Trang

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

188. chúng ta tiếp tục đòi công lý cho nạn nhân chất độc cam/dioxin

CHÚNG TA TIẾP TỤC ĐÒI CÔNG LÝ CHO NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC CAM/DIOXIN DO CHÍNH PHỦ HOA KỲ TIẾN HÀNH Ở VIỆT NAM.

Nhà báo , nhà thơ Xuân Bảo.

Ngày 18/4/2017, Tòa án Quốc tế tại thành phố The Hague (Hà Lan) phán xử Tập đoàn  Monsanto (Mỹ) gây tổn hại môi trường, phạm tội ác “diệt chủng thiên nhiên” và tội ác chiến tranh vì sản xuất và cung cấp cho quân đội Mỹ chất độc cam/dioxin thời chiến tranh Việt Nam.
 Năm 2012, tôi đã có 2 bài báo nói về vấn đề này. Tuy nhiên chính phủ Mỹ và Tòa án các cấp gồm toà án Liên bang Mỹ (Quận Tây Brooklyn New York ), Toà phúc thẩm lưu động số 2 New York và Toà án Tối cao Hoa Kỳ đã không xem xét đến yếu tố bồi thường cho nạn nhân bị phơi nhiễm chất độc cam/dioxin của Việt Nam.
Hôm nay, nhân Tòa án Quốc tế The Lague tuyên bố khẳng định Monsanto phải chịu trách nhiệm về chất độc cam/dioxin tại Việt Nam. Tuy nhiên tập đoàn này vẫn ngoan cố chối bỏ. Do đó, tôi trích đăng lai một phần nội dung các bài báo mà tôi đã viết, góp thêm tiếng nói công lý cho nạn nhân chất độc này và cảnh báo cho nhân loại nhận thức được rằng “bọn lái súng” chẳng bao giờ từ bỏ âm mưu chiến tranh, kể cả các loại vũ khí chất độc hóa học, vi trùng, thậm chí cả bom A và bom H.
Bài số 1.DI HỌA KHÔN LƯỜNG.
Từ buổi bình minh nhân loại, con người thoát xác không bò bốn chân nữa mà vươn lên thành vượn người, sinh sống bằng hái lượm trên đôi tay của mình. Các bộ tộc hình thành và đã xuất hiện xung đột bộ tộc. Con người đã tìm ra các độc tố tự nhiên trong động vật và thực vật tẩm vào mũi tên, đầu gươm, ngọn giáo để tiêu diệt lẫn nhau.
Đến thế kỷ 19, các nhà khoa học Pháp đã dùng hóa chất diệt cỏ trong nghề làm vườn. Song, loại hóa chất này có gốc A.sen rất độc cho nên không bao lâu sau đã bị cấm không cho sử dụng.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) ngày 22/4/21915 quân Đức đã sử dụng chất độc chlo làm nhiễm độc và làm chết hàng ngàn quân Anh, Pháp. Tháng 7/1917, quân Đức tiếp tục sử dụng chất độc y.perit trên chiến trường. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) quân Nhật sử dụng y.perit tại Trung Quốc. Quân Đức sử dụng chất ziclon B đầu độc tù nhân ở các trại tập trung.
Ở Mỹ từ những năm 1937 – 1938, các công ty hóa chất Hoa Kỳ phát hiện ra các chất diệt cỏ có gốc Phenoxy (Phenoxy herbicides) có tác dụng diệt cỏ hiệu quả. Hai chất trong nhóm này được sử dụng là chất 2,4 D (2,4 Dicloro phenoxy acétic acid) và 2, 4, 5 – T (2,4,5 Trichloro phenoxy acétic acid). Đây được coi là những phát minh lớn. Và từ những năm 1940, nhanh chóng được đưa vào sử dụng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và nghề làm vườn. Các chất diệt cỏ cùng với các chất diệt sâu làm hại mùa màng đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng xanh ở nhiều nước trên thế giới.
Cũng như nguyên tử, mặt phải của nó là phục vụ dân sinh, phục vụ hòa bình nhưng những tên trùm lái súng đã lợi dụng nó để đưa vào chiến tranh với mục đích hủy diệt. Thảm họa Hirosima và Nakazaki năm 1945 do Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật là một minh chứng. Tìm ra các chất diệt cỏ, diệt sâu bọ là để làm tăng năng suất mùa màng đem lại no ấm cho con người. Song những tên thực dân kiểu mới Hoa Kỳ đã sử dụng nó vào mục đích chiến tranh. Hoa Kỳ lại được sự tiếp tay của Ngô Đình Diệm. Diệm đã trắng trợn tuyên bố: “Việc rải chất khai quang là một phương tiện rất hiệu quả mà các nước chậm phát triển có thể sử dụng để chống lại chiến tranh du kích của Cộng sản. (Diệm trả lời Đài tiếng nói Hoa Kỳ ngày 7/3/1962). Chả thế mà khi tiến hành phun rải Mỹ ngụy đã phải sơn cờ ba que đỏ sọc vàng lên thân máy bay và quân nhân ngồi trên đó phải mặc thường phục?! Vải thưa sao che nổi mắt thánh!
.
CHIẾN DỊCH RANCH HAND

