Trang

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016

171. NHẬT KÝ NHA TRANG

                                         NHẬT KÝ NHA TRANG.
                                                            Xuân Bảo

1.TIẾNG ĐIỆN THOẠI VÀ TIN NHẮN.

Phía đầu dây bên kia có tiếng phụ nữ: Cháu là Đúc đây. Mẹ cháu muốn mời bác đi Nha Trang chơi, đổi gió và nhân thể ghé thăm bác Băng. Nếu bác đồng ý thì để cháu mua vé máy bay. Tôi trả lời: Để đến chiều bác gọi điện lại cho Huyền Anh nhé! Sau khi bàn với nhà tôi. Nhà tôi nói: Anh đi chơi đi. Trong này đang nắng nóng. Nha Trang là nơi nghỉ dưỡng tốt, anh đi có lợi cho sức khỏe đó. Tôi gọi điện cho Đúc (tên thường gọi lúc Huyền Anh còn bé).
Máy của tôi nhận được tin nhắn. Tin nhắn 1. Huyen Anh. 30/03/2016. 13,38. MR.NGUYEN XUAN BAO. HCM NHA TRANG. 31/03/2016. 17H35. BL368. JESTAR.CODE BDB3WW. Tin nhắn 2. Huyen Anh. 31/03/2016. 13,35. Chuyến bay bị trễ 30 phút nên 4.30 chiều nay sẽ có mặt ở sân bay bác Bảo nhé! Bác đợi cháu đến rồi cùng làm thủ tục ạ.
14 giờ, ngày 31/03, con trai chúng tôi, luật sư Nguyễn Triệu Quang đánh   ôtô đến đón bố mẹ đi sân bay. Nhà tôi nói đi cùng Triệu Quang cho vui. Khi đến  Tân Sơn Nhất, đồng hồ chỉ 15 giờ. Trời thì nóng gay gắt. Tôi bảo hai mẹ con về, chứ chờ đợi đến lúc làm thủ tục thì quá lâu. Mà giờ này mẹ con Bích Hạnh vẫn chưa có mặt ở đây. Thế là, một mình tôi vào phòng chờ cho tới gần 17 giờ mới thấy đoàn của Huyền Anh vào làm thủ tục. Vừa nhìn thấy tôi, Bích Hạnh nói: Anh ra tiễn mẹ con em đấy à. Tôi bảo: Ừ. Tôi rất mừng là có Hoàng Châu (chồng Huyền Anh) đi cùng.
Thì ra, trong chuyến du ngoạn phương Nam lần này, ngoài mẹ con Bích Hạnh, cháu Thúy Bắc còn có Hoàng Châu và Huyền Anh. Nhưng lúc tới Sài Gòn thì tách đoàn. Vợ chồng Hoàng Châu Huyền Anh đi Cambodia. Bây giờ ra đến sân bay, tôi mới biết có Hoàng Châu. Hai bác cháu vui mừng ôn lại chuyện Nguyên tiêu năm ngoái khi tôi lên thăm gia đình Bích Hạnh ở chùa Hà.
Huyền Anh là một phụ nữ tháo vát. Mọi giao dịch ở quày vé từ thủ tục giấy tờ cho đến cân kiểm tra hành lý, đều một mình Huyền Anh đảm nhận. Chúng tôi chỉ việc nhận vé vào phòng chờ để lên máy bay mà thôi. Giờ khởi hành lại trễ. Tôi nghĩ: Tôi đã đi rất nhiều chuyến bay và chuyến nào cũng bị trễ. Không trễ thì không còn là hàng không Việt Nam! Ngành hàng không Việt Nam có thấy xấu hổ không nhỉ? Và bao giờ mới khắc phục được tình trạng này!

Chiếc Airbus 320 của hãng Jesstar ầm ì khởi động và chẳng bao lâu lao vút lên không trung. Bầu trời đen kịt. Phía chân trời phía tây có một vạch sáng yếu ớt khi hoàng hôn vừa tắt. Chỉ hơn 30 phút sau, dưới cánh bay đã thấy đèn điện sáng choang của Căn cứ Hải quân Cam Ranh và thị trấn Ba Ngòi.

         Sân bay Cam Ranh do quân đội Hoa Kỳ xây dựng và được sử dụng làm căn cứ Không quân Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh. Năm 1973, sau Hiệp định Paris, Hoa Kỳ trao căn cứ này lại cho Không lực Việt Nam Cộng hòa.
Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, sân bay Cam Ranh tiếp tục được sử dụng vào mục đích quân sự cho tới năm 2004. Ngày 19 tháng 5 năm 2004, sân bay Cam Ranh đón chuyến bay dân sự đầu tiên, bay từ Hà Nội, thay thế cho sân bay Nha Trang nằm trong nội thị thành phố bị hạn chế về diện tích và vì lý do an toàn.
Năm 2007, Chính phủ ra quyết định nâng cấp cảng hàng không Cam Ranh trở thành cảng hàng không Quốc tế. Tháng 12 năm 2009, bằng việc đưa vào sử dụng nhà ga hàng không mới, hiện đại, quy mô lớn bậc nhất miền Trung, sân bay Cam Ranh chính thức trở thành Cảng hàng không quốc tế thứ 3 của khu vực này.   Ngay trong buổi sáng công bố quyết định trở thành cảng hàng không quốc tế, sân bay đã đón chuyến bay đầu tiên do Hãng Hàng không Silk Air Singapore thực hiện bay thẳng từ Singapore đến Việt Nam bằng máy bay Airbus A319.
Máy bay hạ dần độ cao và đáp xuống đường băng khá êm. Trên sân đậu có vài ba chiếc máy bay của hàng không Vietnam Airline. Chúng tôi thuê taxi vào thành phố Nha Trang. Trời đêm mát dịu. Xe đi dọc bờ vịnh. Một bên là biển, một bên là núi đá vôi. Đường trải nhựa làng bóng, chẳng bao lâu đã thấy Nha Trang hiện ra trong sắc màu lộng lẫy của những chùm đèn trang trí suốt những dãy dài qua các đường phố lớn.
Huyền Anh bảo lái xe tìm nhà hàng nào ngon, ghé dùng bữa tối cho khỏi phiền bác Băng. Gần 22 giờ đêm, xe tới số 9 đường Nguyễn Thiện Thuật, nơi chị Băng đang sống. Đây là khu nhà của Sở Xây dựng Khánh Hòa, vừa làm công sở vừa làm khu tập thể của cán bộ, nhân viên. Chị Băng ra tận ngõ đón cô em kết nghĩa từ những ngày đầu Hà Nội giải phóng. Chị ôm chầm lấy Bích Hạnh. Mừng vui khôn xiết.
Vào nhà, chị mang ra đủ thứ, bày chật cả mặt bàn: trái cây có xoài Cam Lâm, có táo và cả bánh ngọt, kem caramen. Và nhiều lon nước ngọt. Một lúc sau, đoàn tách ra ở làm hai nơi. Tôi và Hoàng Châu ở khách sạn, còn mẹ con. Bích Hạnh và Thúy Bắc ở tại nhà bác Băng.
Vợ chồng Huyền Anh đã đặt phòng từ trước tại khách sạn Quốc tế. Tại đây tôi thấy có rất nhiều xe taxi mang tên Quốc tế, xe đậu trong sân, đậu cả dưới lòng đường và trên vỉa hè. Có thể nói taxi Quốc tế chiếm thị phần rất lớn ở thành phố biển này. Nhưng không thấy chữ Group, tên thường gọi của các tập đoàn lớn, sau chữ Quốc tế. Theo chị Phan Thị Như Băng thì chủ doanh nghiệp này là một sĩ quan Hải quân đã chuyển ngành.
 Tôi và Hoàng Châu ngồi nói chuyện rất lâu về những kỷ niệm Hà Nội, về lịch sử nhà Nguyễn mở đất phương Nam…Tôi tặng Hoàng Châu 2 cuốn sách: Hành trình thiên lý ký sự và Truyện ngắn & Ký sự 1. Trong cuốn Hành trình thiên lý ký sự có một chương “ Vào chùa Hà gặp người trong mộng” là nói về chuyến đi của tôi đên thăm Bích Hạnh và vợ chồng Hoàng Châu năm ngoái.
Chúng tôi nhắc đến thời hoàng kim của kịch nói Việt Nam. Đoàn kịch nổi tiếng nhất là Đoàn kịch nói Trung ương, sau này lấy tên là Nhà hát kịch Việt Nam. Trong Đoàn kịch này có nhiều nghệ sĩ tên tuổi. Đó là đạo diễn kiêm diễn viên Đào Mộng Long, kịch tác gia Lộng Chương, họa sĩ  thiết kế sân khấu và một dàn diễn viên gạo cội: Song Kim, Trúc Quỳnh, Mạnh Linh, Hoàng Uẩn… Kịch sĩ Hoàng Uẩn là thân phụ cũa Hoàng Châu…Hai bác cháu nhâm nhi hơn nửa chai Remy Martin XO với gói đồ khô, có sẵn trong phòng. Hơn 1 giờ sáng mới chia tay về phòng.
Ngày hôm sau, cả nhà đi thăm biển Nha Trang. Huyền Anh đã liên hệ sẵn với công ty Du lịch Hiền Quân để thực hiện chuyến ra các đảo.

