Trang

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

168. Nhớ giọng hò o Quý

168. NHỚ GIỌNG HÒ O QUÝ.
Hồi ức của Xuân Bảo.
         
Một ngày cuối năm. Trong cuộc họp mặt bàn thành lập Ban Liên lạc đồng hương Quảng Trị ở Đồng Nai, o Tư người Vĩnh Linh, tuổi đã trên năm mươi, góp vui bằng một điệu hò mái nhì. Tiếng hò của o Tư làm tôi nhớ tới người con gái làng Thượng Phước – quê ngoại tôi – cách đây hơn nửa thế kỷ.
Làng Thượng Phước nằm ven con sông Thạch Hãn, quanh năm nước chảy hiền hòa. Chỉ có những ngày tiểu mãn, những ngày “tháng bảy nước nhảy lên bờ,” dòng sông mới đục ngầu phù sa, mang theo bao thứ từ tận tít nguồn Hàn, trên dãy Trường Sơn trôi về. Bọn trẻ chúng tôi thường đi cặp mé sông vớt củi rều, có khi vớ được cả những con heo rừng nhỏ, những con mang (mển) còn sống, đem về thui thui, đun dun, nấu nấu, cả xóm cùng vui.
Trước ngày vỡ mặt trận Trị Thiên - Huế, dòng Thạch Hãn man mác, dìu dặt bao nhiêu điệu hò thân thương trên những chiếc đò ngược xuôi bến Trấm và xa hơn nữa là Bơng, là Chả Cá, Đá Nổi, Đà Nầm, Thác Lo, Ngày đó và cho đến cả những năm đánh Tây, đường lên nguồn chủ yếu là đường sông. Cứ sau mỗi mùa thu hoạch, những chiếc nốốc to được chất đầy bắp, sắn chở về xuôi. Những tay thạo nghề sông nước và cũng rất giỏi giang trong các làn điệu hò mái đẩy, mái nhì. Cho đến khi xuất hiện bài thơ Cô lái đò của Lương An:
…Đò em lên xuống Ba Lòng
Chở người cán bộ qua vùng chiến khu…
Dòng Thạch Hãn như được thổi thêm luồng sinh khí mới. Đêm đêm, khi vừa lặn mặt trời, bến Trấm rộn rịp bước chân người cán bộ, anh bộ đội và cả người đi buôn, xuống đò lên chiến khu. Đò đi trong đêm, đi trong ánh trăng rừng bàng bạc. Hai bên bờ là những trái núi sừng sững. Và tiếng hò lại được cất lên, hòa vào sương, vào núi, vào trăng làm chộn rộn lòng người.
Thượng Phước trước sông, sau độộng. Ở giữa có cánh đồng Bàu Lác, Bàu Ông Phe, hai mùa lúa trĩu hạt sây bông. Trước Cách mạng tháng Tám, cứ tới mùa cày, mùa cấy, mùa gặt, thợ bạn từ Lâm Thủy, Câu Nhi, Trà Lộc…kéo nhau lên để mùa nào việc nấy. Cánh đồng làng tấp nập từng tốp, từng tốp áo dài vá vai khom lưng dưới nắng dãi, mưa dầu làm lụng. Và để quên đi cái mệt nhọc của công việc đồng áng, tiếng hò được cất lên giữa đất trời bao la, lan tỏa khắp thôn làng, thấm sâu vào lòng người.
 Mạ tôi cũng là một người hò rất hay. Ngày còn bé, tôi đã được nghe Mạ hò với rất nhiều làn điệu. Hò mái nhì, hay còn gọi là điệu hò sông nước. Đây là điệu hò khoan thai, theo nhịp mái chèo. Tôi thường nghe Mạ hò câu hò in đậm vào lòng người dân mất nước:
 “Chiều chiều trước bến Văn Lâu *
  ai ngồi ai câu
  ai sầu ai thảm
 ai thương ai cảm
 ai nhớ ai đợi ai trông.
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.
Nhưng tôi nhớ nhất là điệu hò Ru em:
 Ru em, em théc cho muồi
 Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu…
 Và những năm ở Hà Nội, tôi đã làm bài thơ  Gửi cánh chim xa để nhớ về mẹ, trong đó có những câu:
…Về bên nôi cũ, đến con tìm
Lời mẹ ngày xưa ru con ngủ
Ầu ơi! Giấc ngủ nhẹ êm êm…
                                                ***
Tháng 2 năm 1947, giặc Pháp đổ bộ lên cửa biển Tư Hiền, rồi nống chiếm Quảng Trị. Thượng Phước cách thị xã Quảng Trị không đầy năm cây số rừng. Nhưng đây là vùng tự do. Bọn trẻ chúng tôi, đứa thì vào du kích, đứa đi bộ đội, đứa lên Ba Lòng, đứa ra Hà Tĩnh để học, tùy theo sức mình mà tham gia kháng chiến. Trong chi đoàn Thanh niên Cứu quốc thôn, có o Quý được trời phú cho một chất giọng tuyệt vời, hát đã hay mà hò lại càng hay hơn.
Nhưng đêm trăng sáng, chi đoàn tổ chức sinh hoạt giữa cánh đồng Bàu Lác, cố nhiên là phải vào mùa khô, mùa giáp Tết. Phần thứ hai, bao giờ cũng có tiết mục liên hoan văn nghệ. Tiếng hát, tiếng hò lại được cất lên một cách tự nhiên như con người cần hít thở khí trời vậy. Và không thể thiếu được giọng hò o Quý. O Quý hò, tập thể chúng tôi xô (xô là tiếng hò đệm xen vào để người hò hò tiếp câu sau). Có một tối, chi đoàn đang vui văn nghệ thì có mấy anh bộ đội đến chung vui. Quý biết đây là lính của Tỉnh đội bộ, có bí số là  C.210, thường về đóng quân ở xóm Mộ, làng Thượng Phước. Quý liền cất ngay tiếng hò:
Ai về nhắn với Hai trăm mười (210)
Mau lên Thượng Phước kẻo có người đợi trông.
          Trong nhóm bộ đội đó có anh Hà, người có dáng thư sinh, hò đáp:
          Nghe tên o Quý đã lâu
          Nay eng mới chộ muốn trao câu ân tình.
          Quý đỏ mặt xấu hổ. Không ngờ cái buổi giao duyên ban đầu ấy đã trở thành duyên nợ giữa hai người. Sau cái lụt năm Thìn (1952) họ làm lễ cưới.
***
          Trời chạng vạng tối. Càng gần Tết, trời Quảng Trị dường như lạnh hơn. Tổ hò địch vận có ba người. Hai tay súng và O Quý được lệnh chuẩn bị lên đường. Bốt Cầu Bàu Vịt nằm trên đoạn đường sắt và quốc lộ 1 chạy qua làng Nhan Biều, được chọn cho buổi hò hôm nay.
          Không biết từ ngàn xưa đến nay có cuộc chiến tranh nào trên trái đất này đã có chuyện đem điệu hò quê hương rót vào tai kẻ địch để khuyên chúng tỉnh ngộ, trở lại với cội nguồn dân tộc? Thế mà ở ta lại có chuyện đó. Đây có lẽ là một “binh chủng” hết sức độc đáo, hết sức đặc biệt. Nên chăng giành cho loại hình này một chỗ đứng trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.
          Vũ khí chính ra trận đêm nay của tổ hò là một cái loa tay. Loa làm bằng sắt tây, đầu nhỏ có gắn miếng tôn loe ra, vừa đủ cho người sử dụng ghé miệng vào nói hoặc hò, ở giữa có tay cầm và phần cuối loa rộng ra, đường kính vừa bằng cái đọi canh to. Viết đến đây, tôi lại nghĩ và lấy làm tiếc, giá như hồi đó có cái máy cát-xét, thi ta cứ hò vào đó, thu băng xong, đêm về đem đặt ở một chỗ xuôi gió, bấm máy, hò vào tai kẻ địch thì đỡ hy sinh biết mấy! Tổ hò địch vận chúng tôi có hai khẩu súng mà một khẩu là loại mút-cờ-tông từ thời đệ nhất thế chiến, mỗi lần bắn súng giật ê cả và một khẩu súng trường Nga dài lêu nghêu, bắn từng phát một, bốn trái lựu đạn, hai dao găm, hai cái cuốc nhỏ (thực ra đây là cái chét chuyên dùng làm cỏ lúa vãi), hai cái xẻng quân dụng của Pháp (chiến lợi phẩm của du kích Triệu Sơn giật bom giết bọn giặc đi càn ở đầu làng Thượng Phước). Những dụng cụ này dùng để đào hố vừa đủ cho mấy người ngồi để tránh đạn trong bốt bắn ra. Ngoài những thứ vũ khí ấy, họ còn thêm một thứ nữa mà kẻ thù không sao có được. Đó là ngọn lửa cách mạng hừng hực cháy trong những trái tim thanh xuân của họ. Kể cũng lạ, hồi đó chúng tôi đi vào cuộc thử lửa để giành lại độc lập cho Tổ quốc sao mà thanh thản, vô tư và nhiệt thành đến thế!
          Để bảo đảm cho tổ hò địch vận, ngay từ chiều lúc vừa chạng vạng, tổ cảnh giới, gồm có Dượng Phụ, tôi và Bùi Hữu Tưởng, đã đến trước vị trí để nắm tình hình, theo dõi xem bọn địch có rải quân phục kích xung quanh bốt hay không. Nhớ lại hôm đi hò đầu tiên, chính bọn địch cũng ngỡ ngàng phút chốc khi nghe tiếng hò cất lên. Nhưng đến lúc chúng nhận ra, trong những câu hò đó là lời kêu gọi của Việt Minh thì chúng bắn xối xả như vãi đạn. Cũng may là bên ta có sự chuẩn bị hầm hố chu đáo nên không hề hấn gì. Lúc đầu Quý cũng thấy sợ và giọng hò lạc đi trong tiếng vèo vèo đạn xé về phía mình. Mãi những lần hò sau rồi quen dần. Giặc bắn cứ bắn, ta hò cứ hò.
          O Quý buộc chặt lại chiếc khăn len quàng cổ. Giọng O lại cất lên:
-         Ơ hờ! Anh ơi, mau mau quay súng trở về
Đồng bào đang đợi, vợ ở quê đang chờ
-         Súng trong tay, anh bắn giặc Tây
Về đây cứu nước đêm ngày em mong.
          Một loạt đạn bay ra. Đèn pha quét loang loáng. Chờ im tiếng súng O Quý lại hò:
           -   Ơ hờ! Mau về với chính nghĩa anh ơi!
               Khỏi làm bia miệng cho đời cười chê.
          Lần này thì bọn giặc trong bốt không bắn ra nữa. Chúng còn gọi vọng ra: Hò nữa đi!
          Khi tiếng súng lặng im là lúc tiếng hò chiếm ngự trời đêm. Tiếng hò cao vút lên tận không trung. Các vì sao xao xuyến lung linh. Tiếng hò như những lời nhắn gửi của quê hương, làng mạc đối với những đứa con lầm đường lạc lối. Tiếng hò có sức bay xa, lan tỏa trong đêm đối với bà con trong vùng địch tạm chiếm, đem đến cho họ niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến trường kỳ. Tiếng hò như đọng lại trên từng nhánh lá, cành cây, ngọn cỏ và đi vào lòng người. Đã có nhiều anh lính ngụy vác súng quay về với kháng chiến, với quê hương.
                                                          ***
          Đêm nay, không biết là đêm thứ bao nhiêu Quý cùng đồng đội đi hò dịch vận. Lính trong những đồn bốt giặc đóng từ cầu ga Quảng Trị ra đến Đông Hà đều được nghe giọng hò da diết của Quý. Năm Con Rắn (Quý Tỵ) sắp đi qua và năm Con Ngựa (Giáp Ngọ - 1954) sắp về. Càng gần thắng lợi càng dày gian nan! Chiến trường Đông Dương như một lò lửa đã đến hồi sắp tàn. Bọn Pháp dồn quân tướng ra lòng chảo Điện Biên Phủ. Ở Quảng Trị, những cuộc càn quét, bắn phá của chúng thưa thớt hơn. Chúng đang co cụm và bên ta thì tăng cường những trận tập kích vào hệ thống phòng thủ của chúng, tích cực quấy rối địch, trong đó có một mũi: hò địch vận. Hò địch vận đã phát triển thành một phong trào rộng lớn, có bài bản. Bất kỳ nơi nào trên đất Quảng Trị có đồn bốt giặc là nơi đó có giọng hò địch vận được cất lên. Những bài (hay câu) hò được sáng tác và in thành những cuốn sách nhỏ do Ty Thông tin – Tuyên truyền tỉnh ấn hành. Tổ hò địch vận còn sử dụng cả những câu hò được đăng trên tờ báo Dân (cơ quan của Tỉnh Đảng bộ Quảng Trị), những bài hò đăng trên báo Cứu Quốc Liên khu 4. Cũng có khi sử dụng những bài hò của anh chị em trong chi đoàn sáng tác, mà phần lớn là của tôi.
Bốt Ái Tử đêm nay tăng cường thêm nhiều đèn pha. Ánh sáng ma quái của chúng liên tục quét đi quét lại, tưởng chừng một con chuột cũng không thoát được sự kiểm soát của chúng. Giặc đang lồng lộn điên cuồng của thời kỳ dãy chết. Tổ của O Quý được ém sau một động cát. Cái thứ cát mịn như nhung và trắng tựa bông đang ấp ủ những đứa con vì độc lập của Tổ quốc mà không quản ngại gian khổ, hy sinh. Gió lạnh nhè nhẹ thổi. Sắp Tết rồi, đất trời như có sự chuyển mình, giao thoa. Một cây mai vàng đơn độc bên hàng rào nhà ai đã ra hoa và tỏa ngát hương thơm man mác đến tận chỗ anh chị em đang nằm đợi đêm xuống để bắt đầu vào cuộc.
-         Ơ hờ! Mau về chính nghĩa anh ơi
Khỏi làm bia miệng cho đời cười chê
Mới chỉ có một câu hò vừa dứt thì từng loạt đạn liên thanh nhằm vào nơi có giọng hò bắn xối xả như mưa. Chúng còn dùng cả súng phóng lựu, cả đại liên bắn tới tấp. Chiếc loa tay thủng lỗ chỗ. Các tay súng bên ta nổ súng đáp lại và yêu cầu Tổ O Quý rút lui. Pháo sáng sáng rực một góc trời. O Quý bò ra được một đoạn, vào cái nơi trống trải mà một bên là đường sắt, một bên là đường số 1 thì một quả đạn pháo của địch nổ. Mảnh đạn quái ác của giặc đã cướp đi sinh mạng người con gái quê tôi đang độ tuổi thanh xuân, cướp đi của Quảng Trị một giọng hò mà nếu Quý còn sống thì có thể sánh cùng các nghệ sĩ Châu Loan, Hồng Lê sau này.
O Quý hy sinh để lại biết bao thương tiếc cho chi đoàn Thanh niên Cứu quốc, cho gia đình, họ mạc, xóm làng quê hương. Anh Hà chồng o Quý mải cho tới Hiệp định Genève được ký kết 3 tháng, mới được tin vợ hy sinh. Những năm tháng ác liệt đó anh theo Trung đoàn 95 đi khắp chiến trường Bình Trị Thiên, Hạ Lào. Và đầu năm 1954, anh có mặt ở chiến trường Điện Biên Phủ.
Đứng bờ bắc sông Hiền Lương, anh gửi theo gió lời cầu nguyện về linh hồn một người con gái Thượng Phước chưa từng được làm mẹ một ngày:
Sống anh hùng, chết vẻ vang.
Xuân Bảo
      (Viết lại có bổ sung-Bên bờ Phước Long Giang, ngày 8 tháng 8 năm 2020, sau tiết Lập Thu Canh Tý một ngày)
Nhà thơ Xuân Bảo