Một binh chủng không lực Hoa Kỳ được mang mật danh “Binh chủng không quân 309” có nhiệm vụ chuyên trách các vụ rải. Chiến dịch sử dụng chất diệt cỏ và làm rụng lá cây được tiến hành với mật danh là “chiến dịch operation Ranch Hand”. Mục đích của chiến dịch được phía Mỹ xác định là: làm trụi lá cây để tạo điều kiện thuận lợi việc quan sát, phát hiện nơi trú quân của đối phương. Ngoài việc rải nó bằng máy bay, chất diệt cỏ còn được sử dụng bằng các phương tiện trên mặt đất (ô tô, tàu thuyền, bình phun tay…) quanh các vị trí đóng quân, trận địa pháo binh của quân đội Mỹ - ngụy và chư hầu; dọc hai bên đường giao thông thủy, bộ để tránh sự tấn công của quân du kích. Mục tiêu thứ hai không kém phần quan trọng là phá hoại mùa màng, nhằm triệt phá nguồn lương thực, thực phẩm của đối phương làm cho họ đói, mất khả năng chiến đấu, rối loạn hàng ngũ. Và cuối cùng là giúp Mỹ - ngụy giành “thắng lợi” quân sự ?! Than ôi, ngày tàn của chúng trước sau rồi cũng sẽ đến!
Tôi còn nhớ những ngày tháng năm 1959, Hà Nội sục sôi biểu tình phản đối bọn xâm lược Mỹ và tay sai bỏ thuốc độc, giết chết hơn 1.000 người tù ở nhà giam Phú Lợi. Nhà thơ Tố Hữu đã phải thét lên:
Đồng bào ơi anh chị em ơi!
Hỡi lương tâm tất cả loài người
Hãy nghe tiếng của nghìn người bị giết
Không sống nữa nhưng không chịu chết
Nghìn hồn oan bay khắp nhân gian
Thù muôn đời, muôn kiếp không tan…
Thực chất chất diệt cỏ, hay còn gọi là chất khai quang không đơn thuần như tên gọi mà là cái chất độc để Mỹ tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học kéo dài tới 10 năm - một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Trong những năm đầu 1961 – 1964, Mỹ thường dùng hóa chất màu tím (egent purple) và màu xanh lam (agent blue). Hai hóa chất màu hồng (agent pink) và màu xanh lá cây (agent green) cũng được dùng nhưng với quy mô nhỏ hơn.Khoảng tháng 1/1965, hai công thức mới của chất diệt cỏ được đưa vào chiến trường, đó là chất màu da cam  (agent orange) và chất màu trắng (agent white). Các danh từ Da cam, Tím, Hồng, Xanh, Xanh lá cây… thực ra chỉ là mật danh quân sự và thể hiện bằng một vòng sơn, rộng khoảng 20cm quanh thùng 200 lít chứa hóa chất để dễ nhận biết trong khi vận chuyển và bảo quản.
Chất độc cam (agent orange/dioxin) là dung dịch màu hồng - nâu hòa tan trong dầu diesel và các dung môi hữu cơ, không hòa tan trong nước; chất độc da cam là hỗn hợp 50 : 50 của hai chất n-butyl ester 2,4D và 2,4,5-T.
Bắt đầu từ chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mỹ đã thực hiện ở chiến trường miền Nam Việt Nam một số lượng hóa chất khổng lồ với kinh phí ban đầu là 12,5 triệu đô la Mỹ lên tới đỉnh điểm là 57,7 triệu đô la. Các công ty cung cấp hóa chất diệt cỏ gồm Dow chemical Co, Diamond Akali Co, Uniroyal chemical Co, Thompson Co , Hercules Co, Monsanto Co, Ansul Co và Thompson, Hayward Co. Đây là 8 công ty lúc đầu, sau này con số công ty cung cấp cho chiến tranh hóa học ở Việt Nam lên tới con số 37.
Cho tới khi thế giới và cả nhân dân Mỹ lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh hóa học tàn bạo vô nhân đạo này của Mỹ thì quân đội Mỹ đã thực hiện 19.905 phi vụ (gồm các loại máy bay UC123, trực thăng H34, C47, C123…) rải chất độc trên 25.585 thôn, bản với diện tích 2.631.297 ha, trong đó có 86% diện tích bị phun rãi hơn 2 lần, 11% diện tích bị phun rải hơn 10 lần. Đông Nam Bộ là vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, trên 56% diện tích tự nhiên bị phun rải. Khoảng 86% lượng chất độc đã được rải lên các vùng rừng rậm, 14% còn lại được dùng để phá hủy ruộng vườn, hoa màu mà chủ yếu là đồng lúa và nương rẫy ở các vùng đồi núi. Diện tích rừng ngập mặn bị ảnh hưởng chất độc là 150 ngàn ha, nặng nề nhất là rừng ngập mặn Cà Mau.
Tổng lượng chất độc hóa học mà quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 100 ngàn tấn các chất độc hóa học khác nhau. Trong đó có 9.000 tấn chất độc CS và 95.000 tấn các chất diệt cỏ CDC. Trong 95.000 tấn đó có tới 65.700 tấn có chứa dioxin với khối lượng lớn từ 366 đến 650 kg, tương đương 44 triệu lít.
Đông Nam Bộ là địa phương có rừng rậm Mã Đà chiến khu D, có sân bay Biên Hòa là nơi hứng chịu nhiều chất độc da cam nhất. Chúng rải để khai quang trụi lá cây rừng, bay đi rải chất độc về còn lại bao nhiêu chúng trút cả xuống đây. Những kho chứa, những bồn chứa rò rỉ, thùng bẹp chúng bỏ bừa bãi trong sân bay. Dư lượng tồn lưu trên khu vực này là rất lớn!
GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG
Đó là cái chết của đại úy phi công Elmo Zumwalt III, con của trung tướng đô đốc hải quân Hoa Kỳ, người trực tiếp ra lệnh cho quân đội Mỹ rải chất diệt cỏ, khai quang lên chiến trường miền Nam Việt Nam. Elmo đã bị ung thư do nhiễm dioxin. Đó là chất độc cam này đã được quân đội Hoa Kỳ “thử nghiệm” tại căn cứ quân sự Mỹ đóng ở Canadian Forces Base Gagetown Brunswick - Canada . Theo Bộ Quốc Phòng  Canada , đã có 200 ngàn nhân viên quân sự đóng quân trong căn cứ CFB từ 1956 – 1984. Số nhân viên này bao gồm binh sĩ của Anh, Scotland và Mỹ đã tiến hành thử nghiệm. Họ cũng bị phơi nhiễm chất độc dioxin. Không những chỉ những người lính bị tác động đến sức khoẻ. Nó là bi kịch của những người vợ và con cái họ đã chết hoặc đau ốm, bệnh tật. Nó cũng là bi kịch của những thường dân làm thuê trong vùng và vùng phụ cận căn cứ. Đó là những người lính của quân đội chư hầu của Mỹ cùng tham chiến ở miền Nam Việt Nam như Hàn Quốc, New Zeiland , Australia …
Ta hãy nghe những lời phát biểu của họ: “…Do bị bưng bít thông tin, đa số nhân dân Hàn Quốc đều không biết về vấn đề này. Một số lớn cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam bị đau ốm mà không rõ nguyên nhân và đã chết ở độ tuổi 40. Họ không hiểu vì sao họ phải chết. Ngay cả các bác sĩ cũng không giải thích được. Nhiều người đã tự vẫn vì không lối thoát và không muốn ảnh hưởng đến gia đình…”/ “…Kết quả là tổ chức đại diện cho các bệnh nhân chất da cam, Hàn quốc đã được chính thức thành lập…”/ “Trong tương lai, bệnh nhân mà chính phủ phải trợ cấp do chất da cam có thể lên tới 100.000 người. Và theo điều tra của Hội này, số cựu chiến binh đã chết bởi chất da cam ước tính vào khoảng 2 vạn người…”. (Trích phát biểu của Trưởng đoàn Cựu chiến binh Hàn Quốc đã tham chiến tại miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Quốc tế nạn nhân chất độc cam/dioxin).
Và đây là tiếng nói của một nguyên sĩ quan quân ngụy quyền Sài Gòn, ông Mai Giảng Vũ người đã trực tiếp rải chất độc hoá học trong thời gian chiến tranh, cũng tại Hội nghị Quốc tế nạn nhân độc cam/dioxin. “Trong khi rải các hoá chất độc hại mà tôi không biết, tưởng thuốc diệt cỏ như các nhà nông họ làm, không ngờ lại nó ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, bao nhiêu thế hệ. Sau chiến tranh 30 năm các nạn nhân ở những vùng bị rãi hoá chất đó vẫn còn các cháu ra đời nhiễm phải bệnh chết  người đó. Nếu tôi biết nó nguy hiểm tôi sẽ không làm, 3 đứa con tôi đâu chết oan uổng thế”. Ba con ông đều bị nhiễm dioxin mà chết.
Còn ở Mỹ thì sao? Ngay từ 1984, các cựu quân nhân bị tác hại do chất độc này gây ra đã khởi kiện 7 Công ty sản xuất chất độc cam/dioxin, trong đó có Dow Chemical Co và Monsanto Co với số tiền bồi thường là 180 triệu USD.
Một làn sóng phản đối tràn khắp nước Mỹ, những quan chức cao cấp trong chính phủ Mỹ cũng lên tiếng đòi  chấm dứt cuộc chiến tranh hoá học vô nhân đạo và bẩn thỉu này.