2. NHA TRANG! MÙA XUÂN ĐANG VỀ.

Bác Băng chuẩn bị bữa sáng bằng những món bánh quen thuộc của quê hương Quảng Trị: bánh bột lọc bọc tôm thịt, bánh ướt, bánh bèo, bánh nậm. Tất cả những thứ bánh này do chính tay chị Băng làm, loay hoay suốt đêm để sáng nay chiêu đãi cô em Bích Hạnh và người đồng hương Quảng Trị là tôi. Viết đên đây, tôi lại nhớ về quê hương da diết. Làng Nhan Biều là một ngôi làng ven sông Thạch Hãn, đối diện với thị xã Quảng Trị.
 Làng Nhan Biều có dòng họ Phan nổi tiếng trên văn đàn. Nhà thơ Kỉnh Chỉ Phan Văn Hy, thường gọi là ông Đốc Hy, tốt nghiệp Trường Thuốc Đông Dương. Ông ra trường với cái bằng Médecin traitant, người cùng thời với nhà thơ Huế Ưng Bình Thúc Giạ Thị, là thành viên của Hương Bình Thi xã.Ưng Bình là tác giả của bài thơ Chiều trước bến Văn Lâu. Có những câu buồn xé lòng người:
 Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non
Năm 2012, các con của Phan tiên sinh đã tập hợp những bài thơ của Cụ in thành sách Thơ Kỉnh Chỉ. Tập sách đã được sự khuyến khích và đóng góp vô giá của nhiều vị thức giả, đặc biệt là các vị: Cụ Hoàng Trọng Thược, Cụ Hà Thượng Nhân, Cụ bà Vĩnh Kỳ, Bác sĩ Lê Văn Lân, Ông Tôn Thất Kỳ và con gái Cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương. Tôi vinh dự được con gái Cụ Phan Văn Hy, bà Phan Thị Như Băng (hiện sống ở Nha Trang) gửi biếu sách Thơ Kỉnh Chỉ với lời đề tặng: Thân tặng Anh Xuân Bảo, người đồng hương.Con gái tác giả,.Phan Thị Như Băng. Tập sách dày hơn 300 trang, có cả phụ bản những bài thơ của Cụ viết bằng chữ Hán và một số bức ảnh chụp từ những năm đầu thế kỷ trước.
Dùng bữa xong cũng vừa lúc xe của Du lịch Hiền Quân đến. Cả nhà lên xe. Bích Hạnh tha thiết mời chị Băng đi cho vui, nhưng chị từ chối vì tuổi cao sức yếu. Hơn nữa, 40 năm qua, chị cùng các con sống ở Nha Trang, nên đã quen thuộc tất cả những hòn đảo trong vịnh.
 Bến tàu có rất nhiều loại tàu to nhỏ khác nhau, Chúng tôi xuống một chiếc tàu nhỏ, có sức chứa khoảng 30 khách. Du khách có đến một nửa là người Trung quốc. Không biết là người Đài Loan hay Lục địa? Có hai vợ chồng người Pháp.
Việc lên tàu khá vất vả với người già, vì thành tàu cao. Tôi đưa tay dắt Bích Hạnh nhưng nàng từ chối, bảo rằng: tôi tự lên được. Nhưng rồi Huyền Anh và một phu tàu phải nâng mẹ lên. Khi ra khỏi bến, tôi thấy bên phải có một chiếc du thuyền đại dương to đùng, đang neo đậu ở đó.
Không bao lâu sau, tàu cập bến đảo San Hô. Chúng tôi lên ngồi ở những hàng ghế của nhà hàng, nhìn ra biển. Biển trong xanh, trời cũng trong xanh! Hoàng Châu và Huyền Anh đến quày mua mấy thứ: thơm (dứa), ngô (bắp) luộc. Hoàng Châu lấy thêm 5 lon bia đã ướp lạnh mang về bàn. Vợ chồng Hoàng Châu và Thúy Bắc thuê xuồng ra ngắm bãi san hô. Tôi và Bích Hạnh ngồi cùng nhau ngắm biển trời bao la Nha Trang. Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm về Hà Nội, về thời thanh niên sôi nổi của những chàng trai, cô gái Hà Thành, về những buồn vui khi mới quen nhau, về những đêm kịch ở Nhà hát lớn Hà Nội: Đứng gác dưới ánh đèn néon. Câu chuyện Yakut…mà vai chính là nghệ sĩ Hoàng Uẩn. Tôi nhắc đến một buổi xem kịch Liuba-Liubov mà chúng tôi bỏ dở nửa chừng khi nghỉ giải lao giữa giờ. Xe đạp đã gửi vào bãi không lấy ra được nên hai đứa đã bách bộ ra đê sông Hồng, đoạn sau Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Cùng ngồi ngắm trăng lên bên kia sông. Bích Hạnh có vẻ mệt mỏi và buồn khi nhắc tới quá khứ. Nàng bảo: Em đi nằm nghỉ một lát. Tôi ngồi một mình, nhìn các mụ đàn bà Tàu nô giỡn như quỷ trên bờ vịnh. Thấy mấy mụ Tàu, tôi laị  nhớ đến vụ Formosa xả thải xuống đáy biển. .nhà máy thuộc loại hỏa luyện dùng công nghệ luyện gang lò cao như công nghệ Vũng Áng đổ (hay phun) vào không khí và nước những chất xả thải sau đây : SO 2, NOx, CO, H2S, Pb (chì), Ni (niken), As (arsenic), Cd (cadmium, hay tiếng Việt là cadimi), Cr (chrome hay crom), Zn (kẽm), Se (selenium hay selen), Hg (thủy ngân), NH4 (ammonia), dầu nhớt, các chất quan trọng như C (carbon), Si (silic), Mn (mangan), P (phốt pho), S (lưu huỳnh) và Fe (sắt). Thêm vào đó phải kể những chất như benzene, phenol, sulfides, sulfates, cyanides, thiocyanates, thiosulfates và fluorides, và có sách nói có cả chất titanium (Ti). Những chất độc này nằm dưới lòng biển phải có thời gian tiêu tán là khoảng trên dưới 50 năm. Cũng như chất độc cam/dioxin, hậu quả củả nó phải có thời gian tiêu tán là 200 năm! Hưng nghiệp Formosa đã làm cho ít nhất 400 hecta rạn san hô biển Việt Nam chết. Đây là một mất mát lớn của biển Việt Nam. Rạn san hô như một mái nhà che chắn, nuôi dưỡng hệ động thực vật biển, là nơi cư trú, sinh đẻ và ươm nuôi ấu trùng của nhiều loại thủy sinh vật đáy và các loài cá. Các rạn san hô ở vùng biển nước ta có giá trị cực kỳ quan trọng trong việc điều hòa môi trường biển, cung cấp dinh dưỡng trong vùng biển; phuc vụ cho nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí du lịch. Rạn san hô được coi là là một giá trị văn hóa hiện đại. Tuy nhiên, rạn san hô rất dễ bị hủy hoại do con người gây ra (san lấp biển, đánh bắt hải sản, thả neo, ô nhiễm, bão biển vùi dập…Mỗi năm hầu hết các loài san hô chỉ mọc được 1 centimet
Đang nghĩ về biển, bất giác, tôi nhớ về các cửa biển Quảng Trị quê tôi. Biển Cửa Việt (Việt Yên) và biển Cửa Tùng (Tùng Luật). Tôi nhớ làng Bich Khê, nằm trên con dường ra Cửa Việt – nơi sinh ra nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ với mối tình đầu nghiệt ngã với Tân Nhân – người làng Mai Xá, Do Linh cách cửa biển Tùng Luật không bao xa từ những năm 1950, 1951 ở quê nhà, bài Xuân chết trong lòng tôi.