         


Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

167. Ký ức về một làng quê yên ả.


167. Ký ức về một làng quê yên ả.

2- Ngôi làng ven sông.

Thôn Thượng Phước nằm ngay vị trí tiền chiến khu Ba Lòng, chỉ cách thị xã Quảng Trị không đầy 5 cây số, cách bốt Cầu Ga hơn 2 kilômet. Nhưng Thượng Phước được coi là vùng tự do. Làng Thượng Phước là một làng thuộc miền duyên sơn, là vùng đất bán sơn địa, chạy dài từ cuối làng An Đôn lên đến xóm Chuối, dưới Bến Trấm, dài trên 7 cây số và chiều rộng trung bình là 2 cây số -  nơi rộng nhất có thể lên tới 4, 5 cây số. (Trạng Mốc, Tràu…). Bên phải làng là những độộng, hác như bức thành che chắn mặt bắc. Con sông Thạch Hãn chảy theo chiều dọc bờ nam của làng, hình thành thế thành cao hào sâu, bảo vệ xóm làng.
Cách đầu làng, tính từ An Đôn lên đoạn Phường Sãi, non 2 cây số là hai khu rừng nguyên sinh: Lùm Miệu Dưới và Lùm Miệu Trên. Từ Cách mạng Tháng Tám 1945 trở về trước hai khu rừng này có rất nhiều loại cây rừng quý thuộc hạng tứ thiết, có mây song, có rất nhiều cây bồ kết trái dùng gội tóc, gai mọc từ thân cây. Nơi đây có nhiều loại thú rừng quý như cọp, beo, heo rừng, mang (mển),nhím, thỏ rừng, rắn hổ các loài, rắn mai, kỳ đà, tê tê, trăn…có nhiều loại ong: ong ruồi, ong mật, ong bò vẽ, ong hầm. Hai loại ong bò vẽ và ong hầm là loài nguy hiểm nhất, dễ gây tử vong cho người, nhất là trẻ con. Các loài chim cũng rất phong phú: công, gà rừng, chim lợn, quạ, diều, chim cắt, cu kỳ, cu cườm, sáo đen, sáo chân vàng, cà cưỡng, cuốc, nghịch, chàng làng, bìm bịp, rôộc rộôc, con chim “Cha kèo con cột” (mà sau này các anh lính giải phóng quân nghe ra là “ Khó khăn khắc phục” để động viên nhau ra trận diệt Mỹ). Đặc biệt, có một loài chim ăn đêm mà tiếng kêu của chúng rất não nề. Tên gì thì ít người biết, nhưng chỉ nghe tiếng con đực kêu: “Cùng cực chi tui, cùng cực” thì con mái đáp “Rủ rỉ, rù rì”. Hai con chim này không bao giờ bay song đôi. Đêm đến, con chim đực bay từ cây ươi Cồn Quả và con cái bay từ hàng cây cổ thụ - nơi Dinh Ngài khai khẩn – bay lên làng. Hai con chim này thường gặp nhau tại kiệt ông Phó Tiệm. Có người đã nhìn thấy chúng thân hình to như con gà mái, lông màu xám, nhảy múa và gù nhau khi vào mùa giao phối. Rồi thì “eng đi đàng eng, ả đi đàng ả “ về hai phía dầu và cuối làng, đổi chỗ cho nhau, để đến hôm sau lại tiếp tục hành trình xuyên đêm. Chim kêu đêm còn có con te te hót, thường sống ở các trảng trống. Có một loài chim nhỏ mình nhưng chiến thắng cả loài quạ to xác, dó là chim chèo bẻo.
Tất cả rừng rú và các loài động vật sống nơi đó và trên dải đất miền Nam đều bị bom đạn 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và đuổi Mỹ làm cho tan tác, tản mác. Giờ đây chỉ còn lại những vạt rừng mới trồng keo lai, tràm, bạch đàn. Thú rừng và chim muông còn lại ít loài như chèo bẻo, chào mào đít đỏ.
Bãi cát ven sông của làng còn có vạn chài của ông Yên, ông Dĩ. Hai gia dình này sống trên sông, chuyên nghề chài lưới, sau được nhập tịch vào thôn Thượng Phước. Và ở đây có người con ông Dĩ tên là Tấn được cắp sách tới trường cùng học với học sinh Thượng Phước. Tấn là học sinh giỏi và được cử đi dự Hội nghị Chiến sĩ Thi đua Liên khu Bốn, cùng thời với Chiến sĩ thi đua Hà Học Trạc.
Ở dưới Dốc Cồn Thang có một xóm dân từ nơi khác đến khai hoang, lập ấp. Sau ngày Toàn thắng 30-4-1975, Thượng Phước đã cắt 30 hecta tại đây và tại xóm Chuối Mía để lập thành thôn Tân Xuân mới.
Thượng Phước từ ngàn xưa có phường Đá Đứng – một bán đảo rất đẹp mà con sông Thạch Hãn uốn lượn vòng cung hình thành một mảnh đất trù phú. Đá Đứng và Giang Quan cùng với Trảng Mốc, tổng cộng hơn 100 mẫu tây của làng mãi mãi chìm vào lòng công trinh Đại thủy nông Nam Thạch Hãn, thường gọi không chính xác là Đập Trấm. Đất đai tự nhiên của Thượng Phước hiện còn là 1.500 hecta. Trong đó diện tích canh tác là gần 100 hecta, bao gồm cả ruộng nước và đất đồi. Đất thổ cư có 30 hecta. Số dân sống ở làng hiện tại có 14 dòng tộc với 187 hộ, 870 nhân khẩu, không kể những con dân làng bỏ xứ đi mưu sinh ở quê người, kể cả định cư ở nước ngoài mà phần lớn ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Trước đây, dân làng sinh sống chủ yếu khu vực giữa làng. Trước mặt là sông trên bờ là những biền dâu, biền bắp, đậu xanh, đậu phụng  bốn mùa xanh ngắt. Giũa làng, đường ngang kiệt nhỏ, (hiện nay đã bê-tông hóa) nối vào nhau bằng những lối đi tắt, nhà này sang nhà khác, biểu hiện đậm đà tình làng nghĩa xóm,”tối lửa tắt đèn” có nhau. Cổng chính chỉ để tiếp đón những vị khách nơi xa đến. Những bức nương xưa kia xanh tươi nhiều loại cây ăn trái lưu niên: mít, chè, cau, chuối, bưởi bòng, cam, quýt, dâu gia, bồ quân bị chiến tranh tàn phá nay đã hồi sinh. Màu xanh không những phủ khắp làng mà những cồn, những độộng, những hác, những trảng xưa kia mọc đầy sim, mua, muồng muồng… bị chất độc khai quang gần như đất trắng, đều được xanh lại màu xanh lá cây của những cành rừng trồng mới: keo lai, tràm, bạch đàn… Con đường làng (liên thôn) đã được tôn cao và đúc bê-tông để thành con đường cứu nạn, cứu hộ.
Thượng Phước có rất nhiều cánh đồng lúa nước Bàu Lác, Bàu Ông Phe. Ngoài ra còn có những khu ruộng không nhiều diện tích như Cầu Đất, Độông Ôi, La Nghìn, Phúc Rèn, Khe Bội…Năm 2015, Thượng Phước hưởng ứng phong trào “Đoàn kết chung tay xây dựng Nông thôn mới” đã thu được những kết quả ban đầu: Thực hiện “dồn điền đổi thửa”, chỉnh trang đồng ruộng cải tạo được 22 hecta, khắc phục 3 hecta ruộng hoang hóa lâu ngày, chia lô làm “to thửa ít vùng” thuận lợi cho thâm canh; đào đắp 2.300 mét kênh mương tưới tiêu với tổng kinh phí đầu tư là 845,700.000 đồng bằng nguồn vốn tự có.
Cồn Cự là một qủa đồi độc lập, hình thế rất đẹp, giống như lưng rùa, án ngữ mặt bắc, nằm ngay vị trí gần như trung tâm của làng được bao bọc bởi những cành đồng Bàu Ông Phe, Bàu Lác, hác Cồn Lê. Những ngày còn nhỏ, bọn trẻ chúng tôi thường hay chơi đá bóng ở một vạt đất bằng phẳng ngay đầu Cồn Cự. Bóng là những trái bưởi còn non, to bằng cái chén ăn cơm. Nương nhà tôi và nương Ông Mệ ngoại có rất nhiều bưởi, thường rụng khi có gió, nên chúng tôi nhặt về, hơ lửa cho mềm vỏ ngoài rồi dùng để đá thay trái bóng da. Sau này, có mấy mụ bà con ở thị xã lên thăm làng. Cha mẹ chúng tôi nhờ họ mua giùm trái bóng da mà trong ruột có cái vét-si bằng cao su màu đỏ, khi trái bóng xẹp thì dùng bơm xe đạp bơm lên, còn thì thường dùng hơi từ hai lá phổi của bọn trẻ thay nhau thổi.
 Tôi đã có ý tưởng và đã viết thành đề án xây dựng Cồn Cự trở thành một khu văn hóa, trong đó có Nhà bia Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng và những người dân của làng đã hy sinh. Trong 2 cuộc trường chinh đánh Pháp và đuổi Mỹ, Thượng Phước đã cống hiến cho Tổ quóc 45 liệt sĩ, 7 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, 16 thương binh, 28 gia đình có công với cách mạng. Và còn nhiều liệt sĩ vô danh khác, trong đó có những người dân thường bị địch tàn sát, mổ bụng, moi gan, chôn sống mà hiện nay chưa tìm được hết.
Bạn học thời phổ thông của tôi, cụ Trần Đức Long, 82 tuổi, hiện đang sống ở Hà Nội gọi điện thoại cho tôi bảo rằng ông Trần Đức Hinh, thường gọi là ông Bộ Hinh, thân phụ của Trần Đức Long bị giặc Pháp bắt và bị bắn chết tại xóm Chuối cùng với ông Nguyễn Văn Dần trong trận càn mà du kích Thượng Phước giật mìn làm bọn lính Pháp thiệt hại nặng nề ở trận Soi Mè. Ông Bộ Hinh lúc này là cán bộ Nông hội. Giờ này vẫn chưa được xét tặng thưởng về thành tích kháng chiến. Nên chăng, các cấp chính quyền thôn Thượng Phước, xã Triệu Thượng và huyện Triệu Phong cần lưu ý xét truy tặng.
Nơi đây cũng có vị trí rất đẹp để xây Cụm Văn hóa – Thể thao:  sẽ có thư viện, phòng chiếu bóng, sân khấu ca kịch; sẽ có sân bóng đá, bóng chuyền và các loại hình thể thao khác như bóng bàn, cầu lông và sàn tập thể dục…Ngoài ra, sẽ quy hoạch Cồn Cự thành một Công viên vĩnh hằng hay còn gọi là Nghĩa trang nhân dân  của người dân Thượng Phước. Tất cả những việc làm có ý nghĩa này sẽ góp phần đưa Thượng Phước trở thành một làng văn hóa tiêu biểu.
(Còn tiếp)