 CHIẾN TRANH QUA ĐI - NỖI ĐAU CÒN LẠI

Ngày 10/01/2004 thành lập VAVA Việt Nam và Hội đã tiến hành khởi kiện các công ty hoá chất Mỹ đã sản xuất và cung cấp chất độc hoá học cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, đòi bồi thường tất cả những thiệt hại. Vụ kiện phải dừng lại ở Toà phúc thẩm Hoa Kỳ??
Chúng ta những người Việt Nam đang sống trên quê hương mình đều nhận thức được rằng: Kể từ ngày 10/08/1961 đến ngày 31/10/1971, trong 10 năm 2 tháng, quân đội Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh hoá học, hay nói một cách chính xác hơn là một cuộc chiến tranh sinh thái có qui mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Nó tác hại nghiêm trọng đối với môi trường và sức khoẻ con người hiện tại và cả mai sau.
Nhìn vào bản đồ Việt Nam, chúng ta đau xót thấy những vùng bị chất độc cam tàn phá nặng nề. Rừng, núi, trảng, dòng sông, bờ biển… ở đây như những vết bỏng trên thân mình Tổ quốc ta. Trước năm 1960 độ che phủ rừng tự nhiên từ nam vĩ tuyến 17 trở vào là 60 – 70%.  Tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng. Rừng có trữ lượng gỗ khoảng 200 – 300 m3/ha có các cây gỗ quý đường kính 1 đến 2 mét, cao từ 30 – 40 mét. Dưới tán rừng là nơi sinh sống của nhiều động vật quý, nay vì chất độc cam/dioxin mà có giống bị tiêu diệt hoàn toàn.
Chất độc hoá học đã tàn phá huỷ diệt khoảng 1,7 triệu ha rừng. Hệ quả của nó là trên đầu nguồn các con sông lớn như Bến Hải (Hiền Lương), sông Hương, sông Hàn, sông Ba, sông Đồng Nai, Vàm Cỏ…gió bão, lũ lụt và nhiều yếu tố tự nhiên khác làm cho chất độc hoá học truyền lan gần như toàn bộ diện tích đất đai miền Nam Việt Nam. Toàn bộ thảm thực vật bị huỷ diệt làm cho chất lượng đất biến đổi, bề mặt đất bị xói mòn rửa trôi, cấu trúc thổ nhưỡng bị thay đổi ngày càng nghèo kiệt. Chất phát quang đi đến đâu thì mặt đất chỉ còn lại sỏi đá khô cằn.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam , tôi có đi thăm nhiều nơi. Nơi nào bị rải chất độc thì nơi đó có rất nhiều cỏ đuôi chồn mà người dân thường gọi là cỏ Mỹ (tên khoa học Pennisetum polystachym) và các loại cỏ tranh, lau, sậy…đua nhau mọc. Còn các loại cây khác thì không sao mọc nổi. Chất độc cam/dioxin ngấm vào lòng đất còn để lại hậu quả cho cả trăm năm sau và đối với con người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cuộc chiến tranh hoá học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam đã làm cho hơn 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, trong đó có 3 triệu người là nạn nhân. Hàng vạn người đã chết. Hàng triệu người mắc các chứng bệnh: bệnh ung thư gan nguyên phát, ung thư tổ chức phần mềm, Ulymphô ác tính, bệnh Hodgkin, ung thư đường hô hấp (thanh quản, khí phế quản, phổi), ung thư tiền liệt tuyến. Và các bệnh rối loạn chuyển hoá, lipit có tai biến mạch máu não, bệnh động mạch vành; gluxit có đái tháo đường. Bệnh thần kinh có ngoại vi cấp và mãn, da u tuỷ (multiple myeloma). Bệnh ngoài da thì có xạm da, nhiễm porphyrin da chậm và các bệnh thường gặp ở phụ nữ: sẩy thai, đẻ non, con chết lưu (tử tại phúc trung), chửa trứng, ung thư màng nuôi…Các loại dị tật bẩm sinh, quái thai xuất hiện trên nhiều người và cũng có thể xẩy ra ở thế hệ thứ hai (cháu).
Tôi nghĩ rằng để khắc phục hậu quả cuộc chiến tranh hoá học này, 2 vấn đề cơ bản được đặt ra: tẩy độc môi trường và chăm lo sức khoẻ nạn nhân chất độc cam/dioxin. Chúng ta hãy lắng nghe từ phía kẻ thù, bên kia chiến tuyến: “…Hôm nay là một ngày rất quan trọng với nước Mỹ để tiến thêm một bước làm giảm nhẹ những nỗi đau thương mà đất nước chúng ta đã vô tình gây nên cho những con người của mình khi buộc họ tiếp xúc với chất độc cam/dioxin  ở Việt Nam. Hơn hai thập kỷ qua các cựu chiến binh đã than phiền rằng việc tiếp xúc với chất độc cam/dioxin trước khi họ rời chiến trường đang giết dần, giết mòn và thậm chí tổn thương đến con cái của họ…”.
“…Cuối cùng, tôi cũng rất cám ơn người bạn cũ lâu năm của tôi – Đô đốc Zumwalt - người đã đấu tranh xuất sắc nhất cho các cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam…Không ai có thể làm tốt hơn ông trong việc làm sáng tỏ tác hại của chất độc  cam/dioxin. Không ai biết rõ hơn và nhận trách nhiệm cá nhân (nhấn mạnh của tác giả XB) tốt hơn ông về những hành động của chúng ta…”
Như thế là phía Mỹ, như lời cựu tổng thống Bill Clinton phát biểu tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng khi ông đương nhiệm công bố thêm những loại bệnh do chất độc  cam/dioxin gây nên (ngày 28.5.1996). Ông ta cũng có nhắc đến một người bạn cũ, đô đốc hải quân Zumwalt, người đã trực tiếp ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ rãi chất độc cam lên Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Zumwalt đã sám hối vì trong cuộc chiến tranh hoá học này, người con thứ 3 của đô đốc, đại úy Elmo Zumwalt đã phải trả giá khi anh ta ngày ngày ngược xuôi trên các dòng sông, trên các con kênh để kiểm tra việc rãi chất độc cam/dioxin này. Anh ta đã bơi lội, tắm táp, ăn uống trên những dòng nước này và kết cục là căn bệnh ung thư do nhiễm chất độc  cam/dioxin đã cướp mất mạng sống. Oái ăm thay! Rõ ràng không ai biết rõ hơn và nhận trách nhiệm tốt hơn Zumwalt. Và cũng đau đớn như bao người bố khác: mất con vì chất độc cam /dioxin.
TỔNG THỐNG BIẾT TOÀ ÁN LÀM NGƠ
Và toà án Liên bang Mỹ (Quận Tây Brooklyn New York ). Cấp sơ thẩm đã tiếp nhận đơn của VAVA Việt Nam cùng một số nạn nhân khởi kiện 37 công ty Mỹ sản xuất hoá chất độc hại ngày 30.1.2004. Một năm sau, ngày 28.2.2005 tranh tụng miệng tại Toà sơ thẩm. Mười ngày sau đó, thẩm phán Jack Weinstein ra phán quyết bác bỏ đơn kiện với lý do ngây ngô rằng: “không thừa nhận chất da cam là chất độc hại đối với con người”. Phía ta, tiếp tục kháng cáo lên Toà phúc thẩm New York . Ngày 22.2.2008 Toà phúc thẩm lưu động số 2 New York đã đồng ý với phán quyết của Toà án sơ thẩm (10.3.2005) rằng; “việc sử dụng chất độc của Mỹ không cố ý gây thiệt hại cho con người Việt Nam ”.
Nhân dân Việt Nam vô cùng phẫn nộ và hết sức bất bình trước Quyết định sai lầm và bất công của Toà án Tối cao Hoa Kỳ. Quyết định phi lý này được đưa ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam có nhiều cố gắng để góp phần khắc phục hậu quả của chất độc cam/dioxin ở Việt Nam.
Dù không được kiện trước Toà án liên bang Hoa Kỳ, nhưng vụ kiện đã thu được những thắng lợi có ý nghĩa tích cực, đáng khích lệ. Nổi bật là ở trong nước, vụ kiện đã thúc đẩy phong trào đòi công lý, tạo ra sự thông cảm sâu sắc và giúp đỡ mạnh mẽ các nạn nhân nhiễm chất độc cam/dioxin.
Với thế giới, vụ kiện nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân các nước. Vụ kiện phơi bày ra trước nhân loại mọi thủ đoạn phía Hoa Kỳ đã che giấu hơn 30 năm nay của các công ty hoá chất Mỹ. Nó đã trở thành một phong trào rộng lớn mang tính quốc tế và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cuộc đấu tranh trực diện về mặt pháp lý tại Toà án Mỹ, kết hợp với cuộc đấu tranh ngoài toà, được sự ủng hộ của các bạn Mỹ. Vụ kiện này, chúng ta đã thắng trên mặt trận chính trị và nhân văn.
Rõ ràng, Toà án Hoa Kỳ đã chà đạp lên công lý, bất chấp đạo lý. Đây là một phán quyết phi lý và sai lầm. Người Mỹ thường lớn tiếng dạy thiên hạ về quyền con người, nhưng ở đây họ đã bỏ lỡ cơ hội thể hiện tôn trọng nhân quyền. Đây là một phán quyết đáng hổ thẹn!.
Những đau khổ và di họa chất độc cam/dioxin gây ra sẽ tiếp tục làm rớm máu trái tim nhân loại.
Cuộc chiến đấu để đi đến thắng lợi của vụ kiện vẫn tiếp tục…

Bài 2 .KHÚC SÁM HỐI
                                                                   Nhà báo, nhà thơ Xuân Bảo
      Đô đốc Elmo Russell Zumwalt, Jr là Tư lệnh Hải quân Mỹ, đặc trách Lực lượng duyên hải và đường sông thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Sau này ông được thăng tiến lên chức Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ, chính là người đã phát động chiến dịch Ranch Hand, rải chất độc hóa học tại Việt Nam trong suốt một giai đoạn rất dài của cuộc chiến, để lại nhiều di họa cho đất nước Việt Nam cũng như nước Mỹ và chính gia đình ông. Ba cha con dòng họ Zumwalt đều có mặt tại chiến trường Nam Việt Nam.
       Ông có hai người con trai. Con đầu là trung úy Elmo Russell Zumwalt III đã chết ở tuổi 42 vì nhiễm chất độc cam/dioxin do chính cha mình ra lệnh rải xuống chiến trường Việt Nam.
   Và người con thứ hai là trung tá Thủy quân lục chiến James G. Zumwalt, người may mắn thoát chết trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu này. Sau này ông ta trở thành nhà báo cựu chiến binh và là chủ tịch công ty Tư vấn An ninh mang tên cha mình : Công ty Admiral Zumwalt & Consultants, Inc. Ngoài Việt Nam, James còn tham gia cuộc can thiệp quân sự của Mỹ vào Panama năm 1989 và chiến dịch Bão táp sa mạc tại Vùng Vịnh, Iraq năm 1990-1991. Sau chặng đường binh nghiệp, với vốn sống chiến tranh, ông trở thành một diễn giả, tác giả của hàng loạt bài viết về quân sự và chính sách đối ngoại trên các báo và tạp chí nổi tiếng của Mỹ như USA Today, The Washington Post, The New York Times, The Washington Times…Sau những chuyến trở lại Việt Nam, ông đã viết cuốn sách Chân trần, Chí thép. (Bare  Feet, Iron Will). Cuốn sách xuất bản ở Mỹ ngày 26-4-2010 và đã gây tiếng vang lớn và thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận Mỹ. Cuốn sách đã được dịch ra Việt ngữ, được thượng tướng Phan Trung Kiên , Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đề tựa.
                                                          ***
        Chúng ta hãy nghe những lời thú nhận của kẻ thù về cuộc chiến tranh hóa học tàn bạo nhất của người Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam. Những điều viết ra đây được rút ra từ  cuốn sách Bare Feet, Iron Will ( Chân tran,Chi thep) . của James G Zumwalt
James viết :
        “… Gia đình tôi có một truyền thống binh nghiệp đáng tự hào, hầu như mỗi cuộc chiến mà nước Mỹ tham gia, kể từ Cách mạng Mỹ đến nay đều có it nhất một người mang họ Zumwalt phục vụ. Bạn bè thân thiết không hề ngạc nhiên khi  biết rằng tất cả các thành viên nam trong gia đình trực hệ của tôi đều xung phong phục vụ tại Việt Nam.
        Từ năm 1968 đến 1970, người cha đã quá cố của tôi, Elmo R. Zumwalt Jr, là phó đô đốc chỉ huy Lực lượng Hải quân tại Việt Nam, trong vai trò   Comnavforv ( Commanda Naval Forces VietNam – Tư lệnh Hải lực tại Việt Nam ), ông chỉ huy tất cả lực lượng duyên hải và đường sông của Hải quân Mỹ tham chiến tại Nam Việt Nam.
        Trong số những chiến binh đường sông dũng cảm của Mỹ hoạt động trong lực lượng “Hải quân nước nâu” ( tức hệ thống đường sông nội địa ở Việt Nam ) có người anh trai của tôi, trung úy Hải quân Elmo. R. Zumwalt III, từng đuợc biên chế về một vị trí khá nhàn trên khu trục hạm ở Norfolk, Virginia. Elmo tự cảm thấy có bổn phận phải phục vụ ở chiến trường Việt Nam…
        Elmo đã đến Việt Nam để đảm nhận vị trí chỉ huy duy nhất trong sự nghiệp hải quân ngắn ngủi – thuyền trưởng  một tàu tuần tra đường sông, thường gọi là “tàu nhanh”- PCF 35 ( viết tắt của Patrol Craft Fast ) là tư lệnh tàu cao tốc. Elmo nằm dưới quyền chỉ huy của một guồng máy do cha tôi đứng đầu. Cha tôi là một người đàn ông đầy đam mê và thông tuệ. Tôi không tin có lúc nào đó ông đưa ra một quyết định quân sự mà không cân nhắc những tác hại của nó đối với người lính. Nhưng trong giai đoạn mới nắm quyền chỉ huy tại Việt Nam, có khi ông ở vào hoàn cảnh không thấy hết được tác động từ quyết định của mình,dù quyết định ấy đã giúp đạt được mục  tiêu giảm thương vong cho Hải quân Mỹ.Ông không thể ngờ rằng nó cũng chính là nguyên nhân cướp đi mạng sống của người con trai cùng tên vói ông!
        Các nhà sản xuất chất diệt cỏ cam đoan với chính phủ Mỹ rằng sản phẩm của họ không gây hại cho con người. Tin vào lời cam đoan đó, cha tôi đã ra lệnh rải cái chất độc đó xuống dọc các bờ sông nơi quân của ông thường tuần tra bằng tàu thủy.
        Việc làm này đã cho phép hàng chục ngàn lính thủy, vốn đối mặt với nguy cơ thương vong cao có thể trở về nhà. Nhưng phải rất nhiều năm sau thì những người này mới phát hiện ra rằng cuộc chiến sinh tồn của họ còn lâu mới kết thúc. Họ đã trở về nhà với quả bom hóa học nổ chậm trong người. Chất diệt cỏ mà họ bị phơi nhiễm, chất độc cam, trái với cam đoan của các nhà sản xuất, là chất gây ung thư. ( Mười sáu năm sau đó, cha tôi mới biết được rằng các hãng sản xuất chẳng những sai lầm trong việc khẳng định tính vô hại của chất này đối với người, mà trong vài trường hợp họ còn nói khác đi so với những gì họ biết)…
        Bị phơi nhiễm nặng chất độc cam trong thời gian phục vụ tại Việt Nam, nhiều cựu chiến binh đã chịu đựng hậu quả khủng khiếp về sức khỏe với quả bom nổ chậm phát nổ sau quãng thời gian dài ngắn khác nhau. Đối với vài người vụ nổ đến rất sớm, khi những đứa con họ sinh ra sau thời gian phơi nhiễm gặp nhiều vấn đề về sức khỏe. Đối với số khác, thời gian phát nổ đến chậm hơn, có khi phải 10,15, thậm chí 20 năm sau, khi nhiều loại ung thư mà nay Bộ Cựu chiến binh Mỹ đã  thừa nhận là có liên quan tới chất độc cam tấn công họ. Anh trai tôi nằm trong số những nạn nhân bị ung thư liên quan tới chất độc cam.
        Cha tôi đã giành tất cả thời gian giúp Elmo chống chọi với căn bệnh ung thư.Cùng nhau, họ tìm kiếm tất cả  các giải pháp có thể. Ban đầu , họ tập trung vào các phương pháp y khoa để điều trị. Về cuối họ tìm mọi cách để làm chậm sự phát triển chết chóc của căn bệnh. Sự gắn bó của họ là vô cùng mật thiết. Có thể nói tình cảm cha con giữa hai người la không ai có thể sánh được. Tình cảm ấy đã được diễn tả khá  đầy đủ trong lá thư mà Elmo viết cho cha tôi không bao lâu trước khi anh qua đời. Thư anh viết : Ba thân yêu, cả ở Việt Nam lẫn đối với căn bệnh ung thư của con, chúng ta đã cùng nhau chiến đấu và cùng thất bại. Nhưng, chúng ta luôn biết rằng ngay khi lâm vào một trận chiến tuyệt vọng, tình yeu của chúng ta cũng không cho phép thối chí, bất chấp nguy cơ lớn nhường nào, chúng ta  cũng không từ bỏ…Con yêu ba vô ngần. Con muốn được chiến đấu bên cạnh ba biết bao ! Ba luôn tạo ra sự khác biệt. Ba đã làm cho cuộc chiến  cuối cùng của con, trên hành trình tới cõi chết trở nên nhẹ nhàng và nhân văn hơn. Con yêu ba!...
        