3. NHA TRANG! MÙA XUÂN ĐANG VỀ. (tiếp theo).
 Bài hát này Hoàng Thi Thơ viết riêng cho Tân Nhân, con cụ Trương Quang Phiên, vị chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Quảng Trị những năm đầu dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945). Tân Nhân sau này là nghệ sĩ nhân dân và có bài hát nổi tiếng, không ai vượt qua được. Đó là bài Xa khơi của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ.
 Bài hát của Hoàng Thi Thơ có những câu: Mùa xuân ai nỡ dứt tiếng tơ, dứt tiếng cầm/Mùa xuân đắm đuối trong tiếng đàn trong tiếng ngân và Xuân ơi xuân, chim xa đàn/ xuân ới xuân hoa chóng tàn/ Ngờ đâu xuân chết trong lòng tôi/…
Và tôi lại nhớ đến bài thơ cho Bích Hạnh, viết từ khi mới biết nhau trên chuyến tàu đêm Bắc Giang-Hà Nội (năm 1958).
Tôi đã liên tưởng đến đôi mắt của nàng. Đẹp nhưng u buồn trầm mặc như dòng Hương. Tàu qua sông Cầu, còn có tên là Như Nguyệt, rồi qua sông Đuống, còn có tên là sông Thiên Đức. Tầu đến ga Gia Lâm, chuẩn bị vào thủ đô. Sông Hồng Hà đó. Chiếc cầu Long Biên đó. Chiếc cầu mang tên toàn quyền Paul. Doumer – người có ý tưởng táo bạo mờ ra mạng lưới đường sắt nối liền toàn cõi Đông Dương, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Nhìn Hồng Hà đỏ ngầu phù sa, tôi tự nhiên có ý nghĩ: có bao giờ em sẽ nhìn đời với đôi mắt kiêu sa và dữ dội như dòng sông Đỏ kia?
      Em
                của anh
             Mắt trong xanh
           Màu đẹp biển trời
          Lồng lộng gió ngàn khơi
           Và mãi mãi không mất
                   Trong trái tim anh
                Vì em là
                  tất cả
                    đời
                     anh
Bài thơ hình thức hình quả trám này rất thịnh hành thời 1956 -1958, nhà thơ
Trần Dần làm thơ theo hình thức bậc thang của nhà thơ Nga Maiacovski như:
   Tôi khóc những
  chân trời
          không
             có
                                                                                                                                              người bay
          Lại khóc
                        những người bay
                                                  không
           có
               chân trời
Và chính tại Rạn san hô này, khi chúng tôi nhìn ra đại dương mênh mông, tôi bất giác nhớ lại bài thơ viết năm 1959, cũng viết về đôi mắt của nàng:
Nơi ấy sâu hơn đáy đại dương
Thăm thẳm mù khơi tít dặm trường
Nơi ấy, là mắt em tôi đó
Đăm đắm nhìn tôi vạn mến thương.
Tàu Hiền Quân đã quay lại bến. Cả nhà lên tàu, đến một nhà hàng lớn trên vịnh.
Du lịch Hiền Quân có những hoạt động thu hút du khách. Những nhân viên của công ty đã chuẩn bị một chương trình văn nghệ, bắt chước Đài Truyền hình Việt Nam trong Những gương mặt thân quen. Trong khi Nhà hàng dọn bữa thì những hàng ghế giũa được dồn lại thành bàn ăn và sân khấu. MC giới thiệu gương mặt Đàm Vĩnh Hưng. Một nhân viên tàu hóa trang gần giống và hát vài bài của Mr. Đàm vẫn thường hát. Tôi đặc biệt chú ý tới tiết mục mà người đóng vai Mai Phương Thúy là một nam thanh niên. Anh ta đội tóc giả và áo ngực để trần, móc vào đấy là hai nửa gáo quả dừa bị thật to. Nhà hàng có đặc sản là món cá bốp, giá nửa triệu một ký, được quây thả trong lồng bè. Khách tha hồ chọn. Cũng có người mua những con cá bốp lên tới 3 kylô. Thiên hạ thật lắm tiền!
Tôi để ý thấy Bích Hạnh dường như biếng ăn, hay là thức ăn không hợp khẩu vị? Tôi nhắc: em ráng ăn còn để giữ gìn sức khỏe. Chúng ta còn ở lại Nha Trang đến 2 ngày nữa cơ. Tàu rời Nhà hàng nhằm hướng Thủy cung Trí Nguyên. Thủy Cung được thiết kế hình một con tàu hóa thạch bám đầy rong rêu, trong lòng con tàu đó là một đại dương thu nhỏ với rất nhiều loài cá quý hiếm. Cái đặc biệt tại đây là thủy cung có San hô sống.- Hệ thống hồ tại đây chia là 2 dạng : Hồ trong nhà và Hồ ngoài trời.
Bích Hạnh và vợ chồng Hoàng Châu không thăm thủy cung. Bởi vì, nàng thì mệt, còn vợ chồng Hoàng Châu thì đã nhiều lần tham quan nơi này. Hoàng Châu khi còn trong quân ngũ đóng quân tại Nha Trang một thời gian khá dài đã nhiều phen đưa Huyền Anh thăm thú gần như hầu hết cả 19 hòn đảo trong vịnh. Chỉ có Thúy Bắc là người mới đến Trí Nguyên lấn đầu. Thúy Bắc là con dâu của trung tướng Nguyễn Ngọc Lư.- anh ruột Bích Hạnh. Cháu mua 2 vé tham quan cho hai chú cháu, mỗi vé 100 ngàn đồng. Hai chú chaú thay nhau chụp ảnh từ cổng vào đến bên trong. Tầng một, có hồ nuôi cá với hàng ngàn loại sinh vật quý hiếm được chứa trong một đại dương thu nhỏ tại đây. Hồ được thiết kế với lớp kính chịu lực dày, có thể thấy rõ những động vật biển bên trong: cá mập, cá mú, cá rồng, cá chình,..con nào cũng dài hơn 1mét nhìn thật hứng thú và kỳ lạ.
Người ta đã thiết kế một phần cung điện, (tất nhiên hình mẫu chỉ là tưởng tượng mà thôi), có ngai vàng của vua Thủy Tề, có cả y phục vương triều thủy cung cho du khách thuê để chụp ảnh. Tôi nhờ Thúy Bắc chụp tấm ảnh ngồi trên ngai vàng, nhưng không mặc y phục vua quan của loài thủy tộc cá tôm…