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016

166. Ký ức về một làng quê yên ả.


         KÝ ỨC VỀ MỘT LÀNG QUÊ YÊN Ả.

Lời nói đầu: Chuyến đi lần này, lúc đầu tôi chỉ định viết về Lễ hội làng Thượng Phước – lễ hội săn bắt thú rừng truyền thống để nhớ về Ngài Tiền khai Võ Nguyên Hùng Dõng tặng Hùng Quốc Công – người đã có công truyền nghề săn bắt thú rừng để bảo vệ mùa màng, thể hiện sức mạnh đoàn kết của cộng đồng.
Nhưng khi bắt tay vào viêt thì ký ức tràn về như một dòng thác. Vì nơi ấy đã để lại trong tâm khảm tôi một thời thơ ấu mà mãi mãi không bao giờ mờ phai.Do vậy,KÝ ỨC VỀ MỘT LÀNG QUÊ YÊN Ả ra đời để nhớ về quê Mẹ.
Bút ký của Xuân Bảo
1.     Về quê ngoại Phường Sãi.

Năm 1944, Ba tôi mãn hạn lính. Hai căn nhà trong Trại Con Gái (Camp Marié) phải trả lại cho đồn Mang Cá. Ba mạ tôi dắt díu đàn em tôi trở về Quảng Trị. Vì là đang trong thời kỳ Thề chiến thứ II, đường bộ bị phong tỏa trong “phòng thủ thụ động”, nên gia đình ba mạ tôi phải đi đò dọc từ bến Bao Vinh, qua phá Tam Giang, lên sông Ô Lâu rồi ra sông đào Vĩnh Định, tới ngã ba chợ Sãi mới ngược  rào * Thạch Hãn về Phường Sãi, quê của mạ tôi.
Tôi được ba mạ gửi cho gia đình bà sếp Thông, vẫn ở trong Trại Con Gái Mang Cá để tiếp tục đi học. Tôi đã đỗ Sơ học yếu lược nên được lên lớp Nhì nhất niên (cours Moyen 1), và học tại Trường Queignec, gần cầu Thanh Long. Trường nhà binh đồn Mang Cá chỉ có đến lớp 3 (cours élémentaire). Tôi học được hơn nửa niên khóa 1944-1945 thì ngưng. Bởi vì Nhật đảo chính Pháp. Tôi được mạ tôi vào Huế đón về. 
               Ngày mùng 9 thán 3 năm 1945, kinh thành Huế rền vang tiếng súng. Nhưng chỉ đến quá ngọ thì im bặt và toàn cõi Đông Dương rơi vào tay bọn Nhật lùn. Lá cờ nền trắng, ở giữa có ông mặt trời đỏ lòm được treo lên khắp mọi nơi, thay cho lá cờ tam tài xanh trắng đỏ – biểu trưng cho Tự do, Bình đẳng, Bác Ái – của Mẫu quốc Đại Pháp. Lá cờ này đã từng ngạo nghễ tung bay trên cột cờ Thủ Ngữ, cột cờ Hà Nội và các dinh thự của những tên toàn quyền, thống sứ, công sứ khắp 3 nước Việt Nam, Lào, Cambodia trong hơn 80 năm, kể từ tiếng súng xâm lăng nổ phát đầu tiên trên bờ biển Đà Nẵng, năm 1858 cho đến ngày 9 tháng 3 năm 1945. Nhật đảo chính, kết thúc gần trăm năm đô hộ của Pháp. Như thế, trên thực tế nhân dân Việt Nam đã thôi là đất thuộc địa của thực dân Pháp từ ngày này. Và lá cờ của đất nước mặt trời mọc cũng chỉ tồn tại ở Việt Nam đúng 160 ngày. Sau khi Mỹ thả 2 quả bom nguyên tử xuống Hirôshima ngày 6 tháng 8 và Nakasaki ngày 9 tháng 8. Ngày 15 tháng 8, Nhật đầu hàng. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, chấm dứt  Đệ nhị Thế chiến.
                                                           