Vào ngày 13 tháng 8 năm 1988, cuộc chiến cuối cùng mà họ sát cánh bên nhau đã kết thúc. Sau 5 năm dũng cảm chiến đấu với bệnh tật, Elmo đã qua đời ở độ tuổi 42 ! Cũng như cuộc chiến ở Việt Nam, anhERZ Bio Cover đã anh dũng chống lại một kẻ thù giấu mặt, để rồi cuối cùng phải nhận lấy thất bại trước kẻ địch quyết đoán hơn,..
       Sau cái chết của Elmo, cha tôi bắt đầu một sự nghiệp mới-thuyết phục chính phủ Mỹ thừa nhận những ảnh hưởng của chất độc cam lên sức khỏe của con người và bồi thường cho các cựu chiến binh Việt Nam bị ảnh hưởng. Một phần nào đó, cái chết của Elmo thúc đẩy cha tôi tham gia cuộc đấu tranh, nhưng mặt khác việc tham gia của ông cũng xuất phát từ niềm tin thường trực nơi ông, rằng trách nhiệm của các tư lệnh chiến trường đối với binh sĩ không kết thúc khi cuộc chiến đã chấm dứt”…
                                                          ***                                                                                                                                   
        Tháng 9 năm 1994, Đô đốc Zumwalt trở lại Việt Nam. Đây là vị tư lệnh cấp cao nhất  thời chiến tranh quay lại Việt Nam. Chuyến đi này có con trai thứ hai tháp tùng- trung tá James G. Zumwalt. Mục đích chuyến đi là để tìm kiếm  sự hợp tác từ Hà Nội để triển khai một cuộc nghiên cứu chung về chất độc cam/dioxin.
        Một bi kịch lớn đã xẩy ra trong một gia đình có truyền thống binh nghiệp. Nhưng bi kịch lớn hơn là cả hai dân tộc chúng ta Việt Nam và Hoa Kỳ, cách nhau hai bờ đại dương, chẳng có thù hận gì nhau, chẳng có mối hận truyền kiếp nào mà phải gánh chịu di họa nặng nề, lâu dài đến cả những thế hệ con cháu chúng ta từ một cuộc chiến tranh  hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại !
        Có một bài thơ của môt tác giả khuyết danh đề trên một tấm bảng. Bài thơ nằm giữa đống đổ nát của một ngôi nhà, khi quân Giải phóng tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Bài thơ có nhan đề là :
                  Xin đừng quên
                  Không vì danh tiếng hay sự tưởng thưởng
                  Không vì địa vị hay phẩm hàm
                  Không bị tham vọng dẫn dắt hay mệnh lệnh bắt buộc
                  Chỉ đơn giản là bởi quyết tâm phụng sự
                  Những người này đã chịu đắng cay
                  Dã dám đối mặt với tất cả, và đã chết
                  Xin đừng quên, xin đừng quên
                                                ***
 Bên bờ Phước Long Giang, sau ngày Quốc tế Lao động một ngày.Ngày 2 tháng 5 năm 2017.

