chiến tại Nam Việt Nam.
        Trong số những chiến binh đường sông dũng cảm của Mỹ hoạt động trong lực lượng “Hải quân nước nâu” ( tức hệ thống đường sông nội địa ở Việt Nam ) có người anh trai của tôi, trung úy Hải quân Elmo. R. Zumwalt III, từng đuợc biên chế về một vị trí khá nhàn trên khu trục hạm ở Norfolk, Virginia. Elmo tự cảm thấy có bổn phận phải phục vụ ở chiến trường Việt Nam…
        Elmo đã đến Việt Nam để đảm nhận vị trí chỉ huy duy nhất trong sự nghiệp hải quân ngắn ngủi – thuyền trưởng  một tàu tuần tra đường sông, thường gọi là “tàu nhanh”- PCF 35 ( viết tắt của Patrol Craft Fast ) là tư lệnh tàu cao tốc. Elmo nằm dưới quyền chỉ huy của một guồng máy do cha tôi đứng đầu. Cha tôi là một người đàn ông đầy đam mê và thông tuệ. Tôi không tin có lúc nào đó ông đưa ra một quyết định quân sự mà không cân nhắc những tác hại của nó đối với người lính. Nhưng trong giai đoạn mới nắm quyền chỉ huy tại Việt Nam, có khi ông ở vào hoàn cảnh không thấy hết được tác động từ quyết định của mình,dù quyết định ấy đã giúp đạt được mục  tiêu giảm thương vong cho Hải quân Mỹ.Ông không thể ngờ rằng nó cũng chính là nguyên nhân cướp đi mạng sống của người con trai cùng tên vói ông!
        Các nhà sản xuất chất diệt cỏ cam đoan với chính phủ Mỹ rằng sản phẩm của họ không gây hại cho con người. Tin vào lời cam đoan đó, cha tôi đã ra lệnh rải cái chất độc đó xuống dọc các bờ sông nơi quân của ông thường tuần tra bằng tàu thủy.
        Việc làm này đã cho phép hàng chục ngàn lính thủy, vốn đối mặt với nguy cơ thương vong cao có thể trở về nhà. Nhưng phải rất nhiều năm sau thì những người này mới phát hiện ra rằng cuộc chiến sinh tồn của họ còn lâu mới kết thúc. Họ đã trở về nhà với quả bom hóa học nổ chậm trong người. Chất diệt cỏ mà họ bị phơi nhiễm, chất độc cam, trái với cam đoan của các nhà sản xuất, là chất gây ung thư. ( Mười sáu năm sau đó, cha tôi mới biết được rằng các hãng sản xuất chẳng những sai lầm trong việc khẳng định tính vô hại của chất này đối với người, mà trong vài trường hợp họ còn nói khác đi so với những gì họ biết)…
        Bị phơi nhiễm nặng chất độc cam trong thời gian phục vụ tại Việt Nam, nhiều cựu chiến binh đã chịu đựng hậu quả khủng khiếp về sức khỏe với quả bom nổ chậm phát nổ sau quãng thời gian dài ngắn khác nhau. Đối với vài người vụ nổ đến rất sớm, khi những đứa con họ sinh ra sau thời gian phơi nhiễm gặp nhiều vấn đề về sức khỏe. Đối với số khác, thời gian phát nổ đến chậm hơn, có khi phải 10,15, thậm chí 20 năm sau, khi nhiều loại ung thư mà nay Bộ Cựu chiến binh Mỹ đã  thừa nhận là có liên quan tới chất độc cam tấn công họ. Anh trai tôi nằm trong số những nạn nhân bị ung thư liên quan tới chất độc cam.