Hai chú cháu ra tham quan hồ ngoài trời. Hồ này được kè đắp bằng hệ thống đá san hô mặt nước bao giờ cũng ngang với nước biển. Hồ ngoài trời nuôi rất nhiều loại hải sản quen thuộc như cà thu, cà ngừ, mực, cá đuối…ẩn mình trong những hang đá san hô là những chú mực khủng lồ, tôm hùm khủng lồ lên đến 3kg. –Hồ có mái che để khách câu cá giải trí.  Tôi và Thúy Bắc ra hồ. Cô nhân viên đưa một hộp thức ăn cho cá và lấy dùi đánh mấy tiếng vào cái kèng. Một bầy vích (rùa biển) bò tới. Trên lưng mỗi chú vích đều có từ 2 đến 4 con cá bốp nằm trên đó. Từ một góc xa bên hồ, du khách mới có thể nhìn rõ trên boong tàu cái cột buồm và khẩu súng thần công nhô ra trước mũi tàu. Có người cho rằng đó là mô hình con tàu của bọn cướp biển Caribê.*

15 giờ chiều, tầu Hiền Quân tiến về Bãi Sỏi. Nhân viên tàu hóm hĩnh giới thiệu tàu sắp đến một hiệu Massage khổng lồ. Quý khách tha hồ mà mát- xa từ chân  đến đầu, muốn bao lâu cũng được, không tốn tiền bo (pourboire)cho các em phục vụ. Thì ra: Vì bãi tắm tại đây không có cát chỉ toàn là sỏi đá, tròn tròn nhỏ nhỏ, nhẳn thín, đủ màu, có những viên như pha lê chảy dài từ bờ ra biển nên nơi đây được gọi là Bãi Sỏi. Tại đây củng là địa diểm tắm biển lý tưởng cho du khách.

Tôi và Bích Hạnh vào ngồi nghỉ ở những chiếc ghế bố nhà tròn. Huyền Anh và Thúy Bắc đi dạo “mát-xa” hai bàn chân dọc bờ biển. Hoàng Châu ra chơi trò đu bay lên trời.
(Còn tiếp: Nha Trang ơi! Tạm biệt chim én nhé)



Thứ Năm, 23 tháng 6, 2016

170.Dòng sông của tuổi thơ tôi.


3.Dòng sông của tuổi thơ tôi.

Tôi xin dừng lại phút chốc để nói về dòng sông của tuổi ấu thơ của tôi. Sông Thạch Hãn còn có một tên khác là Nguồn Hàn với câu ca dao:

     “Không thơm, cũng thể hương đàn
        Không trong cũng nước Nguồn Hàn chảy ra”

                Ở Quảng Trị, tên Thạch Hãn còn đặt cho một làng quê và gọi theo dân dã là làng Đá Hàn, làng Thạch Hãn nằm trên đoạn đường sắt chạy qua thị xã Quảng Trị. Chữ Hàn cũng có nghĩa là cản lại. Sông Thạch Hãn là dòng sông dài nhất của tỉnh, nước trong vắt bốn mùa. Vì chảy qua rất nhiều lèn đá, núi đá. Chả thế mà cụ Tam Nguyên Yên Đỗ khi đi qua sông đã để lại:

     “Tây Phong hà xứ xuy trần khởi
                    Bất trợ niên tiền triệt để thanh”
                 Dịch thơ: 
                  “Gió Tây đâu cuốn bụi dồn
                   Nước trong thấu đáy nay còn nữa đâu”

           Thi sĩ xứ Huế Khiêm Trai, tức Tương An Công Miên Bửu, trong bài thơ “Dạ túc Quảng Trị tân thứ” (Đêm nghỉ tại bến sông Quảng Trị) thì xúc cảm :