Xuân Bảo

Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

187. Một kỷ niệm với nữ sĩ Ngân Giang

187.MỘT KỶ NIỆM VỚI LỚP HỘI VIÊN HỘI NHÀ VĂN ĐẦU TIÊN.
          (Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam 1957-2017.)
Tôi xin kể vài nét về nữ sĩ Ngân Giang đểu hầu bạn đọc.  Bà tên thật là Đỗ Thị Quế. Các bút danh khác Hạnh Liên, Đỗ Quế Anh, Nguyệt Quyên sinh ngày 20/3/1916 trong một gia đình Nho học ở phố Hàng Trống Hà Nội. Quê gốc làng Hướng Dương, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Ông ngoại của bà là hậu duệ của chúa Trịnh Sâm, ông nội là một nho sĩ nổi tiếng đất Bắc Hà, bạn thân của Đại thi hào Nguyễn Du. Lên 6 tuổi Ngân Giang được cha dạy chữ Hán và học “ké” chữ Quốc ngữ một thày hàng xóm. Người bác gái dạy cho làm thơ Đường luật.
 Lên tám, Ngân Giang đã có bài thơ đầu tiên mang tựa đề Vịnh Kiều đăng trên báo Đông Pháp với bút danh Nguyệt Quyên..Năm 16 tuổi bà in tập thơ đầu tiên Giọt lệ xuân, ký bút danh Hạnh Liên. 20 tuổi bà viết cho Ngọ báo. 21 tuổi bà có thơ in chung trong cuốn Duyên Văn.22 tuổi bà rời Hà Nội vào Sài Gòn, viết cho các tờ Điện Tín nhật báo và báo Mai. Sau bà trở ra Hà Nội viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Đàn Bà. Năm 1939, thi phẩm Trưng nữ vương ra mắt, gây tiếng vang trên thi đàn.
Đầu năm 1944, Ngân Giang tham gia Mặt trận Việt Minh. Trong năm này, bà cho in tập thơ Tiếng vọng sông Ngân. Năm  1946, Ngân Giang phụ trách Ban Lễ tân Bộ Nội vụ, cho in cuốn Những ngày trong hiến binh Nhật. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bà ra chiến khu công tác tại Sở Tuyên truyền Liên khu I. Do hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn, năm 1949 bà hồi cư về lại Hà Nội, vẫn làm thơ đăng trên các báo Hồ Gươm, Quê hương, Tia sáng, Giang sơn…ký bút danh “Nàng Không tên”.
Hòa bình lập lại.Năm 1954 bà làm việc ở Sở Văn hóa Hà Nội. Năm 1957,thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, bà được kết nạp chính thức vào Hội. Đây là lớp hội viên đầu tiên của Hội Nhà Văn Việt Nam. Từ năm 1958 đến năm 1961 bà làm việc tại Hội Nhà văn. Chả hiểu vì sao bà về quê gốc sinh sống và hoạt động văn nghệ quần chúng???. Có một người đàn ông bị bà khước từ quan hệ nên bị ông ta thù ghét và vu cáo bà thuộc nhóm Nhân văn-Giai phẩm. Buồn chán Ngân Giang quay về Hà Nội, để rồi ngày ngày ra bãi sông Hồng quét lá khô để bán, tối về rửa bát thuê, nhưng cũng chỉ đủ tiền mua gạo nấu cháo cho những đứa con lay lắt sống qua ngày. Khi không còn sức lực quét lá nữa bà ra đầu đường mở quán chè chén bán nước.
Có một Vụ án từ một bài thơ. Chuyện là thế này: Sau ngày tiếp quản thủ đô (10-10-1954), luật sư, dân gian thường gọi là trạng sư hay thày cãi Nguyễn Thành Vĩnh, phó chánh án Tòa án Hà Nội nhận được đơn kiện vợ. Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Hàm, chồng. Bị đơn là bà Đỗ Thị Quế, vợ. Tang vật chứng chỉ có duy nhất một bài thơ. Nguyên văn bài thơ như sau (không có tựa đề):
          Đêm nay thôi đã mấy đêm rồi!
          Ai biết đâu rằng ai nhớ ai?
          Lất phất hoa bay vào cửa vắng
          Nghiêng nghiêng mưa hắt mái hiên ngoài
          Trăng soi đã hẳn soi hai ngả
          Gió lạnh sao đành lạnh một nơi
          Cầm bút toan đề thơ lại đặt…
          Gối nào nước mắt có rơi rơi?!
 Đây là bài thơ bà Đỗ Thị Quế viết từ những năm 1949,1950 khi bà dắt díu đàn con từ chiến khu  hồi cư Hà Nội. Bà bùi ngùi thương nhớ các anh, các chị ngoài kháng chiến gian khổ mà cũng tủi phận mình nửa đường bỏ cuộc. Bài thơ được chép trong sổ tay.Lâu ngày bà Quế cũng quên đi.Thế rồi ông Hàm vô tình nhặt được và cho là có ý ngoại tình nên ông đâm đơn ra tòa đòi ly dỵ.
        Trạng sư Nguyễn Thành Vĩnh, khi xem xét hồ sơ, cảm thấy bài thơ hay nên nổi máu nghệ sĩ làm luôn bài họa:
         Đèn rong xem đã mấy đơn rồi
                  Thao thức canh trường những xót ai!
                  Tài nức tao đàn hoa gác phượng,
                  Thân cam tù túng phận hiên ngoài,
                  Cô đơn dị mộng tuy chung gối
                  Tri kỷ tương phùng vẫn cách nơi
                  Giải phóng mới rồi vươn cánh rộng
                  Tiếng thơ dìu dặt ngọc vàng rơi.
  PhiênTòa được mở sau đó vài tháng và cũng chỉ diễn ra khoảng một giờ đồng hồ.Thay mặt Tòa, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh hỏi nguyên đơn:
 - Ông Nguyễn Văn Hàm có chấp nhận bản án ly hôn với bà Đỗ Thị Quế hay còn có khiếu nại gì không?
 - Thưa quý Tòa,tôi chấp thuận hoàn toàn.
-  Tòa hỏi bị đơn:
-  Vậy ý kiến của bà Đỗ Thị Quế?
          Bà Đỗ Thị Quế đứng dậy vừa nói vừa có vẻ như cười. Bà bình thản:
 - Thưa quý Tòa. Tôi làm thơ từ lúc 6 tuổi.Thay vì nói, tôi xin đọc mấy vần thơ tâm trạng:
         Ngày chửa sang thu đã thấy buồn
         Tình chưa ngời sáng đã hoàng hôn
         Thân không trời đất mà mưa gió
         Người ở đầu thôn, mộng cuối thôn
Cả phòng xử án sửng sờ và cảm phục tài thơ của bà Đỗ Thị Quế, tức nữ sĩ tài hoa Ngân Giang.
                                                                   ***
Có một thi thoại gây chấn động Sài Thành lúc bấy giờ là: Giáo sư Lâm Tấn Phát, tức nhà thơ Đông Hồ,( chồng nữ sĩ Mộng Tuyết), giảng viên Đại học Văn khoa Sài Gòn đang trên bục giảng, giảng bài thơ Trưng nữ vương của Ngân Giang, đến đoạn kết:

Ải Bắc quân thù kình vó ngựa
   Giáp vàng, khăn lạnh trở đầu voi
   Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá,
   Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi
Nhưng chỉ tới câu thứ ba (Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá) thì giáo sư xúc động  ngất lịm đi, và ông từ giã cuộc đời giữa cái tang của Thi Sách. Bài thơ gây xúc động mãnh liệt đến nỗi giáo sư bị đột quỵ. Ông ra đi vào ngày 25-3-1969, ở độ tuổi 63.
Nữ sĩ Ngân Giang sống hẩm hiu như vậy, trải hơn 30 năm giữa lòng Hà Nội ngàn năm văn hiến cho đến ngày 17 tháng 8 năm 2002 thì từ giã trần gian và được đưa về chôn tại quê gốc làng Hướng Dương, huyện Thường Tín, nay thuộc Hà Nội.
Những năm bà còn sống ở bãi Nghĩa Dũng, Hoàng Quốc Hải và một số văn nhân Hà Thành như Nguyễn Tuân, Hoàng Tiến, Trần Lê Văn…thường ra bãi thăm nữ sĩ, đàm đạo văn chương.
          Nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội hôm nay có đến hàng ngàn hội viên. Tự nhiên tôi thấy đau buồn và không quên nhớ đến một tài thơ của đất nước bị lãng quên trong xót xa!
Và đây là bài thơ Trưng Nữ Vương của nữ sĩ Ngân Giang:
Trưng Nữ Vương
Thù hận đôi lần chau khoé hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi

Ngang dọc non sông đuờng kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đoá mai

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi

Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời...

Ải bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá,
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi
1939
                       
(Bên bờ Phước Long Giang, đêm 12 tháng 3 Đinh Dậu)
Nhà thơ Xuân Bảo, tức Tú Sừng, Trực Ngôn  


Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

185. Thăm Thủy điện Hòa Binh

XUÂN ĐINH DẬU HÀ THÀNH DU KÝ.

 4.Thăm Thủy điện Hòa Bình.

Đà Giang hung bạo và trữ tình.

Cũng như Cụ Nguyễn, tôi không thích kiểu dịch sang tiếng Anh (black river) và sang tiếng Pháp (rivière noire), sông Đà thành sông Đen. Nước Đà Giang chẳng bao giờ là màu đen?
Hãy nghe Cụ Nguyễn tả về màu sắc của Sông Đà: …“Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội vì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy Sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây lếu láo, rồi cứ thế mà phết vào bản đồ lai chữ.”(Tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân – 1960.)

Sông Đà (còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang) là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng. Sông bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam để rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ.
Sông Đà dài gần 1000km (có tài liệu ghi 983 km), diện tích lưu vực là 52.900 km². Ở Trung Quốc, sông có tên là Lý Tiên Giang, do hai nhánh Bả Biên Giang và A Mặc Giang hợp thành.  Đoạn ở Trung Quốc dài khoảng 400 km từ núi Nguy Bảo ở huyện tự trị người Di, người Hồi Nguy Sơn phía nam châu tự trị dân tộc Bạch Đại Lý chảy theo hướng tây bắc - đông nam qua Phổ Nhĩ.
Đoạn ở Việt Nam dài 527 km. Chỉ đứng thứ 2 sau sông Đồng Nai (586 km) về độ dài của những con sông Việt Nam. Điểm đầu là biên giới Việt Nam-Trung Quốc tại huyện Mường Tè (Lai Châu). Sông chảy qua các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ (phân chia huyện Thanh Thủy, Phú Thọ với Ba Vì, Hà Nội). Điểm cuối là ngã ba Hồng Đà, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Đoạn đầu sông trên lãnh thổ Việt Nam, sông Đà còn được gọi là Nậm Tè. Các phụ lưu trên lãnh thổ Việt Nam gồm Nậm Na (ở tả ngạn), Nậm Mức (ở hữu ngạn).Nậm có nghĩ là nước.
Lê Quý Đôn viết về sông Đà như sau:"... Sông Đà ở về bên trái sông Mã, phát nguyên từ châu Ninh Viễn tỉnh Vân Nam Trung Quốc, chảy đến bên phải chỗ ngã ba thuộc huyện Kiến Thủy, ... (Đoạn này Quý Đôn nói về sông Mê Kông và nhầm 2 sông thông với nhau) ..., về đường chính có một chi chảy xuống làm thành sông Hắc Thủy, chảy qua Tuy Phụ (Mường Tè), Hoàng Nham (Mường Tông), Khiêm Châu đến Mường Lễ thuộc Lai Châu nước ta. Về bên trái là sông Na, từ sông Kim Tử (Kim Thủy Hà, châu Quảng Lăng (Mãnh Lạp, Meng La)) chảy đến hội tụ, đấy là sông Đà, nước sông trong suốt, chảy xuống các động Phù Tây, Hảo Tế thuộc châu Quỳnh Nhai, về bên trái hợp lưu với Tề Giang chảy qua các xứ Vạn Mỏ thuộc châu Thuận, Vạn châu, Vạn Lộc thuộc châu Mai Sơn, Vạn Thụy, Vạn Giang, Hinh Miêng thuộc châu Mộc đều về bên phải. Đường sông thác ghềnh hiểm trở, gồm 83 thác có tiếng (tên), mà Vạn Bờ là thác nguy hiểm thứ nhất, bờ bên phải là Thượng Động, Hạ Động thuộc châu Mai, bờ bên trái là các động Tân An, Hào Tráng, Hiền Lương, Dĩ Lý thuộc châu Mộc. Hạ lưu, về bên trái chảy qua Vĩnh Điều, Thái Hòa, Vô Song, Sơn Bạn, Tu Vũ, Phượng Mao, Lăng Sương, Đồng Luận, Đoan Thượng, Đoan Hạ, Bảo Khang, Thượng Lạc, Đồng Lâm, La Phù, Hoa Thôn, Thạch Uyển, Quang Bị, Hạ Bì, La Thượng, La Hạ thuộc huyện Bất Bạt, đến Hoàng Cương, Hạ Nông và xứ Gót Nung thuộc huyện Tam Nông hợp lưu với sông Thao."
Lưu vực có tiềm năng tài nguyên to lớn với nhiều loại khoáng sản quý hiếm, các hệ sinh thái đặc trưng các nguồn sinh vật với mức đa dạng sinh học cao.Hiện tại đã có 10 cây cầu bắc qua sông Đà.
Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp 31% lượng nước cho sông Hồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam. Năm 1994, khánh thành nhà máy thủy điện Hoà Bình có công suất 1.920 MW với 8 tổ máy. Năm 2005, khởi công công trình thủy điện Sơn La với công suất theo thiết kế là 2.400 MW. Đang xây dựng nhà máy thủy điện Lai Châu 1.200 MW, dự kiến hoàn thành tháng 12 năm 2016. Ở thượng nguồn con sông này còn thủy điện Huội Quảng – Bản Chát có công suất 740MW. Như vậy Sông Đà đã cung cấp cho đất nước với tổng công suất 5 nhà máy thủy điện này lên tới 6.260 MW.
 Thủy điện Hòa Bình được coi là công trình thế kỷ, lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ, nhưng so với Thủy điện Sơn La “con rồng thủy điện” lớn nhất của nước ta thì cũng là “đàn em” mà thôi.
                                                ***
Như vậy, có thể nói công việc “trị thủy Sông Đà” đã thành công mỹ mãn. Tinh thần lao động không mệt mỏi của hàng vạn công nhân, kỹ sư, công trình sư và hàng ngàn bộ óc của con người được trang bị những kiến thức tầm cỡ thời đại đã bắt dòng sông hung bạo này trở nên hiền hòa, trữ tình.