Dân tộc Việt Nam có một khoảng thời gian rất ngắn để tuyên bố là nước độc lập và thống nhất. Dù là độc lập giả hiệu dưới sự bảo trợ của đế quốc Nhật bản. Sau khi đế quốc Nhật Bản tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn tuyên bố xóa bỏ Hiệp ước Patenôtre.  Vua Bảo Đại ra Dụ số 1 ngày 17 tháng 3 giải tán nội các. Các thượng thư lục bộ đồng loạt từ chức. Thày giáo, nhà sử học Lệ Thần Trần Trọng Kim được giao thành lập nội các mới. Nội các này có 17 thành viên, gồm những nhân sĩ trí thức nổi tiếng, trong đó có những người sau này tham gia Chính phủ của Cụ Hồ Chí Minh như luật sư Phan Anh, khâm sai đại thần Phan Kế Toại, bác sĩ Trần Văn Lai, phó bảng Đặng Văn Hướng, luật sư Vũ Trọng Khánh, kỹ sư Kha Vạng Cân…
Tên nước được đặt là Đế quốc Việt Nam, là thành viên Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á. Bảo Đại làm vua. Tổng lý đại thần Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Quốc kỳ vẫn giữ cờ quẻ ly ba sọc đỏ trên nền vàng. Quốc ca là bài Việt Nam minh châu trời Đông. Thủ đô là Hà Nội và Đế đô là Huế. Đế quốc Việt Nam không có bộ Quốc phòng. Đế quốc Việt Nam chính thức tồn tại trong lịch sử Việt Nam đúng 5 tháng 12 ngày, kể từ ngày 11 tháng 3 đến ngày 23 tháng 8 năm 1945.
                                                          ***
Phường Sãi là tên gọi thông thường, dân dã. Tên chính thức là phường Xuân Sơn. Chữ Xuân là chữ đầu của tên làng Xuân An, chữ Sơn là địa danh này nằm ỡ miền núi. Cỏn chữ Sãi là để ghi nhớ công lao của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, thường gọi là Chúa Sãi. Cụ Cố Nghi Nguyễn Văn Cơ, người gốc Giáp Nê, làng Đông Hán, xã Thuần Trung, tổng Thuần Trung, huyện Lương Sơn, phủ Anh Sơn, trấn Nghệ An – nay là thôn Đông Bích, xả Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Cụ được Chúa Sãi cho theo vào Quảng Trị và được triều đình ban hàm thất phẩm sơ lại (tương đương cấp huyện ngày nay). Dân làng Đông Bích vào Quảng Trị có tên mới  là làng Xuân An. Cụ Cố Nghi xin chúa Sãi đi lập ấp mới Xuân Sơn, nhưng mọi giao dịch hành chính vẫn nằm dưới dự quản lý của làng Xuân An, tổng An Đôn, phủ Triệu Phong.
 Sau ngày Độc lập mùng 2 tháng 9 năm 1945, Phường Sãi sáp nhập vào thôn Thượng Phước. Và từ đó đến nay đã hơn 70 năm, phường Xuân Sơn là một xóm của thôn Thượng Phước.
Niên khóa 1945-1946, về quê ngoại, tôi được tiếp tục đi học lớp nhì nhất niên do thày giáo làng Trần Đình Khác dạy. Tôi còn nhớ một kỷ niệm: khi điểm danh, thày gọi đến tên tôi Nguyễn Xuân Bảo, tôi đã nhanh nhảu hô to bằng tiếng Pháp:  présent (tức là có mặt). Cả lớp cuời ồ lên. Tôi lại quen mồm nói tiếp “Pardon, pardon!” tức là “xin lỗi” cũng bằng tiếng Pháp. Cả lớp lại ồn ào lên. Thày Khác lấy thước kẻ gõ xuống mặt bàn và bảo cả lớp: Silence!
  Sự thực, sau ngày 23 tháng 8, khi chính phủ Trần Trọng Kim tan rã thì các cơ quan công quyền từ triều đình cho đến làng xã, tổng, huyện, phủ, tỉnh không có ai đến nhiệm sở. Làng Thượng Phước không còn lý trưởng, trương tuần...Lực lượng Việt Minh ung dung vào các các công đường. Và quần chúng được huy động tham gia biểu dương lực lượng trong ôn hòa. Tôi còn nhớ rõ hình ảnh mụ Khả, em gái ông Bụi cầm lá cờ đỏ sao vàng, được mắc trên một cây hóp dài,  dẩn dầu đoàn người trong thôn đi biểu tình vòng quanh làng qua các kiệt. Khi đến nhà ông Xạ Đạt, do kiêng húy nên dân làng thường gọi là ông Xạ Đợt. Ông Bùi Hồng Sa vào nhà và ông Xạ Đợt mang cái triện ra nộp cho ông Sa. Bọn trẻ chúng tôi chạy theo đoàn và cũng hô vang “Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!.


Ba chiến sĩ tiền khởi nghĩa là những người cộng sản đầu tiên gồm Bùi Hồng Sa, Lê Luyện và Nguyễn Minh Tự chính thức ra mắt dân làng. Chính quyền mới do Ban chủ nhiệm Việt Minh điều hành.
Tôi còn nhớ lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, một cuộc mitting lớn được tổ chức trước cổng tòa công sứ Pháp (lúc này do bọn Nhật chiếm đóng). Và sau này là trụ sở của Ủy ban Nhân dân lâm thời tỉnh Quảng Trị. Thay mặt Ủy ban Khởi nghĩa, ông Trần Hữu Dực trịnh trọng tuyên bố thành lập Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh, xóa bỏ chính quyền bù nhìn. Sư thực thì cái gọi là “chính quyền bù nhìn” của thủ tướng Trần Trọng Kim đã tự xóa tên mình cũng trong ngày 23 tháng 8, chấm dứt Đế quốc Việt Nam, khởi đầu ngày 11 tháng 3 và kết thúc vào ngày 23 tháng 8 năm 1945, sau 5 tháng 12 ngày.
Trong ngày này (23-8-1945), Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Quảng Trị đã ra 2 Quân lệnh. Quân lệnh số 1 phát đi lúc 10 giờ sáng, có nội dung: “Tất cả lực lượng vũ trang chiếm đóng hoặc dự bị, kể cả lực lượng hỗn hợp giữ nguyên tại chỗ. Người và vũ khí không được thay đổi, di chuyển cho đến khi có lệnh mới”. Và sau 2 tiếng, tức lúc 12 giờ trưa, Quân lệnh số 2 đước phát đi với nội dung: “Mở cuộc đăng ký tuyển quân, cấp tốc thành lập Chi đội Giải phóng quân với tổng số 1.500 chiến sĩ, kể cả một số đơn vị trực thuộc như thông tin, quân y, quân nhu…”
Ba tôi là một trong số cán bộ đại đội, tiểu đoàn là cai, đội lính khố xanh, khố đỏ có tinh thần yêu nước tự nguyện tham gia vào Chi đội Giải phóng quân. Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Chi đội chuyển đổi thành Chi đội Thiện Thuật. Sắc lệnh số 71, ngày 22 tháng 5 năm 1946 của Chính phủ về tổ chức Quân đội Quốc gia Việt Nam, Chi đội Thiện Thuật đổi thành Trung đoàn 95. Trung đoàn có 3 tiểu đoàn 13, 14 và 15. Và 1 tiểu đoàn lính nữ. Song song với lực lượng chủ lực, tỉnh chú ý xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, gọi là Tỉnh đội Dân quân.
Ba tôi gia nhập quân đội. Buổi sơ khai này Quân đội nhân dân Việt Nam có rất nhiều tên gọi: Giải phóng quân, Vệ quốc quân, Vệ quốc đoàn. Đầu năm 1946, Ba tôi được Ban Chỉ huy Trung đoàn cử về xã Phong Sơn với chức danh là Phái viên Quân sự, có nhiệm vụ trực tiếp huấn luyện quân sự cho dân quân và du kích ở các thôn Thượng Phước, An Đôn, Nhan Biều.
Thôn Thượng Phước có 2 tiểu đội dân quân. Một tiểu đội nam và một tiểu đội nữ. Trong tiểu đội nữ này có các chị Bùi Thị Thản (con bà Nguyễn Thị Lý, dì ruột của tôi), chị Trần Thị Dàn, chị Lê Thị Phụ và nhiều chị khác…
 Tôi thường được ông cho đi theo vào bãi tập, sau mới gọi là thao trường tại nương mit Mụ Hểu. Đây là một cái trảng rất rộng, bằng phẳng. Các làng, sau này mới đổi thành thôn của xã. Mỗi thôn thành lập 1 Ban dân quân, có cả chiến sĩ gái. Chương trình huấn luyện bắt đầu từ các động tác tập họp đội hình, nghiêm nghỉ, bước đi một hai, một hai rồi tiến tới lăn lê bò toài. Súng chỉ có hai khẩu: súng trường mút-cờ-tông (mousqueton) và một khẩu tiểu liên mi-tờ-ray-dét (mitraillette). Dân quân được trang bị quần áo bằng vải to, một loại vải do người nông dân quê tôi tự trồng lấy cây bông vải, tự kéo thành sợi và dệt trên khung cửi thủ công. Chị Thản tôi là người phụ nữ đầu tiên mặc bộ đồ quân sự cũa người lính Giải phóng quân. Chị mặc áo sơ-mi ngắn tay, hai túi trên có nắp, có cầu vai và quần soóc toàn màu trắng, trông rất đẹp. Vì không có đủ súng nên phải đẽo cây theo hình dạng khẩu súng để tập động tác bồng súng lên và bỏ súng xuống. Có những buổi tối, tôi thấy Ba tôi ngồi giữa sân của ông ngoại, trước mặt là một cái nống. Ông tháo rời khẩu súng trường ra và giảng giải cho dân quân nghe: đây là cái cơ bẫm, đây là nòng, đây là đầu ruồi…Ba tôi có một giọng nói rất âm vang, hùng hồn và hấp dẫn. Trong những cuộc mitting, Ba tôi ngoài việc điều khiển hành lễ, ông còn được phân công đọc các bài văn tế làm sục sôi ý chí chiến đấu cho mọi người. Tôi còn nhớ được mấy câu:

“Hỡi ôi!
Hoàng Thiên chốn thấu thương lũ xâm lăng
Tạo hóa vô tình ghét người chí sĩ
Đoàn dân tộc ra tay gầy dựng, đem lòng thân ái nâng niu
Lũ dã man lên mặt hung tàn, một phút anh em ly dị
Bâng khuâng kẻ mất người còn
Tưởng tượng lòng ghi nghĩa để…”