                 “Danh cao lan xạ Kim Lung tưủ
                   Sắc tự thanh trừng Thạch Hãn than…”
                     Dịch thơ: 
          Chén rượu Kim Long hương ngát đậm
          Bãi sông Thạch Hãn nước trong veo…”
              Ngoài rào, vùng quê tôi không gọi sông Thạch Hãn Hãnmà nói là rào Thạch Hãn. Rào có nghĩa như con sông (tiếng Pháp phân biệt danh từ chỉ sông lớn như sông Hồng Hà là fleuve, còn sông nhỏ như sông Thạch Hãn là rivière, nếu là sông con, ngòi, lạch thì là rivièrète). Nơi bến Phường Sãi có một cái hà (giống như một cái lạch nước lấn vào bờ), chỗ nước sâu nhất chừng quá ngực người lớn một chút.
              Bọn trẻ thường xuống tắm ở đó. Hà có rất nhiều cá mương. Chúng không sợ người mà còn xông vào rỉa ráy. Dọc theo cái hà này, dài chừng ba bốn trăm mét, cậu Diêu Xoan thường hay đổ bổi khi mùa lũ về. Cậu đặt khoảng 20 bó bổi loại lớn phải 2 người đổ, Còn loại nhỏ, chỉ cần một người thì bó bổi nhỏ và cái rổ cũng nhỏ. Bổi được làm bằng những cành lá duối, nếu thiếu thì có thể bó thêm ít cành sim, cành nè hóp không gai và nhiều loại cây có cành khác, có chiều dài khoảng trên một mét, được bó thành từng bó, có dây buộc vào cái cọc trên bờ để nước không cuốn trôi. Tôm cá chui vào nấp hoặc tìm mồi trong đó. Người đổ bổi dùng một cái rổ sảo, đường kính to bằng cái nống phơi lúa. Cứ mỗi buổi sáng cậu Diêu và anh Vọng nhẹ nhàng lội xuống nước, nhẹ nhàng chúi cái rổ sảo ấy xuống bụng bó bổi rồi từ từ nâng lên. Cá rô, cá giếc, tôm và nhiều loài thủy sản khác, có khi được cả chạch lấu, cá hanh hoặc con hôn (một loại ba ba). Đổ hết những bó bổi thu hoạch cũng được vài ba ký lô, đủ cải thiện bữa ăn gia đình và người làm trong ngày.
  Đoạn sông này có lợi thế là có bậc lên xuống, không như những đoạn bãi bồi toàn cát. Con sông nào cũng có một bên lở thì bên kia là bồi. Vậy nên cứ đến mùa lụt Mạ tôi thường ngồi gần như sáng đêm để vợt tép. Để chuẩn bị cho việc vợt tép, trước đó những ngày hè Mạ đã vào rú chặt những cây sặt, một loại họ sậy, đem về phơi khô, bó thành từng bó nhỏ có đường kính khoảng một tấc tây để dùng làm đuốc đốt vợt tép. Khi nước lũ tràn về thì đêm đến Mạ mang một cái thúng, một cái vợt tự chế bằng vải mùng và thanh tre vót nhẵn bẻ cong lại, giống y như cái vợt cầu lông hiện nay, mấy bó đuốc. Hồi đó chưa có đập thủy lợi, thủy điện nên nước lụt dù có lên nhanh nhưng rút cũng nhanh, mà nó còn không hung hãn như bây giớ cho nên bọn trẻ rất thích có lụt để được đi vớt củi rều và đi bắt cá rô đẻ.  Trời tối, đuốc đốt lên không cháy thành lửa ngọn mà chỉ đỏ lửa than. Những bầy tép đi thành đàn cặp mép sông, bơi ngược dòng. Nước chảy xuôi nhưng tôm tép thì bơi ngược. Ngồi sáng đêm Mạ tôi xúc được bộn tép, có khi được cả thúng. Ngoài số tép dùng cho các bữa ăn,số còn lại Mạ tôi muối làm mắm để ăn dần. Dì Mão đã bắc sẵn lên bếp một nồi cháo gạo ít khoai nhiều. Dì xuống bến đến chỗ Mạ đang xúc tép và lấy một mớ tép. Dì vợt những con tép đang nhảy tưng tưng trên mặt thúng cho vào thúng nhỏ đem lên, chỉ dội lại một lần nước và cho vào nồi cháo, chỉ cần nêm thêm vài muỗng muối là có món cháo rất ngọt ngon. Tôi múc một đọi to mang xuống bến cho Mạ. Nhìn Mạ sùm sụp trong chiếc áo tơi rách với cái nón mê trên đầu mải mê vợt tép để nuôi đàn con đang tuổi ăn, tuổi lớn, trong khi Ba tôi còn đi chiến đấu bảo vệ quê hương. Tôi thấy thương Mạ vô ngần!
Trừ những khi có lụt, còn lại là những đêm trời trong, Mạ thường đi soi cá. Soi cá cũng dùng đuốc bằng cây sậy hoặc cây hóp chẻ nhỏ, phơi khô bó thành từng bó bằng cái cột nhà tre, dài chừng 2 mét. Tối đến đuốc được đốt ở bến nước, rồi lội xuống dọc mép sông, một tay giữ cây đuốc trên vai, một tay cầm cái nơm, khi thấy cá đóng đèn, tức là đóng ánh sáng đuốc. Chúng đứng im một chỗ thì dùng nơm úp lên con cá, bó đuốc tạm thời bỏ lên bờ, thò tay vào nơm bắt cá, thường là loại cá chép, cá trôi, cá mè…có con nặng cả ký lô. Khi không dùng nơm thì dùng dao thái chuối, thấy cá đóng đèn thì lấy dao chém. Có con bị chém dứt làm đôi. Soi cá còn có một dụng cụ khác. Đó là chiếc rập. Rập có 2 cọng chéo giống như chiếc vó nhưng nhỏ hơn để người đi soi có thể cầm. Một tấm lưới mành chuông vuông một mét, (nếu không có thì dùng vải mùng) mắc vào 4 đầu cọng rập. Thấy cá đóng đèn thì chụp rập xuống bắt. Đi soi cá thường đi vào đầu hôm, cháy hết hai cây đuốc thì về nhà. Số cá thu được cũng kha khá, chừng vài ba ký, đủ dùng cho vài ngày.
Trong thời 9 năm, Dì Mão sang ở với Mạ tôi. Dì là con gái cả của ông Thợ Trì. Ông làm nghề thợ may tay, may rất khéo nên có nhiều khách hàng. Ông cũng là người làm vè nổi tiếng cả tổng An Đôn, chủ yếu là vè đả kích, châm biếm. Vì nhà quá nghèo nên ông thợ phải cho người con trai tên là Nguyễn Văn Loan,em Dì đi ở chăn trâu cho cậu Diêu Xoan của tôi.Còn Dì thì được Mạ tôi cưu mang trong những năm đầu chống Pháp cực kỳ khó khăn. Có lần Dì đang lúi húi xúc cá bống thì bọn giặc Pháp lên lùng bên làng Như Lệ. Chúng trông thấy Dì và xả súng bắn. Dì bị chúng bắn bị thương ở đùi. Hồi đó không có thuốc kháng sinh nên chỉ rửa vết thương bằng lá cây rừng. Nhưng rồi cũng qua khỏi. Một thời gian sau, Dì Mão được Dượng Lê Văn Tôn cưới làm vợ. Và họ sinh được sáu người con ba trai và ba gái. Người con trai thứ hai Lê Văn Quyền đi bộ đội và hy sinh tại chiến trường Bình Trị Thiên, được truy tặng danh hiệu liệt sĩ. Hai người con trai của Dì là Lê Văn Cận và Lê Văn Kỳ cùng người con gái thứ ba Lê Thị Hoàng hiện sinh sống tại quê nhà.Sau giải phóng miền Nam, hai người con của Dì (Hoàng và Cận), được chính quyền cấp đất làm nhà ngay trên bức nương của Mạ tôi. Người con gái út Lê Thị Gái lấy chồng xa, thỉnh thoảng có về làng.
Dọc theo bờ sông, thỉnh thoảng bọn trẻ chúng tôi đào thấy những ổ trứng hôn (con ba ba), có ổ có đến hơn hai chục trứng, nhưng không hiểu vì sao hồi đó, người dân không ăn trứng hôn và trứng rùa?  
Muốn qua rào chính thì phải qua hà rồi qua một cồn cát. Cồn cát này, trong những năm đánh Pháp, theo lời kêu gọi “Tăng gia sản xuất” đã tận dụng để trồng khoai lang. Sau ba tháng thì nhổ lên, củ chỉ to bằng ngón chân cái người lớn, nhưng rất nhiều củ và ăn rất ngon, thơm và bùi. Tắm ở ngoài dòng chính rất nguy hiểm vì nước chảy xiết. Đã có lần tôi suýt bị chết đuối do nước cuốn, may mà tôi kịp thời bơi ngửa, chân đạp mấy cái mới vào được chỗ nông.
 Giữa rào, trên cao thường có mấy chú diều hâu. Chúng bay lượn rất mềm mại, sà đôi cánh như múa trong không trung. Nhưng đôi mắt thì rất tinh. Từ trên cao, chim diều hâu nhìn thấu đáy sông. Và khi đã phát hiện được cá thì chúng lao mình xuống nước như một mũi tên và hai chân của chúng quắp một con cá to. Diều đáp xuống giữa cồn cát ăn con cá ngon lành.
                                                         
           Theo Công báo của Văn phòng Chính phủ số 173 + 174 xuất bản ngày 1/2/2007 trên bản đồ tỉnh Quảng Trị thì sông Thạch Hãn bắt đầu từ động A Pong, Co Ka Va ở phía đông dãy Trường Sơn, gần biên giới Việt Lào, thuộc huyện A Lưới, tỉnh ThừaThiên - Huế chảy ra. Sông chảy qua các xã A Ngo, Tà Rụt, Húc Nghì,Ta Long…nhận thêm nước từ các khe suối, khi tới dưới chân đèo Khe Sanh, bị đèo chặn lại cho nên chảy vào sông Rào Quán xã Đakrông để xuôi về Ba Lòng, chiến khu nổi tiếng thời chống Pháp. Dân Kinh gọi sông này là sông Thạch Hãn. Đồng bào dân tộc it người thì gọi là sông Đakrông. Con sông này phía thượng lưu rất nhiều đá. Đá hai bên bờ, đá giữa dòng và đã dưới đáy sông. Nhiều tên đất ven sông mang tên đá: Đá Nổi, Đá Vững (TrinhThạch), Nhà Đá (Thạch Xá), Đá Đứng, Như Lệ (nước mắt của đá). Nơi Đá Đứng, sau giải phóng 1975 đã xây dựng công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, còn gọi là Đập Trấm. Công trình này có cái lợi là đủ nước tiêu cho hai huyện lúa Triệu Phong, Hải Lăng nhưng cũng để lại hậu quả xấu: nước mặn xâm thực lên quá làng An Đôn.Truớc đây không có tình trạng nước đứng, không lưu thông. Giờ đây thì rong rêu mọc đầy sông?!  “Nước trong thấu đáy nay còn đâu?”(Thơ Nguyễn Khuyến).
            Đập Trấm – công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn – nơi nhà thơ Võ Nguyện đã làm bài thơ Trăng Đập Trấm, ca ngợi sự hi sinh cống hiến của Thanh niên xung phong, khi nhà thơ làm Đại đội phó Đội Dân công huyện Hương Trà ra giúp Quảng Trị làm thủy lợi. Sau này Võ Nguyện rời cố đô Huế vào Đồng Nai làm ăn sinh sống và sinh hoạt cùng tôi ở Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh. Võ Nguyện là nhà thơ châm biếm nổi tiếng với bài Hội Văn Nai Đồng ngâm khúc, nhại theo tác phẩm Cung oán ngâm khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm với bút danh khá hiện đại là Tú Thịt Hộp. Bây giờ thì Võ Nguyện đã đi về cõi vĩnh hằng với các danh sĩ Tú Xương, Tú Mỡ…rồi, để lại cho đời cái blog Văn Biên Hòa đậm chất trào lộng.(Võ Nguyện mất ngày 7 tháng 12 năm 2013), hưởng dương 59 tuổi.Tôi coi Võ Nguyện như người em, là người bạn vong niên rất đáng khâm phục.
           Người Quảng Trị đã ghép tên Non Mai Sông Hãn vào với nhau để nhớ về một dòng sông mang ý nghĩa non sông đất nước để mà thương, mà tự hào. Ở Việt Nam ta có nhiều địa danh được mang tên theo cặp phạm trù Non và Sông, cũng từ hai chữ Giang Sơn mà thành. Như ở Hà Nội thì có Núi Nùng sông Nhĩ, ở Huế thì có Sông Hương núi Ngự…Thế kỷ trước, khi Thành Cổ Quảng Trị biến thành biển lửa, với 81 ngày đêm khốc liệt, nhà thơ Lê Bá Dương đã viết:
                        “Đò lên Thạch Hãn ơi…chèo nhẹ
                         Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
                          Có tuổi hai mươi thành sóng nước
                         Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”