           Ngày nay, chúng ta và mãi mãi sau này con cháu chúng ta có thể ung dung dạo thuyền trên 5 cái lòng hồ mênh mang mà trước đây là nơi mà 83 cái thác ghềnh nổi tiếng hiểm trở, hung dữ mà Vạn Bờ là nguy hiểm nhất ngự trị. Chỗ đó, ngày xưa là thác Bờ, chợ Bờ, động Thác Bờ và ngày nay là khu du lịch Thung Nai đẹp và hấp dẫn nhất Xứ Mường! Chỗ đó, giờ đây là 2 ngôi đền thờ Bà Chúa thác Bờ - người con gái của dân tộc Dao và dân tộc Mường đã có công giúp vua Lê đánh đánh thắng lũ xâm lược phương bắc.

Thư của những người thợ điện gửi thế hệ 2100.

Tại sân Nhà truyền thống Thủy điện Hòa Bình có một khối bê tông hình chóp cụt, trên đó có tấm biển thép khắc chìm dòng chữ: "Nơi lưu giữ bức thư của những người xây dựng Thủy điện Hòa Bình gửi thế hệ mai sau. Thư sẽ được mở vào ngày 1-1-2100". "Kho lưu trữ" lá thư thực chất chỉ là một khối bê tông hình chóp cụt tứ giác đều (4 mặt bên hình thang) có cạnh đáy 2 mét, chiều cao 1,8 mét, cạnh trên 0,8 mét, nặng gần 10 tấn. Sau khi được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng và đồng chí Đỗ Mười đồng ý, lãnh đạo Tổng Công ty Xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình mời một số nhà văn, nhà báo, nhà trí thức tham gia viết thư. Tuy nhiên, đồng chí Đỗ Mười cũng khuyên là vì Việt Nam chưa có tục lệ này, cho nên không được "chôn" vào lòng đập mà nên đặt ở chỗ nào trang trọng. Và thế là sau khi bàn bạc với chuyên gia Liên Xô, lãnh đạo tổng công ty quyết định đặt lá thư đó vào lòng khối bê tông. Lá thư hiện nay để trong khối bê tông là một công trình tập thể. Sau khi lá thư được hoàn chỉnh về nội dung, một cán bộ viết chữ đẹp được giao nhiệm vụ chép hai bản đó với tiếng Việt và tiếng Nga bằng mực Tàu.
          Cuối năm 1956, trên những chiếc xe ca mang nhãn hiệu Trai-ca (tiếng Nga dịch sang tiếng Việt là Hải âu) của nhân dân Liên Xô viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đoàn cán bộ tăng cường cho Khu Tư trị Thái Mèo (sau đổi thành Khu Tự trị Tây Bắc) lên đến thị xã Hòa Bình trong một buổi sáng đẹp trời. Đoàn được Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình đón tiếp rất nồng nhiệt. Trong buổi gặp gỡ này có một số học sinh con em miền Nam cùng dự. Tôi có chụp mấy kiểu ảnh để làm kỷ niệm. Tôi nhớ có 2 em lớn nhất lớp tên là Ngọc Nữ và Lệ Thu. Lâu quá, ảnh mất mà tin người cũng vắng?!
          Đoàn chúng tôi được ra thăm Sông Đà.  Đây là đoạn sông mà sau này, Việt Nam và Liên Xô khởi công xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình. Nhà máy do Liên Xô giúp đỡ xây dựng và vận hành. Trước khi nhà máy thủy điện Sơn La khánh thành thì đây là nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á.
Công trình khởi công xây dựng ngày 6 tháng 11 năm 1979, khánh thành ngày 20 tháng 12 năm 1994. Công suất sản sinh điện năng theo thiết kế là 1.920 megawatt, gồm 8 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 240 MW. Sản lượng điện hàng năm là 8,16 tỷ kilowatt giờ (KWh).
Ngày 12 tháng 01 năm 1983: Ngăn sông Đà đợt 1
Ngày 09 tháng 01 năm 1986: Ngăn sông Đà đợt 2
Ngày 30 tháng 12 năm 1988: Tổ máy số 1 hòa lưới điện quốc gia.
Ngày 04 tháng 04 năm 1994: Tổ máy số 8 hòa lưới điện quốc gia.
Ngày 20 tháng 12 năm 1994, sau 15 năm xây dựng công trình, trong đó có 9 năm vừa quản lý vận hành vừa giám sát thi công các tổ máy, Nhà máy thủy điện Hoà Bình đã được khánh thành. Vốn đầu tư công trình Nhà máy Thủy điện Hoà Bình với giá trị là: 1.904.783.458.926 đồng. Số tròn gần 2.000 tỷ đồng.
. Công trình thủy điện Hòa Bình góp phần quan trọng vào việc phòng chống lũ lụt cho vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong đó có thủ đô Hà Nội. Tưới tiêu, chống hạn cho nông nghiệp. Đập thủy điện Hòa Bình góp phần quan trọng vào việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp ở vùng hạ lưu trong đó có đồng bằng sông Hồng, nhất là trong mùa khô. Điều tiết mực nước sông đồng thời đẩy nước mặn ra xa các cửa sông.
Nhà máy thủy điện Hòa Bình là nguồn cung cấp điện chủ lực của toàn bộ hệ thống điện Việt Nam. Năm 1994, cùng với việc khánh thành nhà máy và tiến hành xây dựng đường dây 500kV Bắc - Nam từ Hòa Bình tới trạm Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh) hình thành một mạng lưới điện quốc gia. Công trình này góp phần đắc lực trong việc cung cấp nguồn điện cho miền nam và miền trung Việt Nam.
Trong quá trình xây dựng thủy điện Hòa Bình,168 người đã hy sinh,trong đó có 11 công dân Liên Xô. Chúng ta nghiêng mình tưởng nhớ những người con của đất nước Lénin, của những đại văn hào, thi hào Lev Tolstôi, Marxim Gorki, Puskin. Maiacovski...
Bia tưởng niệm những người đã hy sinh vẫn còn ở đây.
                  
                                                ***

Khi trở về Hà Nội, chúng tôi đi qua thành phố Hòa Bình. Đây là một thành phố trẻ, đường phố rộng thênh thang, nhà cửa phần lớn là nhà xây mái bằng. Vỉa hè phong quang. Có nhiều biệt thự núp trong vườn cây ăn trái. Các công sở đều được xây mới theo kiểu kiến trúc hiện đại, (thay cho những ngôi nhà tranh tre nứa lá mà hơn 60 năm về trước (1956) khi đoàn cán bộ tăng cường cho Tây Bắc ghé lại thị xã Hòa Bình). Ngang qua trụ sở Hội Văn học-Nghệ thuật Hòa Bình, tôi bỗng nhớ về một kỷ niệm. Tôi nhớ về người bạn tâm giao-nhà văn Nguyễn Duy Thinh- vốn là kỹ sư địa chất - khi anh cùng tôi dự trại Sáng tác Đà Lạt, anh đã viết một cái truyện ngắn Hoa pensée chiều mưa Đà Lạt lấy ý tưởng từ tác phẩm Bình minh mưa của nhà văn Nga Pautovski và cốt chuyện là mối tình đầu của tôi. Truyện ngắn này được đăng tải trên tờ Văn nghệ Hòa Bình. Lúc này nhà văn Nguyễn Anh Viên làm chủ tịch Hội kiêm tổng biên tập tờ Văn nghệ Hòa Bình. (xin xem blog của tôi: xuanbaohanoi.blogspot.com.vn bài số 56 có tựa đề Tưởng nhớ nhà văn Nguyễn Duy Thinh, trên đó có truyện ngắn Hoa pensée chiều mưa Đà Lạt. Lúc sinh thời, có lần nhà văn Nguyễn Duy Thinh cho tôi biết khi anh đi tìm quặng ở núi rừng Hòa Bình, anh đã quen biết và chơi thân với nhà văn Nguyễn Anh Viên.