        Cha tôi đã giành tất cả thời gian giúp Elmo chống chọi với căn bệnh ung thư.Cùng nhau, họ tìm kiếm tất cả  các giải pháp có thể. Ban đầu , họ tập trung vào các phương pháp y khoa để điều trị. Về cuối họ tìm mọi cách để làm chậm sự phát triển chết chóc của căn bệnh. Sự gắn bó của họ là vô cùng mật thiết. Có thể nói tình cảm cha con giữa hai người la không ai có thể sánh được. Tình cảm ấy đã được diễn tả khá  đầy đủ trong lá thư mà Elmo viết cho cha tôi không bao lâu trước khi anh qua đời. Thư anh viết : Ba thân yêu, cả ở Việt Nam lẫn đối với căn bệnh ung thư của con, chúng ta đã cùng nhau chiến đấu và cùng thất bại. Nhưng, chúng ta luôn biết rằng ngay khi lâm vào một trận chiến tuyệt vọng, tình yeu của chúng ta cũng không cho phép thối chí, bất chấp nguy cơ lớn nhường nào, chúng ta  cũng không từ bỏ…Con yêu ba vô ngần. Con muốn được chiến đấu bên cạnh ba biết bao ! Ba luôn tạo ra sự khác biệt. Ba đã làm cho cuộc chiến  cuối cùng của con, trên hành trình tới cõi chết trở nên nhẹ nhàng và nhân văn hơn. Con yêu ba!...
        
Vào ngày 13 tháng 8 năm 1988, cuộc chiến cuối cùng mà họ sát cánh bên nhau đã kết thúc. Sau 5 năm dũng cảm chiến đấu với bệnh tật, Elmo đã qua đời ở độ tuổi 42 ! Cũng như cuộc chiến ở Việt Nam, anhERZ Bio Cover đã anh dũng chống lại một kẻ thù giấu mặt, để rồi cuối cùng phải nhận lấy thất bại trước kẻ địch quyết đoán hơn,..
       Sau cái chết của Elmo, cha tôi bắt đầu một sự nghiệp mới-thuyết phục chính phủ Mỹ thừa nhận những ảnh hưởng của chất độc cam lên sức khỏe của con người và bồi thường cho các cựu chiến binh Việt Nam bị ảnh hưởng. Một phần nào đó, cái chết của Elmo thúc đẩy cha tôi tham gia cuộc đấu tranh, nhưng mặt khác việc tham gia của ông cũng xuất phát từ niềm tin thường trực nơi ông, rằng trách nhiệm của các tư lệnh chiến trường đối với binh sĩ không kết thúc khi cuộc chiến đã chấm dứt”…
                                                          ***                                                                                                                                   
        Tháng 9 năm 1994, Đô đốc Zumwalt trở lại Việt Nam. Đây là vị tư lệnh cấp cao nhất  thời chiến tranh quay lại Việt Nam. Chuyến đi này có con trai thứ hai tháp tùng- trung tá James G. Zumwalt. Mục đích chuyến đi là để tìm kiếm  sự hợp tác từ Hà Nội để triển khai một cuộc nghiên cứu chung về chất độc cam/dioxin.
        Một bi kịch lớn đã xẩy ra trong một gia đình có truyền thống binh nghiệp. Nhưng bi kịch lớn hơn là cả hai dân tộc chúng ta Việt Nam và Hoa Kỳ, cách nhau hai bờ đại dương, chẳng có thù hận gì nhau, chẳng có mối hận truyền kiếp nào mà phải gánh chịu di họa nặng nề, lâu dài đến cả những thế hệ con cháu chúng ta từ một cuộc chiến tranh  hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại !
        Có một bài thơ của môt tác giả khuyết danh đề trên một tấm bảng. Bài thơ nằm giữa đống đổ nát của một ngôi nhà, khi quân Giải phóng tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Bài thơ có nhan đề là :
                  Xin đừng quên
                  Không vì danh tiếng hay sự tưởng thưởng
                  Không vì địa vị hay phẩm hàm
                  Không bị tham vọng dẫn dắt hay mệnh lệnh bắt buộc
                  Chỉ đơn giản là bởi quyết tâm phụng sự
                  Những người này đã chịu đắng cay
                  Dã dám đối mặt với tất cả, và đã chết
                  Xin đừng quên, xin đừng quên
                                                ***
 Bên bờ Phước Long Giang, sau ngày Quốc tế Lao động một ngày.Ngày 2 tháng 5 năm 2017.

Xuân Bảo