            Và dòng sông linh thiêng ấy, khúc sông chảy qua Thành Cổ đã trở thành biểu tượng anh hùng của một thời Máu và Hoa.
            Phía bắc cầu Thạch Hãn, nơi có tượng đài 20 giọt máu hồng tươi của 20 chiến sĩ trung đội Mai Quốc Ca đã anh dũng hy sinh. Còn đó cái làng Nhan Biều mà trong thư gửi bố mẹ của Lê Văn Huỳnh để đi vào lòng đất, “khám phá” ra cái chết bất tử của những người con mãi mãi tuổi hai mươi. Cụ Kỉnh Chỉ Phan Văn Hy, người làng Nhan Biều (1890 – 1970) đã có bài thơ:
                    “Ngọn bút thiên công khéo vẽ vời
                      Bức tranh tuyệt diệu đãi người chơi
                      Gió Âu, mưa Á tuy dồn dập
                     Nguồn Hãn Non Mai chẳng đổi dời…”
(Còn tiếp)

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2016

169. Tết Đoan Ngọ, nhớ Khuất Nguyên

Tết Đoan Ngọ, nhớ Khuất Nguyên
 Thói đời, “hồng nhan  bạc mệnh, anh hùng đa truân”. Khuất Nguyên, trước hết là một nhà thơ có tài, được liệt vào hạng thi bá. Trên hoạn lộ,Khuất Nguyên cũng ở vào hàng “tam lư đại phu”. Nhưng cuối cùng phải tự trầm mình trên dòng sông Mịch La. Không những nhân dân Trung Hoa thướng tiếc mà nhân loại cũng vô cùng ngưỡng mộ và tiếc thương!. Nhân Tết Đoan ngọ Bính Thân , tôi đăng bài này để tưởng nhớ Khuất Nguyên.


                                                                                                         



“ Cử thế giai trọc ngã độc thanh
Chúng nhân giai túy ngã độc tỉnh”…
Nghĩa:
 “Mọi người đều say mình ta tỉnh
  Khắp đời đều đục mình ta trong”…
Đó là hai câu trích trong bài thơ Ngư phủ nổi tiếng của Khuất Nguyên. Khuất Nguyên sống vào nửa sau thời Chiến quốc (310-278TCN). Ông tên Bình, biệt hiệu Linh Quân. Tổ quốc ông là nước Sở vốn rất hùng mạnh nhưng đang bước vào thời kỳ suy thoái. Ông đã được Sở Hoài Vương tin dùng và phong chức Tam lư đại phu, sau phong chức Tả đồ ( chức quan gần gũi vua). Các chủ trương cải cách của ông dù rất tiến bộ nhưng mâu thuẫn với quyền lợi của các đại thần trong triều như bọn Thượng quan đại phu Cầm Thương, Lệnh doãn Tử ban, Tư mã Tử tiêu và Nam hậu của Hoài Vương Trịnh Tụ …lập mưu gièm pha Khuất Nguyên rất hiểm độc. Hoài Vương ngu muội và bất lực dần dần xa lánh ông, thậm chí bắt ông đi đày. Trải hơn hai mươi năm phiêu bạt, Khuất Nguyên một mực trung thành với lý tưởng của mình, không hề khoan nhượng, thỏa hiệp với tập đoàn thống trị hủ bại và cũng không bao giờ xa rời Tổ quốc thân yêu của ông. Ngược lại ông luôn luôn quan tâm đến cuộc sống và nổi khổ nhục và nguyện vọng của nhân dân.
Cuối cùng, ông lấy cái chết để giữ trọn tấm lòng. Ông tự trẫm mình ở sông Mịch La thuộc sông Tương vào ngày mùng 5 tháng 5 (âm lịch). Và từ đó đến nay, trải qua mấy nghìn năm rồi Ngày mùng 5 tháng 5 trở thành Ngày Giỗ tiết của nhiều dân tộc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa làm Ngày Tết Đoan Ngọ Còn gọi là Tết Đoan Dương.
Bài Ngư phủ ông sáng tác trước khi trẫm mình ít ngày
Ông là nhà thơ đầu tiên của Trung quốc, để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó có bài Ly Tao nổi tiếng
Đại thi hào Nguyễn Du của chúng ta hai lần đi sứ Trung quoc đều đến sông Mịch La viếng Khuất Nguyên và Nguyễn Du cũng đã làm đến 5 bài thơ ca tụng và vịnh Khuất Nguyên.
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bản dịch Bài thơ Ngư Phủ của nhà thơ Đào Duy Anh
NGƯ PHỦ
Khuất Nguyên bị đuổi
Dạo trên bờ đầm
Vừa đi vừa ngâm
Vẻ mặt tiều tụy
Dáng người gầy còm
Ông chài trông thấy liền ướm hỏi:
Tam Lư đại phu đấy phải không ?
Vì sao mà đến nông nổi ấy ?
Khuất Nguyên bèn đáp lại ung dung :
Mọi người đều say mình ta tỉnh
Khắp đời đều đục mình ta trong
Vì thế mà bị đuổi
Ông chài nói:
Thánh nhân không câu nệ
Theo đời mà biến thông
Mọi người đều say
Sao không uống tràn cho ngây ngất
Khắp đời đều đục
Sao không theo dòng mà sục ngầu lên
Lại cứ nghĩ sâu làm cao để đến nỗi bị đuổi nào!
Khuất Nguyên nói:
Ta nghe
Người mới gội thì phải phủi khăn
Người mới tắm thì rũ áo
Ai lại đem tấm thân trong vắt
Mà nhuốm lấy nhơ nhớp của vật
Thà nhảy xuống dòng sông Tương
Chôn trong bụng thuồng luồng
Sao lại đem cái tiết sáng ngời
Mà vùi vào bụi bặm của đời?
 Ông chài tủm tỉm cười
Chèo thuyền mà đi
Hát vang sông:

Thì ta giặt khăn đầu
Nước Thương Lang đục a ?
 Thì ta rửa chân vào
Chèo thuyền đi thẳng
 Không nói thêm gì.
           (Theo Sở từ Khuất Nguyên- NXB Văn học- Hà Nội 1974)
(Bên bờ Phước Long Giang, một chiều mưa Tháng Tư năm Bính Thân)