.
          Vai trò phái viên quân sự của Ba tôi chấm dứt khi tiếng súng quân Pháp bắt đầu tấn công nống chiếm Quảng Trị. Tôi còn nhớ rõ, khi Hà Nội bước vào Ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Quân Pháp được quân Anh Ấn giúp sức đã đổ bộ lên cửa biển Tư Hiền và cửa biển Thuận An, chiếm lại kinh thành Huế. Ngày 10 tháng 2 năm 1947, chúng chia thành 2 cánh quân, nống ra Quảng Trị. Hướng nam, quân Pháp đã sử dụng  1.500 binh lính, có xe tăng đi cùng và dưới sự yểm trợ của pháo binh và không quân tiến chiếm Mỹ Chánh, Diên Sanh… Cùng ngày, từ hướng tây, chúng xua 500 quân, từ  Sa-vằn- na – khẹt (Trung Lào), đánh chiếm Lao Bảo rồi tiến về Đông Hà, hợp quân hướng nam vào thị xã Quảng Trị. Hồi 3 giờ 30 phút sáng ngày 16 tháng 2 năm 1947, quân Pháp chiếm hoàn toàn thị xã. 
 Ba tôi trở lại Trung đoàn và ông được phân công làm Tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn chủ lực của tỉnh. Chú ruột tôi, ông Nguyễn Xuân Tịch được bố trí làm quản trị trưởng tiểu đoàn 13 và o ruột tôi tên là Nguyễn Thị Nghiễn, bí danh là Thanh Tâm được điều về Ban Chính trị Trung đoàn 95. Chú Tịch của tôi hy sinh năm 1949 và được công nhận là liệt sĩ. O Nghiễn thì bị bệnh cảm nặng khi bơi qua sông tránh giặc và sau đó hy sinh.
 Ba Mạ tôi gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống khi rời Huế về Quảng Trị. Lương hưu của Ba tôi bị cắt từ hôm Nhật đảo chính Pháp. Mạ tôi đã xa rời cuộc sống nông thôn trên 10 năm, một nách bốn đứa con dại. Đồng bằng Triệu Phong  là một vùng thuần nông. Làng Đại Hào quê nội cũng đói nghèo như nhiều nơi khác trong tỉnh. Ba Mạ tôi xin Ông Mệ nội được đem đàn con về quê ngoại Phường Sãi. Dù sao ở đây vẫn có nhiều đất đai chưa khai thác hết. Rừng rú, khe suối thì sẵn sản vật có thể nuôi sống con người.
           Về quê ngoại vốn liếng của Ba Mạ tôi chỉ đủ mua bức nương của cậu Diêu Khuê mà thôi. Để làm được cái nhà tranh tre, Ba Mạ tôi phải tự đi vào Dốc Son cắt tranh về làm mái lợp. Tre thì đã có xung quanh nương mới mua. Bà con xúm lại giúp đỡ chỉ trong vòng tháng trời nhà đã dựng xong. Tôi lại được cắp sách tới trường. Trường công chưa có thì học trường tư tại thôn Thượng Phước. 
 Để kiếm sống Ba tôi phải vào rú (động) đốn củi gánh về chợ tỉnh Quảng Trị bán. Hình ảnh người cha còng lưng gánh gánh củi sim (củi chặt ra từ những cây sim có độ dài không tới một mét, được bó lại bằng những sợi dây chìu và dùng đòn xóc nhọn hai đầu xỏ xuyên qua lưng chừng bó củi), gánh bộ từ Phường Sãi đến chợ tỉnh dài hơn 5 cây số còn đọng mãi trong tâm trí tôi. Đâu rồi những ngày tháng sống trong sự sung túc ở Huế? Đâu rồi một bước đi chỉ có lên xe xuống ngựa?! Mạ tôi bắt đầu trở lại với công việc ruộng nương. Bức nương của Ba Mạ tôi có các loại cây lưu niên như mít, bồ quân, dâu gia, chè, chanh, cam, quýt, bưởi, thơm. Những thứ trái cây này khi vào mùa thu hoạch, Mạ tôi hái đem về chợ tỉnh bán. Phía góc nương gần Khúc Mưng có một cây dầu lai cổ thụ, năm nào cũng ra rất nhiều trái. Trái cây dầu lai này khi chín thì bóc tách bỏ lớp vỏ ngoài, lấy hạt (nhân) dùng để làm món muối trộn thay muối mè (vừng) hay muối đậu phụng (lạc) ăn với cơm hàng ngày. Chung quanh ba phía là lũy tre. Giữa nương có chừng hơn hai sào đất trống, Mạ tôi đã xuống giống trống khoai lang, môn và sắn. Gần nhà thì dựng mấy cây tre làm giàn trồng bầu, bí, mướp theo mùa nào thức ấy.
 Tôi chép ra đây một đoạn trong Chúc thư của Mạ tôi viết ngày 2 tháng 2 năm 2004, khi Mạ tôi đã 89 tuổi để nói lên tình trạng bi đát của gia đình tôi lúc bấy giờ. Mạ tôi đã viết như sau:
“…Mạ nói cho các con biết: Lúc Ông Bà ngoại còn sống, Ông Bà đã cho Ba Mạ 2 mẫu ruộng, 5 sào đất vườn. Ông nói: Cha mẹ cho hai con chừng đó, đừng có tửu điếm trà đình, lo làm lo ăn. Cho các cháu học hành tới nơi tới chốn. Nay mai Ba nó hưu trí về phụ thêm làm ăn, không đại gia chứ cũng tiểu phú, con không lo cực đâu, bổn mạng con tốt lắm!
…
“Các con ơi, thân Mạ khổ lắm, Ông Bà ngoại mất rồi, ba đi công tác không thấy về, một mình Mạ ôm đàn con dại biết cậy nhờ ai đây, nghĩ mình như chàng Thúc bó tay… tứ cố vô thân, biết nhờ ai đây? Mạ như cờ túng nước. Thôi, mai đi tìm việc làm đã. Mới nói thì cậu Diêu (tức ông Nguyễn Văn Xuân) ra nói: O còn nhớ cấy lúa không? – Còn nhớ chứ, cơm ăn bữa mà không nhớ sao được. – Mai vô sớm nghe! Mạ hỏi: Cấy ở đâu anh? Anh nói: Phúc Trèn. Các con ơi! Mạ gánh một gánh mạ, chân không có dép, sỏi đá chông gai. Lên tới đồng ruộng, Mạ bước chân xuống bùn lầy, giá lạnh. Phúc Trèn hiu hắt đưa vào lòng Mạ quá chua cay. Nước mắt, nước mưa trộn một, Mạ tính bỏ ra về. Mà một mặt thì sợ cọp, một mặt sợ tối về không có chi cho các con ăn nên Mạ cố làm cho tối ngày. Lúc về tới nhà thì đàn con đứa ngủ, đứa đang khóc, đứa thì trông mẹ về…”
 Bản Di chúc này tôi đã cho đánh máy vi tính và in ra nhiều bản phân phát cho các em mỗi người giữ một bản vừa để làm tài liệu lưu trữ vừa để làm kỷ niệm.

                                                ***

Kỳ sau: 2. Ngôi làng ven sông.

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2016

165.Ái Tử-một vùng dất thiêng.


165. 3-ÁI TỬ - MỘT VÙNG ĐẤT THIÊNG.

Vì sao Chúa Tiên lại chọn cửa Việt Yên để đổ bộ lên Ái Tử mà không chọn cửa Tùng Luật để vào Minh Linh hay chọn Cửa Eo để vào Châu Hóa? Bởi Ái Tử, Trịnh coi là cửa Tử, còn Nguyễn Hoàng lại tìm ra được cửa Sinh.Vị Chúa 34 tuổi này đã thể hiện sự tinh thông binh pháp. Ái Tử được dòng sông Thạch Hãn ôm từ ba phía: Bắc, Đông và Nam. Rào Ái (sông Ái Tử) nằm ở phía Tây như một đường huyền. Vậy là bốn phía có bốn hào nước sâu đủ chặn bước quân thù để bảo vệ Nguyễn Hoàng đang trong cơn thất cơ lỡ vận, tìm đường sống!
 Trịnh Kiểm biết rằng không bao giờ Nguyễn Hoàng vào cửa Thuận An để lên Hóa Châu, nơi đó đã có sẵn thành quách, dinh thự và quan lại của ông ta đang chờ?! Nguyễn Hoàng cũng không vào cửa Tùng Luật (Minh Linh) mà nơi đó đã có quân Trịnh chiếm giữ. Nguyễn Hoàng đã không bị sập bẫy. Dưới con mắt của Trịnh, Ái Tử là một địa điểm tầm thường. Nhờ vậy, 13 năm đầu, Nguyễn Hoàng tạm yên thân xây dựng tính hòa hiếu, thủy chung với cư dân bản địa. “Bấy giờ chúa ở trấn hơn 10 năm. Chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở thành một nơi đô hội”
Đến Ái Tử, định doanh 13 năm (1558-1570), Chúa lại dời đại bản doanh về làng Trà Bát đúng 30 năm (1570-1600). Rồi đến thôn Trà Liên với 26 năm Dinh Cát, (1600-1626). 68 năm định đô tại đây đã mang lại những tiền đề vô cùng lợi hại để dựng nên nghiệp đế. Nguyễn Hoàng với thiên tư dĩnh ngộ của một tài năng dời non lấp biển đã nhận ra con đường sống còn khi chọn Ái Tử để làm chốn nương thân.
Ái Tử là một vùng hoang mạc cát trắng nắng vàng trơ trọi. Tuy nhiên Đoan quốc công lại nhìn rõ thế tiến, thế lùi. Binh bộ đứng trên cồn cát làm điểm tựa cho Trấn thủ. Binh thuyền nép bên cửa sông phòng khi bất trắc. Sông Thạch Hãn chảy đến khúc quanh này thì dịu lại như bàn tay người mẹ hiền muốn ôm lấy Ái Tử. Vua Minh Mạng đã cho khắc hình tượng sông Thạch Hãn cùng với dòng Vĩnh Định vào Thuần Đỉnh, đỉnh thứ sáu trong chin đỉnh đồng đặt trước sân Thế Tổ miếu trong Hoàng thành Huế.
 Với cặp mắt tinh tường của một nhà quân sự, với tài thao lược của một vị tướng, với cái tâm, cái tầm của một nhà chiến lược, Nguyễn Hoàng đã đặt nền móng cho Đại Việt tiến về Phương Nam, mở rộng cương vực mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng một non sông gấm vóc trải dài từ Lũng Cú đến tận chót mũi Cà Mau, mang tên là nước Việt Nam yêu dấu!
Năm 1613, Nguyễn Hoàng đã gần 90 tuổi, biết mệnh trời đã đến lúc từ giã cõi trần, ông cho gọi con thứ 6 Nguyễn Phúc Nguyên vào dặn: “Đất Thuận Quảng, phía Bắc có Núi Ngang (Hoành Sơn) và Sông Gianh (Linh Giang) hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá, muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng”.
        Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất ngày 3 tháng 6 âm lịch, nhằm ngày 10-7-1613, thọ 89 tuổi. Chúa Tiên là người đặt nền móng cho việc lựa chọn vùng Huế làm thủ phủ xứ Đàng Trong và là kinh đô của Việt Nam thời Nguyễn. Nguyễn Hoàng xứng đáng là vị khai canh của vùng đất Thuận Quảng và Nam Bộ. Ông có mười người con trai, trấn thủ Thuận Quảng 56 năm (1558-1613). Sau này triều Nguyễn truy tôn là Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế.

                                                          ***

Con trai thứ 6 của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Nguyên đã 51 tuổi mới nối ngôi cha. Phúc Nguyên cũng được vua Lê ban hàm Thái bảo, tước Quốc công. Nguyễn Phúc Nguyên nối ngôi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng từ năm 1613, trấn thủ Thuận Quảng. Đây là ông chúa có bản lĩnh, bắt đầu là việc không thần phục chúa Trịnh, định quốc tính là Nguyễn Phúc. Từ đời này trở đi, vương triều Nguyễn có chữ đệm là Phúc. Không nộp thuế cống, trả lại sắc phong cho vua Lê.