                                                ***

Đường dây 500 kV Bắc-Nam và những tai tiếng.

Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt là người đề xướng xây dựng đường dây 500 kV Bắc Nam. Và người giúp việc đắc lực nhất cho đề án này được thành công là bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải. Tôi còn nhớ, khoảng mùa thu năm 1994, tôi được mời dự nghe báo cáo tiến độ Công trình Đường dây 500 kV tại hội trường Công ty Điện lực miền Nam. Một tấm bản đồ giăng hết sân khấu. Trên đó ghi chú những địa phương đường dây sẽ đi qua. Những số liệu về khảo sát, thiết kế và thi công…
Đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1 là công trình đường dây truyền tải điện năng (điện xoay chiều) siêu cao áp 500kV đầu tiên tại Việt Nam có tổng chiều dài 1.487 km, kéo dài từ Hòa Bình đến thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu xây dựng công trình là nhằm truyền tải lượng điện năng dư thừa từ Miền Bắc Việt Nam (từ cụm các nhà máy thủy điện Hòa Bình, Thác Bà; nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí, Ninh Bình) để cung cấp cho miền Nam Việt Nam và miền Trung Việt Nam lúc đó đang thiếu điện nghiêm trọng, đồng thời liên kết hệ thống điện cục bộ của ba Miền thành một khối thống nhất.
Đường dây 500kV Bắc - Nam, bên trái là mạch 1, bên phải là mạch 2 (mỗi mạch có 3 pha, mỗi pha có 4 dây)
Từ sau chủ trương đổi mới vào năm 1986, kinh tế Việt Nam có những bước chuyển biến tích cực. Giai đoạn 1990 – 1995, tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp bình quân đạt từ 12% đến 14%, GDP tăng từ 5,1% vào năm 1990 đến 9,5% vào năm 1995. Nhu cầu tiêu thụ điện năng cũng gia tăng hằng năm, cụ thể là 13,12% vào năm 1993; 18,43% vào năm 1994 và 20,62% vào năm 1995 (so với năm trước). Khu vực miền Nam và thành phố Hồ Chí Minh có sự phát triển tốt về kinh tế nhưng việc phát triển nguồn điện ở khu vực này không đáp ứng kịp nhu cầu tăng trưởng. Trong giai đoạn từ 1991 đến 1994 chỉ có Nhà máy Nhiệt điện Bà Rịa - 230MW được đưa vào vận hành. Công suất lắp đặt của Miền Nam chỉ đáp ứng được 89,73% (lắp đặt 1005MW, nhu cầu 1120MW) nên phải hạn chế phụ tải bằng cách cắt điện luân phiên hoặc đột xuất hầu như tất cả các ngày trong tuần.
Khu vực miền Trung được cấp điện chủ yếu qua đường dây 220kV Vinh – Đồng Hới lấy điện từ Hòa Bình, đường dây 66kV từ Nhà máy thủy điện Đa Nhim cấp cho Cam Ranh, Khánh Hòa và một số nguồn diesel nhỏ tại chỗ. Do đường dây quá dài nên công suất truyền tải bị hạn chế và chất lượng điện cuối nguồn không đảm bảo, thường xuyên bị sụp đổ điện áp ở các khu vực Quảng Nam, Quảng Ngãi. Công suất lắp đặt của miền Trung chỉ đáp ứng được 40,91% nhu cầu (lắp đặt 90MW, nhu cầu 220MW).
Việc xây dựng đường dây siêu cao áp thống nhất hệ thống điện đã được đề cập đến trong tổng sơ đồ phát triển lưới điện giai đoạn 1 (1981 – 1985) của Việt Nam được thiết lập với sự hợp tác của Liên Xô. Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của công trình do Nhật Bản tài trợ thực hiện tặng cho Chính phủ Việt Nam. Đến ngày 25/2/1992, Chính phủ phê duyệt Luận chứng kinh tế – kỹ thuật với quyết định thời gian hoàn thành là 2 năm và do thời gian khẩn cấp nên cho phép thực hiện theo phương thức khảo sát, thiết kế, nhập vật tư - thiết bị và thi công thực hiện song song.
Năm 1990: Khảo sát lập Báo cáo nghiên cứu khả thi. Từ cuối năm 1991 – 1992: Khảo sát kỹ thuật và lập thiết kế kỹ thuật. Năm 1993: Khảo sát kỹ thuật từng vị trí và lập bản vẽ thi công.
Khối lượng khảo sát của công trình rất lớn với khoảng 2000 km khảo sát đo vẽ địa hình lập mặt cắt dọc, 500 km lập mặt cắt dọc pha; 200ha phục vụ đo bình đồ tỉ lệ 1/200 tại các góc lái; 5200m khoan thăm dò ở các vị trí có nguy cơ sạt lở; thí nghiệm khoảng 15000 mẫu đất đá... trên tổng chiều dài 1487 km đường dây và 5 trạm biến áp.
Thiết kế của công trình đã được phản biện bởi nhiều cơ quan trong nước như Viện Năng lượng, Đại học Bách khoa Hà Nội và các nhà chuyên môn độc lập trong nước. Mô hình thiết kế về sơ đồ, dung lượng bù, chế độ vận hành và ổn định hệ thống, thông số thiết bị, sơ đồ liên động... cũng được nhiều tổ chức nước ngoài hỗ trợ kỹ thuật và kiểm chứng như Viện Thiết kế Lưới Ukraina, Viện Thiết kế Lưới Saint Peterburg (Cộng hòa Liên Bang Nga), Công ty Nippon Koei (Nhật Bản), Công ty Hydro Queebec (Canada) hỗ trợ tính toán ổn định, Công ty Tractebel (Bỉ) hỗ trợ đào tạo thí nghiệm; Công ty PPI (Pacific Power International), bang New South Wales - Úc và SECVI (State Electricity Commission of Victoria International), bang Victoria – Úc hỗ trợ tư vấn giám sát, đào tạo quản lý vận hành, an toàn... dưới sự tài trợ của Chính phủ Úc.
Mục tiêu thiết kế đường dây là để truyền tải sản lượng khoảng 2.000GWh vào Thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm với công suất đỉnh là 600MW - 800MW; độ tin cậy là 0,8 sự cố trên 100 km đường dây mỗi năm (tương đương 12 sự cố cho toàn đường dây một năm).
Đường dây 500kV Bắc – Nam có tổng chiều dài 1487 km, có 3437 cột điện tháp sắt đi qua 14 tỉnh thành: Hòa Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Sông Bé (nay là các tỉnh Bình Phước, Bình Dương), Long An, thành phố Hồ Chí Minh; trong đó qua vùng đồng bằng là 297 km (chiếm 20%), trung du – cao nguyên là 669 km (chiếm 45%), núi cao, rừng rậm là 521 km (chiếm 35%) với 8 lần vượt sông: sông Đà, sông Mã, sông Lam, sông La, sông Gianh, sông Thạch Hãn, sông Hương, sông Sài Gòn và 17 lần vượt quốc lộ.
Công trình được Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát lệnh khởi công phần đường dây vào ngày 5/4/1992 tại các vị trí móng số 54, 852, 2702 và khởi công phần trạm biếp áp vào ngày 21/01/1993 tại trạm biến áp Phú Lâm, thành phố Hồ Chí Minh.
Các đơn vị thi công chính của công trình là Tổng Công ty Xây dựng Thủy điện Sông Đà và 4 Công ty Xây lắp điện 1, 2, 3, 4 thuộc Bộ Năng lượng.
Các trạm biến áp và trạm bù do nhà thầu Merlin Gerin – Pháp cung cấp thiết bị, thiết kế phần nhị thứ; các Công ty Xây lắp điện thực hiện việc lắp đặt thiết bị, đấu nối, các Trung tâm Thí nghiệm điện kiểm tra, thí nghiệm thiết bị. Tất cả đều được đặt dưới sự giám sát của các chuyên gia từ nhà thầu Merlin Gerin, các Công ty cung cấp thiết bị và 2 đơn vị tư vấn giám sát của Úc là PPI và SECVI.
Tổng nhân lực huy động chính thức trên công trường của các đơn vị xây lắp là khoảng 8000 người sau bổ sung thêm 4000 người thi công các khối lượng chính của công trình. Các khối lượng phụ trợ như giải phóng tuyến, làm đường, vận chuyển... do các đơn vị hỗ trợ thực hiện như lực lượng quân đội gần 4000 người (gồm Binh đoàn 12, Binh đoàn 15, Quân khu 4, Quân khu 5, Quân đoàn 1, Quân đoàn 3); các đơn vị xây lắp tại 14 tỉnh thành đường dây đi qua gần 7000 người; các đơn vị chuyên ngành cầu đường như Công ty Cầu Thăng Long, Xí Nghiệp F19 của Bộ Giao thông Vận tải, các đơn vị xây dựng cầu đường địa phương hỗ trợ thiết bị đóng cọc, xay đá, trộn bêtông...; khối lượng rà phá bom mìn trải dài trên diện tích khoảng 17000ha do các đơn vị Bộ đội công binh thực hiện.
Đến tháng 4/1994, cơ bản công trình được xây dựng hoàn tất với khối lượng sơ bộ gồm lắp dựng 3437 cột tháp sắt (trong đó có 12 vị trí đảo pha); căng 1487 km dây dẫn (mỗi pha 4 dây) và dây chống sét (hai dây chống sét, trong đó 1 dây có mang dây cáp quang); xây dựng 22 trạm lặp cáp quang, 19 chốt vận hành đường dây; đổ 280.000m3 bêtông móng với 23.000 tấn cốt thép; 60.000 tấn cột điện, 23.000 tấn dây dẫn và 930 tấn dây chống sét; 6.300 tấn cách điện.