Nhà thơ Xuân Bảo

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

168. Nhớ giọng hò o Quý

168. NHỚ GIỌNG HÒ O QUÝ.
Hồi ức của Xuân Bảo.
         
Một ngày cuối năm. Trong cuộc họp mặt bàn thành lập Ban Liên lạc đồng hương Quảng Trị ở Đồng Nai, o Tư người Vĩnh Linh, tuổi đã trên năm mươi, góp vui bằng một điệu hò mái nhì. Tiếng hò của o Tư làm tôi nhớ tới người con gái làng Thượng Phước – quê ngoại tôi – cách đây hơn nửa thế kỷ.
Làng Thượng Phước nằm ven con sông Thạch Hãn, quanh năm nước chảy hiền hòa. Chỉ có những ngày tiểu mãn, những ngày “tháng bảy nước nhảy lên bờ,” dòng sông mới đục ngầu phù sa, mang theo bao thứ từ tận tít nguồn Hàn, trên dãy Trường Sơn trôi về. Bọn trẻ chúng tôi thường đi cặp mé sông vớt củi rều, có khi vớ được cả những con heo rừng nhỏ, những con mang (mển) còn sống, đem về thui thui, đun dun, nấu nấu, cả xóm cùng vui.
Trước ngày vỡ mặt trận Trị Thiên - Huế, dòng Thạch Hãn man mác, dìu dặt bao nhiêu điệu hò thân thương trên những chiếc đò ngược xuôi bến Trấm và xa hơn nữa là Bơng, là Chả Cá, Đá Nổi, Đà Nầm, Thác Lo, Ngày đó và cho đến cả những năm đánh Tây, đường lên nguồn chủ yếu là đường sông. Cứ sau mỗi mùa thu hoạch, những chiếc nốốc to được chất đầy bắp, sắn chở về xuôi. Những tay thạo nghề sông nước và cũng rất giỏi giang trong các làn điệu hò mái đẩy, mái nhì. Cho đến khi xuất hiện bài thơ Cô lái đò của Lương An:
…Đò em lên xuống Ba Lòng
Chở người cán bộ qua vùng chiến khu…
Dòng Thạch Hãn như được thổi thêm luồng sinh khí mới. Đêm đêm, khi vừa lặn mặt trời, bến Trấm rộn rịp bước chân người cán bộ, anh bộ đội và cả người đi buôn, xuống đò lên chiến khu. Đò đi trong đêm, đi trong ánh trăng rừng bàng bạc. Hai bên bờ là những trái núi sừng sững. Và tiếng hò lại được cất lên, hòa vào sương, vào núi, vào trăng làm chộn rộn lòng người.
Thượng Phước trước sông, sau độộng. Ở giữa có cánh đồng Bàu Lác, Bàu Ông Phe, hai mùa lúa trĩu hạt sây bông. Trước Cách mạng tháng Tám, cứ tới mùa cày, mùa cấy, mùa gặt, thợ bạn từ Lâm Thủy, Câu Nhi, Trà Lộc…kéo nhau lên để mùa nào việc nấy. Cánh đồng làng tấp nập từng tốp, từng tốp áo dài vá vai khom lưng dưới nắng dãi, mưa dầu làm lụng. Và để quên đi cái mệt nhọc của công việc đồng áng, tiếng hò được cất lên giữa đất trời bao la, lan tỏa khắp thôn làng, thấm sâu vào lòng người.
 Mạ tôi cũng là một người hò rất hay. Ngày còn bé, tôi đã được nghe Mạ hò với rất nhiều làn điệu. Hò mái nhì, hay còn gọi là điệu hò sông nước. Đây là điệu hò khoan thai, theo nhịp mái chèo. Tôi thường nghe Mạ hò câu hò in đậm vào lòng người dân mất nước:
 “Chiều chiều trước bến Văn Lâu *
  ai ngồi ai câu
  ai sầu ai thảm
 ai thương ai cảm
 ai nhớ ai đợi ai trông.
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.
Nhưng tôi nhớ nhất là điệu hò Ru em:
 Ru em, em théc cho muồi
 Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu…
 Và những năm ở Hà Nội, tôi đã làm bài thơ  Gửi cánh chim xa để nhớ về mẹ, trong đó có những câu:
…Về bên nôi cũ, đến con tìm
Lời mẹ ngày xưa ru con ngủ
Ầu ơi! Giấc ngủ nhẹ êm êm…
                                                ***
Tháng 2 năm 1947, giặc Pháp đổ bộ lên cửa biển Tư Hiền, rồi nống chiếm Quảng Trị. Thượng Phước cách thị xã Quảng Trị không đầy năm cây số rừng. Nhưng đây là vùng tự do. Bọn trẻ chúng tôi, đứa thì vào du kích, đứa đi bộ đội, đứa lên Ba Lòng, đứa ra Hà Tĩnh để học, tùy theo sức mình mà tham gia kháng chiến. Trong chi đoàn Thanh niên Cứu quốc thôn, có o Quý được trời phú cho một chất giọng tuyệt vời, hát đã hay mà hò lại càng hay hơn.
Nhưng đêm trăng sáng, chi đoàn tổ chức sinh hoạt giữa cánh đồng Bàu Lác, cố nhiên là phải vào mùa khô, mùa giáp Tết. Phần thứ hai, bao giờ cũng có tiết mục liên hoan văn nghệ. Tiếng hát, tiếng hò lại được cất lên một cách tự nhiên như con người cần hít thở khí trời vậy. Và không thể thiếu được giọng hò o Quý. O Quý hò, tập thể chúng tôi xô (xô là tiếng hò đệm xen vào để người hò hò tiếp câu sau). Có một tối, chi đoàn đang vui văn nghệ thì có mấy anh bộ đội đến chung vui. Quý biết đây là lính của Tỉnh đội bộ, có bí số là  C.210, thường về đóng quân ở xóm Mộ, làng Thượng Phước. Quý liền cất ngay tiếng hò:
Ai về nhắn với Hai trăm mười (210)
Mau lên Thượng Phước kẻo có người đợi trông.
          Trong nhóm bộ đội đó có anh Hà, người có dáng thư sinh, hò đáp:
          Nghe tên o Quý đã lâu
          Nay eng mới chộ muốn trao câu ân tình.
          Quý đỏ mặt xấu hổ. Không ngờ cái buổi giao duyên ban đầu ấy đã trở thành duyên nợ giữa hai người. Sau cái lụt năm Thìn (1952) họ làm lễ cưới.
***
          Trời chạng vạng tối. Càng gần Tết, trời Quảng Trị dường như lạnh hơn. Tổ hò địch vận có ba người. Hai tay súng và O Quý được lệnh chuẩn bị lên đường. Bốt Cầu Bàu Vịt nằm trên đoạn đường sắt và quốc lộ 1 chạy qua làng Nhan Biều, được chọn cho buổi hò hôm nay.
          Không biết từ ngàn xưa đến nay có cuộc chiến tranh nào trên trái đất này đã có chuyện đem điệu hò quê hương rót vào tai kẻ địch để khuyên chúng tỉnh ngộ, trở lại với cội nguồn dân tộc? Thế mà ở ta lại có chuyện đó. Đây có lẽ là một “binh chủng” hết sức độc đáo, hết sức đặc biệt. Nên chăng giành cho loại hình này một chỗ đứng trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.