     4.NÊN TÔ CHỨC LỄ HỘI MANG TÊN NGUYỄN HOÀNG VỚI ÁI TỬ’
          Hiện nay trên toàn cõi Việt Nam, mỗi năm có tới hàng trăm lễ hội được tổ chức. Nào là lễ hội Hoa Đà Lạt, nào là Lễ hội Trái cây đồng bằng sông Cửu Long, nào là Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên…Tính đến năm 2009, cả nước ta có 7966 lễ hội, chia ra như sau:  Dân gian có 7019 lễ hội, Tôn giáo có 544 lễ hội. 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài. Địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương và Phú Thọ…Tính đến năm 2014, Việt Nam có gần 30 lễ hội được đưa vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Trong danh sách này, Quảng Trị chưa có tên một lễ hội nào.
         Quảng Trị năm 2015 có 2 lễ hội lớn. Đó là Lễ hội Thống nhất non sôn g được tổ chức vào dịp 40 năm Ngày Toàn thắng 30/4/1975 – 30/4/2015, ngay tại địa điểm đầu cầu Hiền Lương và Lễ hội Hùng thiêng đất nước được tổ chức tại Thành cổ Quảng Trị, nhân Ngày Thuong binh Liệt sĩ 27/7 hàng năm, (gọi chung là Lễ hội Đêm Thành Cổ - thiếu chữ Quảng Trị ,NV)
          Tôi muốn nêu lên đây ý tưởng tổ chức lễ hội mang tên NGUYỄN HOÀNG VỚI ÁI TỬ  hay là VÙNG ĐẤT THIÊNG DỰNG NGHIỆP ĐẾ NHÀ NGUYỄN. Lễ hội sẽ được tổ chức hàng năm hoặc vào ngày kỵ của Nguyễn Hoàng - ngày mùng Ba tháng Sáu Âm lịch hoặc một ngày khác không trùng với các lễ hội của tỉnh.
Kịch bản và Lời bình có thể mời những văn nghệ sĩ, chuyên gia giỏi về nghề viết kịch bản; (như ở Quảng Trị có thể mời Nghệ sĩ Nhân dân Xuân Đàm, nhà thơ Xuân Đức…và các nhà thơ trong và ngoài tỉnh, chủ yếu là lực lượng văn nghệ sĩ của Hội Văn học – Nghệ thuật Quảng Trị)
. Tôi thử phác thảo ra những chương như sau:
Chương Một – Khởi nguồn dựng nghiệp đế.
Chương Hai -  Ái Tử với 7 vại nước đầy.
Chương Ba – Mở rộng bờ cõi về phương Nam.
Chương Bốn (cuối) – Tổ quốc Việt Nam yêu dầu
          Chương Một. Mở đầu (trên màn ảnh lớn) là hình ảnh một đoàn chiến thuyền vượt sóng to, gió lớn, đổ bộ lên cửa Việt Yên. Đứng trước mũi thuyền lớn là hai vị: Võ tướng Hạ Khê hầu Đoan Quận công Nguyễn Hoàng và Uy Quốc công Thái phó Nguyễn Ư Dĩ.
 Trên sân khấu lớn sẽ có những cảnh: đông đảo nhân dân bản địa mừng vui đón đoàn. Trong khi đó Lời thơ hào sảng ngân lên (trích thơ của nhà thơ…). Đồng thời có Lời bình đọc to lồng trong tiếng nhạc nền, có thề là những bản Lưu thủy hành vân hoặc một vài bài theo cổ thể.
          Chương Hai. Thay hình (trên màn ảnh lớn) là hình ảnh một vùng cát trắng hoang sơ, phủ đầy cỏ dại. Gió Nam thổi bay những độông cát mịt mù trắng xóa dồn dập tận chân trời.Một đoàn người chân trần, nón lá, áo tơi lầm lũi bước đi những bước đi nặng nhọc, mệt mỏi. Có người ngã vật ra do nóng và khát. Lời thơ não nề cất lên, tả rõ đây là vùng Ô châu ác địa, dân tình sống trong cực khổ nghèo nàn, có thể tả nỗi mong chờ một điều may mắn nào đó hoặc là một vị cứu tinh đến để mang lại cho họ cuộc sống đủ đầy, no ấm.
          Trên sân khấu lớn sẽ có những cảnh: Mặt trước đặt 7 chum nước (chum to và thật chứ không dùng đạo cụ). Một cụ già (dân bản địa) râu tóc bạc phơ, lưng trần, đóng khố tiến đến nơi đứng của 2 vị Nguyễn Hoàng và Nguyễn Ư Dĩ (chính giữa sân khấu) và tâu lên bài thơ Dâng Nước. Lời thơ vang lên trong tiếng nhạc bát âm và đoàn vũ công múa lượn. Trang phục là của dân bản địa thời đó.

                                                                 (Còn tiếp)

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

164. TÔI ĐI TÌM LẠI VÙNG ĐÁT DỰNG NGHIỆP ĐẾ CÙA NHÀ NGUYỄN

       2.TÔI ĐI TÌM LẠI VÙNG ĐẤT DỰNG   NGHIỆP ĐẾ CỦA NHÀ NGUYỄN
.
Thực sự, tôi giật cái tít tiểu mục này hơi to tát. Vì rằng từ xa xưa đã có rất nhiều công trình viết về nhà Nguyễn. Kể từ năm 1558  đến nay, -  thời điểm tôi đang viết cái bút ký này, thảng 3 năm 2016 thì đã 458 năm trôi qua. Năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết, tôi có chuyến về thăm quê, ngang qua Ái Tử và đã có bài thơ Qua Ái Tử:

Nghĩa rằng: Ái Tử mẹ yêu con
Trắng xóa lô nhô những cát cồn
Chúa cũ đâu rồi thời mở cõi?!
Nước đầy bẩy vại nặng tình son *
--------
            *Khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Đàng Trong

 (1558) dân bản địa Quảng Trị mang 7 chum (vại) nước dâng

 Chúa để tỏ lòng quy phục.
         
Trong chương trình về Quảng Trị lần này tôi

 có đề ra mục tiêu là về Trà Liên để tìm hiểu

 về Ngài Nguyễn Ư Dĩ, cậu ruột của chúa 

Nguyễn Hoàng – người có công nuôi dạy 

cháu từ lúc 2 tuổi – cho đến khi lập được sự

 nghiệp vẻ vang của một vương triều lừng lẫy 

chiến công mở đất. Tôi muốn tìm về nguồn 

cội về di tích một địa danh – mà ở đó đã là đất

 dựng nghiệp của một triều đại.