Phần trạm biến áp gồm 5 trạm Hòa Bình, Hà Tĩnh (trạm bù), Đà Nẵng, Pleiku, Phú Lâm. Giai đoạn 1 (5/1994) chỉ mới lắp đặt 1 tổ máy 550/220/35kV - 3x150MVA tại trạm Hòa Bình và 1 tổ máy 3x150MVA tại trạm Phú Lâm. Đến tháng 9/1994, lắp đặt thêm 3 tổ máy biến áp 550/220/35kV – 3x150MVA tại các trạm Hòa Bình, Phú Lâm, Đà Nẵng và đến tháng 11/1994, lắp đặt thêm 1 tổ máy biến áp 550/220/35kV – 3x150MVA tại trạm Pleiku.
Phần nhà điều hành Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia với hệ thống SCADA theo dõi thông số vận hành toàn hệ thống điện cũng được hoàn thành vào đầu năm 1994.
Lúc 19 giờ 6 phút ngày 27/5/1994, tại Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ra lệnh hòa hệ thống điện miền Nam với 4 tổ máy của nhà máy thủy điện Hòa Bình tại trạm Đà Nẵng qua đường dây 500kV, chính thức đưa hệ thống 500kV vào vận hành.
Tổng chi phí đầu tư cho công trình là 5.488,39 tỷ đồng Việt Nam (tương đương 700 triệu đô la Úc hay 544 triệu đô la Mỹ) Phần tài trợ của Chính phủ Úc có tổng giá trị 6,5184 triệu đô la Úc thông qua chương trình Private Sector Linkages do tổ chức hợp tác quốc tế AusAID điều hành, phần đóng góp chính là của tập đoàn năng lượng Austenergy,
Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu khoản tài trợ này sau khi không đạt được thỏa thuận về việc tài trợ cho gói thầu tư vấn với Chính phủ Bỉ. Do công trình đã triển khai được 3 tháng nên ngay sau khi được Chính phủ Úc chấp thuận, AusAID đã vận dụng chương trình Private Sector Linkages để kịp cấp vốn cho gói thầu tư vấn. Năm 1997, trong báo cáo tổng kết đánh giá hiệu quả nguồn vốn tài trợ, AusAID đã đánh giá cao hiệu quả của khoản tài trợ này cho cả lợi ích phía Việt Nam và Úc.
Sau khi hoàn thành, đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1 được bàn giao cho các Công ty Điện lực 1, 2, 3 quản lý. Đến năm 1995, ngành điện thay đổi cơ cấu tổ chức, thành lập Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam- EVN),
Trong quá trình vận hành, đã xảy ra một số sự cố sạt lở móng cột do mưa, bão ở Phước Sơn, Đắc Lây, Đắc Nông, Krôngnô. Các sự cố trạm nghiêm trọng là sự cố cháy pha C máy biến áp 500kV tại trạm Hòa Bình vào ngày 26/4/2000 do sét đánh và sự cố cháy pha B máy biến áp 500kV tại trạm Đà Nẵng vào ngày 18/8/2007.
Công tác bảo vệ an ninh cho việc quản lý vận hành đường dây cũng đã được đặt ra ngay từ khi đóng điện vận hành dựa trên sự phối hợp giữa các Bộ Năng lượng, Bộ Nội vụ (sau này là Bộ Công an) và Bộ Quốc phòng với các Ban chỉ đạo bảo vệ đường dây tại các tỉnh có đường dây đi qua. Dọc tuyến đường dây có bố trí 342 chốt gác, mỗi chốt cách nhau từ 5 km đến 10 km tùy theo địa hình với khoảng 1500 người ở các địa phương tham gia.
Đường dây 500kV Bắc - Nam mạch 1 được đưa vào vận hành vào tháng 5/1994, cơ bản đã giải quyết được tình trạng thiếu điện của miền Nam. Sau khi đóng điện đưa vào vận hành máy biến áp 500kV tại Đà Nẵng (9/1994) và Pleiku (11/1994), tình hình cung cấp điện cho miền Trung đã được giải quyết căn cơ.
Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 1997, công suất truyền tải chủ yếu từ Bắc vào Nam và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản lượng cung cấp của miền Nam và miền Trung. Sản lượng phát ra ở Hòa Bình: 9,170 tỷ kWh
Công trình đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1 đã xảy ra một vụ tai tiếng mua bán lòng vòng 4.000 tấn sắt thép của một số đối tượng thuộc Công ty Vinapol (Hội hữu nghị Việt Nam - Ba Lan) thông đồng với Ban Quản lý Dự án đường dây 500kV để hưởng chênh lệch 3,1 tỷ đồng. Sau khi bị phát hiện, vụ việc được quy trách nhiệm cho thư "giới thiệu" của ông Vũ Ngọc Hải – Bộ trưởng Bộ Năng lượng đương thời. Ông bị kết tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, bị kết án ba năm tù giam và thụ án tại Trại giam Thanh Xuân (thuộc V26, Bộ Công an), nhưng chỉ ở tù một năm thì được ân xá. Vụ án này còn truy tố, 2 phó Tổng Giám đốc, 2 phó Giám đốc và một số nhân vật khác, thu hồi 3,1 tỷ đồng đã thất thoát. Vụ này là tai tiếng lớn nhất từ trước đến nay.
Trong thời gian thụ án, ngày 28/05/1994, một ngày sau khi đóng điện thành công, ông Hải được Thủ tướng Võ Văn Kiệt vào nhà tù để gắn kỉ niệm chương vì những công trạng của ông đã đóng góp cho công trình này. Ông Vũ Ngọc Hải là nhân vật chủ xướng lập đề án và đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt quyết định xây dựng công trình đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1.
Vụ tai tiếng thứ 2 là lúc 13h40 ngày 22/5/2013, tại đoạn đường dây 500 kV tuyến Di Linh - Tân Định, qua khu vực phường Hòa Phú, TP Thủ Dầu Một (Bình Dương), tài xế Ngô Tấn Thảo điều khiển xe cẩu, cẩu cây dầu cao hơn 10 m tại vườn ươm gần đấy. Anh Thảo để phần ngọn cây dầu đụng vào đường dây 500 KV gây ra một tiếng nổ lớn. Ngay sau đó, toàn bộ khu vực này bị mất điện.
Đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1 phát huy ngay tác dụng trong toàn xã hội khi ngay sau khi đóng điện vận hành, tình trạng cắt điện luân phiên ở thành phố Hồ Chí Minh chấm dứt và nguồn cung cấp điện ổn định trong nhiều năm.
Dự án đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1 cũng được biết đến với thời gian xây dựng nhanh kỉ lục (2 năm). Tuy nhiên, do tiến hành khẩn trương, nên nhiều đánh giá về tác động đến môi trường, về lợi ích kinh tế, về tác động xã hội... đã bị bỏ qua. Ngoài ra, trong quá trình triển khai, dự án cũng vấp phải những ý kiến hoài nghi của nhiều cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước (trong đó có cả Ngân hàng Thế giới) nghi ngờ sự thành công của dự án. Đặc biệt, ngay trong nội bộ Đảng Cộng sản cũng có ý kiến phản đối quyết liệt cho rằng chủ trương làm dường dây 500kV là chủ trương phiêu lưu, mạo hiểm, lãng phí tiền của nhà nước. Lấy tiền của nhà nước để gây thanh danh cá nhân?
Nhưng thành công của đường dây 500kV là chủ yếu, là điều không thể chối cãi! Chỉ có tấm lòng vì nước vì dân của vị đứng đầu chính phủ - cố thủ tướng Võ Văn Kiệt – một lãnh tụ xuất sắc của toàn dân nên giờ đây đã chấm dứt được tình trạng  “đói điện” cho cả nước.
Tôi có bài thơ Những nốt nhạc đường dây để ca ngợi những người thợ điện thân yêu của chúng ta:
          Một con chim sà xuống
          Hai con chim sà xuống
          Và ba, bốn, năm con chim đậu lên hàng dây điện
          Dây điện rung cùng đàn đá Bình Đa

          Mỗi con chim là một nốt nhạc
          Đồ rê mi pha son la
          In vào không gian năm dòng kẻ
          Viết lên bản nhạc Ánh sáng quê nhà

          Một người thợ, hai người thợ
          Và ba, bốn, năm người thợ
          Vai oằn dưới sức nặng đường dây
          Kéo căng cáp điện

          Lưới điện dài ra mỗi ngày
          Bóng dáng các anh, lung cong khóa nhạc
          Lơ lửng trên cao chạm vào từng mây
          Rung lên xòn là pha mí…

          Điện về sáng một vùng quê
          Sáng sách em thơ ê a học bài
          Sáng lên những chuỗi ngày tăm tối
         
          Những con chim và những người thợ
          Là những nốt nhạc vui
          Của mọi cuộc đời.




          (Còn tiếp: Phần 5 – Thăm nàng công chúa Mỵ Châu)