          Vũ khí chính ra trận đêm nay của tổ hò là một cái loa tay. Loa làm bằng sắt tây, đầu nhỏ có gắn miếng tôn loe ra, vừa đủ cho người sử dụng ghé miệng vào nói hoặc hò, ở giữa có tay cầm và phần cuối loa rộng ra, đường kính vừa bằng cái đọi canh to. Viết đến đây, tôi lại nghĩ và lấy làm tiếc, giá như hồi đó có cái máy cát-xét, thi ta cứ hò vào đó, thu băng xong, đêm về đem đặt ở một chỗ xuôi gió, bấm máy, hò vào tai kẻ địch thì đỡ hy sinh biết mấy! Tổ hò địch vận chúng tôi có hai khẩu súng mà một khẩu là loại mút-cờ-tông từ thời đệ nhất thế chiến, mỗi lần bắn súng giật ê cả và một khẩu súng trường Nga dài lêu nghêu, bắn từng phát một, bốn trái lựu đạn, hai dao găm, hai cái cuốc nhỏ (thực ra đây là cái chét chuyên dùng làm cỏ lúa vãi), hai cái xẻng quân dụng của Pháp (chiến lợi phẩm của du kích Triệu Sơn giật bom giết bọn giặc đi càn ở đầu làng Thượng Phước). Những dụng cụ này dùng để đào hố vừa đủ cho mấy người ngồi để tránh đạn trong bốt bắn ra. Ngoài những thứ vũ khí ấy, họ còn thêm một thứ nữa mà kẻ thù không sao có được. Đó là ngọn lửa cách mạng hừng hực cháy trong những trái tim thanh xuân của họ. Kể cũng lạ, hồi đó chúng tôi đi vào cuộc thử lửa để giành lại độc lập cho Tổ quốc sao mà thanh thản, vô tư và nhiệt thành đến thế!
          Để bảo đảm cho tổ hò địch vận, ngay từ chiều lúc vừa chạng vạng, tổ cảnh giới, gồm có Dượng Phụ, tôi và Bùi Hữu Tưởng, đã đến trước vị trí để nắm tình hình, theo dõi xem bọn địch có rải quân phục kích xung quanh bốt hay không. Nhớ lại hôm đi hò đầu tiên, chính bọn địch cũng ngỡ ngàng phút chốc khi nghe tiếng hò cất lên. Nhưng đến lúc chúng nhận ra, trong những câu hò đó là lời kêu gọi của Việt Minh thì chúng bắn xối xả như vãi đạn. Cũng may là bên ta có sự chuẩn bị hầm hố chu đáo nên không hề hấn gì. Lúc đầu Quý cũng thấy sợ và giọng hò lạc đi trong tiếng vèo vèo đạn xé về phía mình. Mãi những lần hò sau rồi quen dần. Giặc bắn cứ bắn, ta hò cứ hò.
          O Quý buộc chặt lại chiếc khăn len quàng cổ. Giọng O lại cất lên:
-         Ơ hờ! Anh ơi, mau mau quay súng trở về
Đồng bào đang đợi, vợ ở quê đang chờ
-         Súng trong tay, anh bắn giặc Tây
Về đây cứu nước đêm ngày em mong.
          Một loạt đạn bay ra. Đèn pha quét loang loáng. Chờ im tiếng súng O Quý lại hò:
           -   Ơ hờ! Mau về với chính nghĩa anh ơi!
               Khỏi làm bia miệng cho đời cười chê.
          Lần này thì bọn giặc trong bốt không bắn ra nữa. Chúng còn gọi vọng ra: Hò nữa đi!
          Khi tiếng súng lặng im là lúc tiếng hò chiếm ngự trời đêm. Tiếng hò cao vút lên tận không trung. Các vì sao xao xuyến lung linh. Tiếng hò như những lời nhắn gửi của quê hương, làng mạc đối với những đứa con lầm đường lạc lối. Tiếng hò có sức bay xa, lan tỏa trong đêm đối với bà con trong vùng địch tạm chiếm, đem đến cho họ niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến trường kỳ. Tiếng hò như đọng lại trên từng nhánh lá, cành cây, ngọn cỏ và đi vào lòng người. Đã có nhiều anh lính ngụy vác súng quay về với kháng chiến, với quê hương.
                                                          ***
          Đêm nay, không biết là đêm thứ bao nhiêu Quý cùng đồng đội đi hò dịch vận. Lính trong những đồn bốt giặc đóng từ cầu ga Quảng Trị ra đến Đông Hà đều được nghe giọng hò da diết của Quý. Năm Con Rắn (Quý Tỵ) sắp đi qua và năm Con Ngựa (Giáp Ngọ - 1954) sắp về. Càng gần thắng lợi càng dày gian nan! Chiến trường Đông Dương như một lò lửa đã đến hồi sắp tàn. Bọn Pháp dồn quân tướng ra lòng chảo Điện Biên Phủ. Ở Quảng Trị, những cuộc càn quét, bắn phá của chúng thưa thớt hơn. Chúng đang co cụm và bên ta thì tăng cường những trận tập kích vào hệ thống phòng thủ của chúng, tích cực quấy rối địch, trong đó có một mũi: hò địch vận. Hò địch vận đã phát triển thành một phong trào rộng lớn, có bài bản. Bất kỳ nơi nào trên đất Quảng Trị có đồn bốt giặc là nơi đó có giọng hò địch vận được cất lên. Những bài (hay câu) hò được sáng tác và in thành những cuốn sách nhỏ do Ty Thông tin – Tuyên truyền tỉnh ấn hành. Tổ hò địch vận còn sử dụng cả những câu hò được đăng trên tờ báo Dân (cơ quan của Tỉnh Đảng bộ Quảng Trị), những bài hò đăng trên báo Cứu Quốc Liên khu 4. Cũng có khi sử dụng những bài hò của anh chị em trong chi đoàn sáng tác, mà phần lớn là của tôi.
Bốt Ái Tử đêm nay tăng cường thêm nhiều đèn pha. Ánh sáng ma quái của chúng liên tục quét đi quét lại, tưởng chừng một con chuột cũng không thoát được sự kiểm soát của chúng. Giặc đang lồng lộn điên cuồng của thời kỳ dãy chết. Tổ của O Quý được ém sau một động cát. Cái thứ cát mịn như nhung và trắng tựa bông đang ấp ủ những đứa con vì độc lập của Tổ quốc mà không quản ngại gian khổ, hy sinh. Gió lạnh nhè nhẹ thổi. Sắp Tết rồi, đất trời như có sự chuyển mình, giao thoa. Một cây mai vàng đơn độc bên hàng rào nhà ai đã ra hoa và tỏa ngát hương thơm man mác đến tận chỗ anh chị em đang nằm đợi đêm xuống để bắt đầu vào cuộc.
-         Ơ hờ! Mau về chính nghĩa anh ơi
Khỏi làm bia miệng cho đời cười chê
Mới chỉ có một câu hò vừa dứt thì từng loạt đạn liên thanh nhằm vào nơi có giọng hò bắn xối xả như mưa. Chúng còn dùng cả súng phóng lựu, cả đại liên bắn tới tấp. Chiếc loa tay thủng lỗ chỗ. Các tay súng bên ta nổ súng đáp lại và yêu cầu Tổ O Quý rút lui. Pháo sáng sáng rực một góc trời. O Quý bò ra được một đoạn, vào cái nơi trống trải mà một bên là đường sắt, một bên là đường số 1 thì một quả đạn pháo của địch nổ. Mảnh đạn quái ác của giặc đã cướp đi sinh mạng người con gái quê tôi đang độ tuổi thanh xuân, cướp đi của Quảng Trị một giọng hò mà nếu Quý còn sống thì có thể sánh cùng các nghệ sĩ Châu Loan, Hồng Lê sau này.
O Quý hy sinh để lại biết bao thương tiếc cho chi đoàn Thanh niên Cứu quốc, cho gia đình, họ mạc, xóm làng quê hương. Anh Hà chồng o Quý mải cho tới Hiệp định Genève được ký kết 3 tháng, mới được tin vợ hy sinh. Những năm tháng ác liệt đó anh theo Trung đoàn 95 đi khắp chiến trường Bình Trị Thiên, Hạ Lào. Và đầu năm 1954, anh có mặt ở chiến trường Điện Biên Phủ.
Đứng bờ bắc sông Hiền Lương, anh gửi theo gió lời cầu nguyện về linh hồn một người con gái Thượng Phước chưa từng được làm mẹ một ngày:
Sống anh hùng, chết vẻ vang.
Xuân Bảo
      (Viết lại có bổ sung-Bên bờ Phước Long Giang, ngày 8 tháng 8 năm 2020, sau tiết Lập Thu Canh Tý một ngày)
Nhà thơ Xuân Bảo