.Theo sử sách, Thái phó Uy quận công Nguyễn Ư Dĩ, thấy cháu “tướng mạo khôi ngô, vai lân lưng hổ”, biết là “bậc phi thường” nên khuyên sớm kiến công lập nghiệp. Năm 1558, Nguyễn Hoàng khi ấy 34 tuổi được Nguyễn Ư Dĩ phò tá. Ngài là người được Nguyễn Hoàng tin cậy, thân chinh đến gặp Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm hỏi về vận nước. Trang Trình đã nói “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Nguyễn Hoàng đã chọn đất Ái Tử lập dinh trại. Nhờ danh tiếng của Nguyễn Ư Dĩ mà hào kiệt tìm về, biến vùng đất này thành nơi màu mỡ, trù phú.
 Ái Tử trở thành kinh đô đầu tiên của Đàng Trong trong suốt 68 năm (từ 1558 đến 1626), gắn liền với tên tuổi của chúa Nguyễn Hoàng và công lao của Nguyễn Ư Dĩ. Khi mất đi, ông được đúc tượng đồng để thờ.
Hàng thế kỷ nay, người dân thôn Trà Liên Tây (xã Triệu Giang, Triệu Phong, Quảng Trị) xem tượng đồng tạc ngài Nguyễn Ư Dĩ là vật linh thiêng… Trải qua 400 năm, bức tượng vẫn tồn tại, trở thành linh vật của dân làng Trà Liên, nơi ngài Nguyễn Ư Dĩ có công mở cõi. Tượng Nguyễn Ư Dĩ được đúc bằng đồng vào khoảng thế kỷ 17, ở tư thế ngồi ghế thấp, cao 0,62 m, phần vai rộng 0,3 m. Mặt tượng chữ điền, mũi cao, cằm vuông, râu dài, tai to, đội mũ quan hai lớp, chân đi hia để lộ phần mũi.Toàn thân được khoác tấm áo choàng rộng phủ từ vai xuống, vắt trên hai chân.
Thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, làng có ngôi chùa Liễu Bông với 3 gian thờ thì gian chính giữa thờ Nguyễn Ư Dĩ. Năm 1972, ngôi chùa bị tàn phá, nhưng bức tượng vẫn còn. Một năm sau, Hiệp định Paris được ký kết, bom đạn ngừng rơi nên người dân dựng lại nhà thờ tạm bằng tre.
Bức tượng quý nhiều lần bị kẻ trộm nhòm ngó nhưng đều được phát hiện. Năm 1976, kẻ trộm khiêng tượng ngài đi rồi vùi dưới cát bên bờ sông Thạch Hãn, đoạn gần làng. Người dân phát hiện tượng bị mất nên vô cùng nóng ruột, hò nhau đi tìm khắp làng. Lúc bấy giờ, mùa hè nước cạn, bà con thấy dấu vết ở bờ sông nên dùng thanh sắt chọc xuống, cuối cùng cũng tìm thấy. Bình thường thì 4 người gánh tượng Ngài không nổi, nhưng lúc đó tìm đưọc mừng quá, nên mọi người gánh băng băng đi nhẹ nhõm. Sau lần đó, dân làng mang tượng về đặt sát bên đình làng, xây gian thờ nhỏ kín 3 mặt, bên dưới quây thép đổ bê tông. Ấy vậy mà kẻ trộm còn dám cắt mũ quan, cưa hông bên trái vào 2-3 cm, nhưng rồi cũng không lấy trộm được.
Cách đây hơn 10 năm, một đoàn cán bộ văn hóa đến nghiên cứu bức tượng nhưng không thông qua dân làng, đập bỏ tường bao thì bị dân phát hiện, kiên quyết không cho làm. Ngành văn hóa tỉnh Quảng Trị sau đó phải xin lỗi dân, bồi hoàn tiền để làm lại nhà thờ.
 Về sự kỳ lạ của bức tượng, có câu chuyện những năm chiến tranh, có một đơn vị ra đa về đóng quân gần nơi thờ cúng Ngài, nhưng ra đa không hoạt động, bất chấp mọi nỗ lực khắc phục. Cuối cùng, đơn vị này phải chuyển đến làng kế bên mới hoạt động được.
 Tượng ngài Nguyễn Ư Dĩ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh, được dân làng tôn thờ. Khoảng 6-7 năm trở lại, nhận thấy ý nghĩa của tượng Nguyễn Ư Dĩ trong giáo dục truyền thống, trường Tiểu học xã Triệu Giang nhận chăm sóc khuôn viên đặt bức tượng. Mỗi dịp khai giảng, tổng kết, nhà trường đều có những buổi nói chuyện về lịch sử địa phương và công lao của Ngài.
Về việc bảo vệ bức tượng quá mức, dân làng rất “áy náy” khi phải quấn chân Ngài bằng thép, đổ bê tông. Nhưng không làm thế thì dân làng rất sợ tượng Ngài bị trộm. Huyện Triệu Phong từng mở hội thảo lớn nói về công của Nguyễn Hoàng và Ngài Nguyễn Ư Dĩ. Riêng dân làng chỉ đề xuất xin xây một nhà thờ to đẹp hơn để thờ cúng.
Ông Lê Đình Hào, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Quảng Trị nói: Tượng Nguyễn Ư Dĩ được xếp vào “10 báu vật” của tỉnh. Đơn vị này đang làm hồ sơ để đưa tượng trở thành bảo vật quốc gia, với hy vọng nhận được sự đầu tư, bảo vệ xứng đáng hơn.
 Nguyễn Hoàng, sinh năm 1525, con thứ hai của Nguyễn Kim. Ông nội là Thái phó Nguyễn Hoằng Dụ từng giúp vua Lê Tương Dực lật đổ Lê Uy Mục (1509). Nhưng rồi hai ông vua họ Lê này số phận cũng chẳng ra sao. Chỉ còn hai đời vua Lê cuối cùng nữa thôi để rồi rơi vào tay nhà Mạc. Sử sách thường ghi: Thời Lê mạt.
           Nguyễn Hoàng là em Ngọc Bảo, Ngọc Bảo lấy Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm thâu tóm hết mọi quyền lực, lấn át vua Lê, loại bỏ uy thế các em vợ: Nguyễn Uông bị hãm hại. Nguyễn Hoàng cáo bệnh giữ mình.
Nguyễn Hoàng nhờ chị gái Ngọc Bảo xin anh cho đi trấn thủ Đàng Trong, miền Thuận Quảng. Tuân chiếu vua Lê Anh Tông (1556-1573), năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Cùng đi có hàng ngàn binh mã bản bộ và họ hàng ở Tống Sơn, (bấy giờ là Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Hà Trung, Thanh Hóa); Đông đảo nhất có các họ tộc Nguyễn, Lê, Trương, Trần. Lúc đầu Nguyễn Hoàng đóng dinh tại Ái Tử, còn gọi là Dinh Cát, thuộc phủ Đăng Xương. Cùng với cậu ruột Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Hoàng vỗ về quân dân, thu dụng hào kiệt, khẩn hoang lập làng; tiếp tục đón nhận di dân từ Đàng Ngoài vào mà phần đông là dân nghèo ở các làng mạc của các trấn Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
 Khi nhà Mạc chiếm ngôi vua Lê. Nguyễn Kim đem con vua lánh sang Ai Lao, ở đây ông thu nạp hào kiệt. Năm Canh Tý (1540) ông đem quân về chiếm lại Nghệ An. Hai năm sau, năm 1542 cùng vua Lê ra Thanh Hóa chiếm lại Tây Đô – là thành lũy ở Vĩnh Lộc của Hồ Quý Ly. Hồ Quý Ly là người cướp ngôi nhà Trần trong biển máu, chiếm đoạt chính quyền bằng bạo lực tàn bạo nhất trong lịch sử, làm vua một năm rồi nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương (1400), xây thành Tây Giai sau đổi là Tây Đô và đổi Thăng Long ra thành Đông Đô.Nhà Hồ chỉ làm vua được hai đời, cộng 7 năm (1400-1407) rồi bị quân Minh bắt cả hai cha con về Trung Quốc. Đông Đô cũng chỉ tồn tại được 7 năm.
   Năm 1545 Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 78 tuổi. Từ đó quyền hành rơi vào tay con rể Trịnh Kiểm.
            Mặc dù ở Đàng Trong ngày càng lớn mạnh, nhưng Nguyễn Hoàng với ý thức trung quân vẫn làm tròn nghĩa vụ với nhà Lê. Hàng năm nộp 400 cân vàng bạc, 500 tấn lúa…Vua Lê đánh Mạc thiếu thốn quân dụng, lương thực. Nguyễn Hoàng đem của cải ra giúp vua và ở lại Bắc tới 7 năm. Nguyễn Hoàng có công lớn trong việc đánh dẹp các dư đảng nhà Mạc nên được phong nhiều chức tước quan trọng: Trung quân Đô đốc Thủ phủ, Tả Đô đốc Chưởng phủ sự, Thái úy Đoan Quốc Công.Năm 1599, Nguyễn Hoàng được phong làm Hữu tướng.
     .
Đoàn người của Nguyễn Hoàng đổ bộ lên cửa sông Thạch Hãn, thường gọi là cửa Việt Yên, còn gọi là cửa Việt Khách (theo Sùng Nham hầu Dương Văn An – Ô Châu cận lục) dựng trại ở Ái Tử thuộc huyện Vũ Xương, phủ Triệu Phong. Đây là nơi bắt đầu khởi dựng cơ nghiệp của nhà Nguyễn. Năm 1570 Nguyễn Hoàng chuyển dinh trấn về Trà Bát (nay là làng Trà Liên). Những địa danh Ái Tữ, Trà Bát, Dinh Cát đã mang một sứ mệnh lớn lao. Chính vì lẽ đó mà khi Phú Xuân trở thành kinh đô, các chúa, vua nhà Nguyễn đã không quên tôn vinh vùng đất ‘dung thân’ của các bậc tiên phụ trên đất Quảng Trị là Cựu dinh.
Ngày nay, chúng ta – những người đang sống hạnh phúc trên mảnh đất đã từng thấm máu và mồ hôi, nước mắt của các bậc tiên hiền, của những người đầu tiên đi mở đất – không thể không nhắc đến công lao to lớn của các chúa Nguyễn mà tiêu biểu và tiên phong là Đoan quốc công Nguyễn Hoàng.
Tôi muốn tìm về nơi đây để tìm nguồn cảm hứng cho ý tưởng sáng tạo nghệ thuật. Bắt đầu là “khơi nguồn dựng nghiệp”. Ngay cái việc dân bản địa dâng bảy chum nước khi Nguyễn Hoàng đến Ái Tử đã là một điềm lành. Ngài Uy Quốc công Nguyễn Ư Dĩ đã khải tấu lên Chúa Tiên: “Đây là phúc trời cho đó.Việc trời tất có hình tượng. Nay Chúa thượng mới đến mà dân đem “nước” dâng lên, có lẽ là điềm “được nước” đó chăng? Truyền thuyết về bảy chum nước ngọt mà người dân bản địa chắt chiu giữa hoang mạc này dâng lên Chúa là dâng cả tấm lòng thuần phục. Bởi vì Chúa biết vỗ về quân dân, thu dụng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục.
Lòng dân là như vậy, nhưng thế nước thì “nghìn cân treo sợi tóc”. Hạ Khê Hầu Nguyễn Hoàng 13 năm ở Tây Đô là 13 năm nơm nớp nằm trong tầm gươm của Trịnh Kiểm (1545-1558). Cầm trong tay Trấn tiết của vua Lê Anh Tông như là đã có trong tay tấm bùa hộ mệnh.  
Năm 1600, sau khi dẹp yên bọn nội loạn Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khê xong, Nguyễn Hoàng dong ra biển về thẳng Đàng Trong, chỉ để lại con trai thứ năm là Hải và cháu nội là Hắc làm con tin.

(Viết bên bờ Phước Long Giang, rằm tháng Hai, Bính Thân, tức ngày 23/3/2016)

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2016

163.chuyến về quê Quảng Trị, tháng 3 năm 2016

163.CHUYẾN VỀ QUÊ QUẢNG TRỊ THÁNG 3

 NĂM 2016
                                                               
                                                          Xuân Bảo.

1.PHÚ BÀI - NƠI 75 NĂM TRƯỚC TÔI ĐÃ TỪNG SỐNG.

             Chuyến bay Vietjet.Air mang số hiệu VJ. 304 trên chiếc Airbus 321, đáng lý phải khởi hành lúc 6h20 , ngày 7 tháng 3 năm 2016, nhưng phải trễ đến 30 phút. Nều không trễ thì chỉ bay khoảng 1 tiếng 20 phút. Máy bay hạ cánh  xuống sân bay Phú Bài hồi 8h10. Rời ga, đúng 8h30. Phan Quang Kỳ đã đứng sẵn ở lối ra. Kỳ mặc bộ complet khá chững chạc. Hai bác cháu ôm chầm lấy nhau và Kỳ đón lấy chiếc xe đẩy hành lý ra xe. Anh Nguyễn Hậu cùng đi với Kỳ lúc sáng sớm từ làng Thượng Phước. Triệu Phong, Quảng Trị. Tính ra khoảng cách từ nhà vào Phú Bài cũng non 80 cây số.
            Phú Bài! Nơi đây trước năm 1945 là một vùng đất hoang vu, đầy cỏ dại và cát biển. Tôi còn nhớ, khi ba tôi còn ở trong quân ngũ của 5è.  Brigate (Sư đoàn 5 của quân đội viễn chinh Pháp), ông được bố trí cho cả vợ con ở trong Camp Marié, thường gọi là Trại Con Gái. Phú Bài lúc đó có rất nhiều bọ chét. Năm 1941, tôi mới 6 tuổi chưa đến tuổi đi học. Năm sau, 1942 ba tôi được điều về đồn Mang Cá và tôi được cắp sách tới trường Nhà binh, đóng trong Trại Con Gái Mang Cá. Tôi vào học lớp Đồng ấu, học cùng một lúc cả tiếng Ta lẫn  tiếng Tây. Lớp này gọi là cours Enfantin (lóp 5), học từ a bê xê (a,b,c,) rồi lên lớp Dự bị, tiếng Tây gọi là cours Préparatoire (lớp 4), rồi lên lớp Sơ đẳng, tiếng Tây gọi là cours Élémentaire (lớp 3). Kết thúc 3 năm tiểu học thì đi thi để lấy bằng Sơ học Yếu lược. Cuối niên khóa 1944-1945, tôi đi thi ở Trường Hương Trà. Và tôi đã đậu cao, thứ 11 trong 1600 thí sinh dự thí. Trát sức báo tin tôi đã đậu Yếu lược về làng Đại Hào, (lúc này thuộc tổng An Cư, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Ông nội tôi đã cho mổ bò khao làng. Thời gian này ông tôi đang làm lý trưởng, còn gọi là ông Xạ (Xã trưởng nhưng tiếng Quảng Trị hay đọc dấu ngã  thành dấu nặng).
          Tôi còn nhớ những năm thập kỷ 70,  đồng bào Thượng từ bắc Quảng Trị đến nam Thừa Thiên,  người Pakôh, người Vân Kiều và một vài bộ tộc khác đều lấy họ Hồ, họ của Bác Hồ làm họ của mình. Thời gian này nhà văn Hồ Phương đi B. và đã viết thành công tiểu thuyết Kan Lịch, cháu của anh hùng Vai. Kan Lịch sau này cũng được tuyên dương Anh hùng Quân đội. Đồng bào ở đây rất thật thà chất phác. Họ thích đồng hồ đeo tay, nhưng phải là loại đồng hồ có “điện Phú Bài và 2 cửa sổ”. Đó là chiếc đồng hồ dạ quang, ban đêm trông rõ quầng sáng mặt  trong và hai cửa sổ là lịch ngày và lịch thứ. Nếu đổi đài (loại radio bán dẫn) thì nhất thiết trong cái đài transitor đó phải có 2 nghệ sĩ Châu Loan và Hồng Lê ( người Quảng Trị) ngâm thơ. Thành ra phải chờ tới đêm khuya, khi Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi tiết mục "đọc chuyện đêm khuya" thì mới có thơ ngâm của 2 nghệ sĩ này!
          Tôi bàn với anh Hậu ghé thăm cháu Minh Hiền, con gái anh Nguyễn Minh Tự (anh ruột anh Hậu), một trong ba chiến sĩ cộng sản đầu tiên của làng – thời Tiền khởi nghĩa Tháng Tám, 1945). Minh Hiền cùng chồng là Lê Văn Nghệ (cán bộ kháng chiến chống Mỹ đã từng giữ nhiều chức vụ chủ chốt của tỉnh trước và sau giải phóng), được Nhà nước bố trí ở Cư xá Đống Đa, trung tâm thành phố Huế,  từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam (30/4/1975). Căn phòng này hiện nay, vợ chồng Hiền Nghệ đã ngăn ra làm hai. Một bên cho thuê bán cà phê. Bên còn lại, phía trong có mấy phòng trọ cho thuê. Tôi hỏi Nghệ: Lương hưu của Nghệ được bao nhiêu? Nghệ bảo: Cũng bưa (bưa, tiếng Huế đồng nghĩa với đủ) dùng. Nghệ còn cho biết thêm là Minh Hiền không có lương hưu!
          Anh Hậu và Kỳ uống cà phê. Tôi được cháu Hiền mua cho một tô bún bò Huế. Tôi gọi điện cho nhà văn Nguyễn Thanh Song Cầm. Song Cầm bận tiếp một giáo sư nước ngoài nên khất lại lần sau. Nhà văn nữ này có cuốn tự truyện Cánh chim trong bão tố khá nổi tiếng. Tôi viết Lời tựa Cánh chim không mỏi và Phó giáo sư Tiến sĩ khoa Ngôn ngữ - Văn học Hồ Thế Hà viết bài giới thiệu Hành trình tâm hồn của Nguyễn Thanh Song Cầm. Cuốn sách đã được ông Tôn That Dzien ở Hoa Kỳ chuyển sang Anh ngữ với tựa sách là WINGS IN THE STORM. Cuốn sách này gặp sự cố khi tái bản lần thứ nhất. Không hiểu Nhà Xuất bản Hội Nhà văn sơ sót thế nào mà bản tái bản lại có thêm một số đoạn trước đây khi tôi biên tập lần đầu đã gạch bỏ. Cục Xuất bản ra lệnh thu hồi, không cho phát hành.
       Ăn uống xong, chúng tôi đến thăm anh chị Trần Văn Hối. Anh Hối là người làng Thượng Phước, học sinh Quảng sinh Bình Trị Thiên, được gủi ra học ở Hà Tĩnh hồi năm 1948 – một trong ba tỉnh bắc Liên khu 4 không bị giặc Pháp chiếm đóng. Đây là lớp người đào tạo sẵn cho ngày đất nước sạch bóng giặc. Anh Hối là giảng viên trường Đại học Sư phạm Vinh, cùng thời với giáo sư Nguyễn Duy Bình. Giáo sư Bình là cán bộ Đoàn trường lúc đó (khoảng năm 1956, 1957) đã lên sân khấu trao thẻ đoàn viên và huy hiệu Đoàn cho nữ sinh viên Hà Thị X. Sự kiện này được tờ Đất Mới, tờ báo xuất bản lậu của một nhóm sinh viên trường Đại hoc Tổng hợp Hà Nội ấn hành. Có chi tiết thày giáo Bình chạm tay hơi lâu vào ngực sinh viên X. Thời gian này cũng rộ lên các tờ báo Nhân Văn và tạp chí Giai phẩm Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông của nhóm Nhân văn Giai phẩm. Tở Trăm Hoa của nhà thơ Lỡ bước sang ngang a dua theo trào lưu “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” của nhóm Đinh Linh. Tả Lâm bên Trung Quốc. Và tận bên Đông Âu cũng lại dấy lên phong trào phản kháng chế độ như nhóm văn nghệ sĩ Câu lạc bộ Pêtophi của Hunggari, vụ bạo loạn Pôznan ở Ba Lan… Cuối cùng thì tất cả những tờ báo và tạp chí đó đều bị đóng cửa. Nhà Xuất bản Sự thật đã cho ra mắt bạn đọc cuốn “Lên án bọn Nhân văn - Giai phẩm” để bóc trần và đập tan luận điệu vu khống xuyên tạc chủ nghĩa xã hội và củng cố niềm tin cho nhân dân và cán bộ.  Văn nghệ sĩ là phải đi đúng hướng “Văn nghệ phải phục vụ chính trị”.  Và tính đảng trong văn nghệ là sợi chỉ đỏ có tính xuyên suốt cao nhất cần phải tuân thủ.
          Đến đường Phan Bội Châu, tôi nhớ mang máng là anh chị Hối ở số nhà 254. Kỳ cho xe chạy quá gấn tới cầu Bến Ngự. Tôi xuống xe, hỏi một chị đi bộ; Nhà thầy Hối thì chị ta xăng xái dẫn tôi vảo một con hẻm hẹp và gọi tên thầy Đối ra có người gặp, Tôi là một ông già tuổi trên tám mươi, tai bị nghễnh ngãng đã đành còn chị ta mới 55 tuổi, sao lại nghe Hối ra Đối được nhỉ? Thế là phải ra lại đường chính và hỏi người khác. Đến đúng số nhà anh Hối. Tôi gọi cửa, anh chị mừng rỡ đón vào nhà. Anh chị nhắc lại một vài kỷ niệm hồi chúng tôi ở phố Hàng Đào, Hà Nội. Có lần anh ra thủ đô cùng với giáo sư ngữ văn Nguyễn Việt Anh để biên soạn cuốn Văn học sử Việt Nam, anh đã nghỉ lại nhà tôi. Nhưng nhớ nhất là chúng tôi về dự đám cưới của anh chị. Chị Nụ là sinh viên năm cuối khoa ngữ văn, quê ở Yên Khánh, Ninh Bình. Đoàn đồng hương Quảng Trị chúng tôi gồm anh Phan Hào, chồng chị Đào, anh rể anh Trần Văn Hối, anh Trần Đức Lương, phóng viên Việt Nam Thông tấn xã và tôi. Thời gian đó việc mua vé xe ca Hà Nội đi các tỉnh rất khó khăn, nên anh Hào (đang công tác tại Văn phòng Bộ Giao thông Vận tải) phải lấy giấy giới thiệu của Bộ, bến xe mới ưu tiên bán vé cho.
          Tôi và anh Hậu đến anh Hối còn có một việc quan trọng. Anh Hối là một nhà trí thức tầm cỡ, có uy tín. Năm nay anh đã 86 tuổi và là một trong những trí thức còn lại của làng. Chúng tôi trình anh bản “Dự thảo Xây Nhà bia tưởng niệm các liệt sĩ, anh hùng của làng Thượng Phước”. Trong Lời đề dẫn, chúng tôi có đề cập đến một làng quê nhỏ bé như Thượng Phước, trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đánh Pháp và đuổi Mỹ ròng rã ba mươi năm trời đã cống hiến cho Tổ quốc gần 70 liệt sĩ và có tới 10 Bà Mẹ Việt Nam anh hung. Chưa kể đến những người dân yêu nước của làng đã bị quân thú mổ bụng, moi gan, chôn sống.
          Địa điểm để xây dựng Nhà bia là một quả đồi thường gọi là Cồn Cự, rộng chừng gần 4 hecta, nằm ngay khu vực trung tâm của làng. Mặt trước là con đường bằng bêtông, có khu dân cư hiện hữu và mé ngoài là con sông Thạch Hãn đưa nước từ thượng nguồn chiến khu Ba Lòng, xuôi về biển Đông. Cồn Cự hiện có những ngôi mộ của các dòng tộc chôn cất người quá cố nằm rải rác, không theo một quy định nào. Phần lớn diện tích còn lại là trồng rừng keo lai. Công ty Thống Nhất Ninh Bình khi thi công con đường cứu hộ, cứu nạn từ đầu cầu phía bắc Thạch Hãn – nơi có tượng đài 19 giọt máu của trung đội anh hùng Mai Quốc Ca -  trong "mùa hè đỏ lửa - 1972", lên tới chân đập Trấm, thường gọi là công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, dài non chục cây số. Công ty đã ủng hộ làng một con đường rải đá cấp phối chạy quanh Cồn Cự. Như vậy, nếu lãnh đạo xã Triệu Thượng và Huyện ủy. Ủy ban Nhân dân huyện Triệu Phong, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị cho phép xây Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ thôn Thượng Phước thì Cồn Cự cũng sẽ thành công viên vĩnh hằng (hay gọi cách khác là Nghĩa trang Nhân dân) cho người dân nơi đây.
          Anh Hối chăm chú nghe tôi đọc bản Dự thảo. Nghe xong, anh nói: Hay lắm, không có gì hơn là chúng ta – những người còn sống đến hôm nay phải luôn luôn nhó đến những đồng bào, đồng chí đã ngả xuống! Nhưng rối anh cũng thấy nam giải bởi một câu hỏi giản đơn: Tiền xây dựng Nhà bia lấy ở đâu ra? Mặc dù trong “Dự thảo”, chúng tôi có đề cập đến phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhưng dân làm là chủ yếu”. Anh Hối nói vui: Xuân Bảo xung phong đóng góp 20 triệu đồng trước đi, rồi bà con sẽ noi theo mà góp công, góp của. Nếu “dự án” được tỉnh thông qua thì chắc chắn là làm được.
          Chị Nụ vừa làm bếp vừa lắng nghe câu chuyện của chúng tôi trao đổi. Chị nói: nếu được duyệt cho xây Nhà bia thì chị cũng sẵn sàng đóng góp. Một lúc sau, cháu Phong, con trưởng của anh chị đánh  ôtô về. Cháu nói về rước các con đi học. Tôi nhờ Phong chụp cho mấy kiểu ảnh làm kỷ niệm. Anh chị mời chúng tôi ở lại dùng cơm trưa, nhưng chúng tôi xin khất lại làn sau.
          Phan Quang Kỳ là một giám đốc xây dựng. Kỳ có quan hệ mật thiết với nhiều doanh nghiệp ở Huế. Kỳ cũng rất rành các nhà hàng ở đất thần kinh nay. Tôi bảo Kỳ kiếm tiệm cơm nào ngon, có đặc sản Huế. Kỳ cho xe chạy lên ga Huế. Đến đây tôi lại nhớ về dĩ vãng. Ga Huế ngày xưa có tên là ga Trường Súng. Mỗi khi hè về, hoc sinh được nghỉ vacance, ba mạ tôi cho chứng tôi về quê Quảng Trị nghỉ và chơi trong mấy tháng hè, thường đi tàu lửa từ ga này về ga Quảng Trị rồi đi xe tay về làng (xe tay là loại xe do người kéo). Cơm nước  xong thì đã gấn 2 giờ chiều, Chúng tôi thẳng tiến về Quảng Trị trên con đường thiên lý bắc nam mà bây giờ gọi là Quốc lộ 1A.
     (Kỳ sau tiếp)

          2.TÔI ĐI TÌM LẠI VÙNG ĐẤT DỰNG NGHIỆP ĐẾ CỦA NHÀ NGUYỄN.