Trang

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

145.LỜI TRẦN TÌNH CỦA CHỦ BLOG


145. LỜI TRẦN TÌNH CỦA BLOGGER NGUYỄN XUÂN BẢO

Chiều hôm qua 12 tháng 5 năm 2015 tại Hà Nội, có cuộc hội thảo “Phát triển bền vững lưu vực sông  - thách thức và giải pháp” do Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam phối  hợp với Viện Nghiên cứu lập pháp (Quốc hội) và Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN) tổ chức.
Tôi chú ý đến phát biểu của TS Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam. TS nói: “Theo tôi biết, một người trong sân bay Biên Hòa có xác nhận việc Công ty Toàn Thịnh Phát đã mua đất đá ở đây để đổ xuống lấp sông Đồng Nai tạo mặt bằng phát triển dự án nhà ở. Nếu đây là sự thật thì vô cùng nguy hiểm bởi nó chính là hành vi phát tán chất độc hại. Trong khi đó ngay gần dự án lấp sông này là họng lấy nước sinh hoạt của Nhà máy nước Biên Hòa phục vụ cho 1,5 triệu người. Cách đó chừng 1km cũng là họng lấy nước của Nhà máy nước Hóa An cấp nước sinh hoạt cho gần 10 triệu người ở TP HCM.Hậu quả không thể lường được đối với cộng đồng, bởi dioxin đặc biệt nguy hiểm đối với con người là có thể dẫn đến quái thai, ung thư, bại não…như nhiều người ở nước ta gđã gánh chịu sau chiến tranh”. (Trích nguồn từ báo Thanh Niên số 133 ra ngày thứ tư 13/5/2015, trang 4-Thời sự- bài Cần làm rõ đất đá đổ xuống lấp sông Đồng Nai có nhiễm dioxin hay không).
Tôi và gia đình tôi cùng bà con họ hàng, bè bạn đang sống tại Biên Hòa vô cùng bức xúc trước cái tin này. Như TS Vũ Ngọc Long cảnh báo: Nếu đây là sự thật thì vô cùng nguy hiểm…Cho nên tôi muốn đây không phải là sự thật.                                                   
Tôi có may mắn được dự Trại viết văn viết về Chất độc da cam dioxin và tác phẩm của tôi DI HỌA KHÔN LƯỜNG đã được VAVA Đồng Nai tổ chức xuất bản thành sách cùng với một số văn nghệ sĩ khác, với tựa đề là NỖI ĐAU CÒN LẠI (Nhà Xuất bản Đồng Nai ấn hành, in xong nộp lưu chiểu quý III- 2011)
          Tôi cho đăng lại bài viết này để mọi người thấy rõ tác hại của chất độc da cam dioxin.


DI HỌA KHÔN LƯỜNG

Ghi chép của Xuân Bảo

Khi tôi viết những dòng này, cuộc chiến đã qua đi 36 năm trời, nhưng hậu quả của chất độc hóa học đối với con người và môi trường Việt Nam còn rất nặng nề, tiếp tục tác động xấu đến mọi mặt đời sống xã hội và phát triển kinh tế. Cuộc chiến này đã có 3 triệu nạn nhân bị nhiễm trực tiếp, trong đó có 1 triệu cán bộ, chiến sĩ phục vụ ở chiến trường, gây ảnh hưởng cả đến thế hệ thứ hai, thứ ba. Ước tính trẻ em bị dị tật do nguyên nhân chất da cam/dioxin chiếm khoảng 1% dân số!
Di họa chiến tranh hoá học do Mỹ gây ra trên đất nước ta là to lớn khôn lường.

NGƯỜI MANG HUY HIỆU VAVA

Đó là chị Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, tỉnh Đồng Nai. Chữ VAVA là 4 chữ cái đầu các từ tiếng Anh: Việt Nam Association of Victims of Agent Orange/Dioxin. Chị là một phụ nữ đã ngoài ngũ tuần, nhưng vẫn còn tươi tắn với nụ cười luôn nở trên môi. Chị là người đã đến với các gia đình nạn nhân chất độc da cam trong hầu hết các địa phương tỉnh Đồng Nai và rất được các nạn nhân quý mến. Bằng tình thường đồng loại cao cả, chị không nề hà vất vả nhọc nhằn đến với các nạn nhân vùng xa vùng sâu. Trong kết quả khiêm nhường cả tỉnh hiện đã nuôi dưỡng trợ cấp được 192 cháu nạn nhân là công lao của một tập thể rất nhỏ bé: Cơ quan Hội chỉ có 04 người. Đó là Ông Võ Minh Quang, chủ tịch Hội. Ông đã từng giữ chức vụ: Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo, Giám đốc Sở Lao động Thương binh Xã hội, đã về hưu. Đó là chị Ngọc Hạnh, đã từng là giáo viên, là cán bộ tổ chức chính quyền, nay cũng đã về hưu. Đó là các cháu Lê Kim Nguyên, Đào Thị Ngọc Yến, nhân viên văn phòng Hội.
Người chịu khó nhất là chị Ngọc Hạnh. Tôi nghĩ vậy. Không rõ ai laø người đề xuất cái việc huy động tâm trí của văn nghệ sĩ Đồng Nai để tập hợp các tác phẩm viết về cái chất siêu độc da cam/dioxin mà bọn đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học ở miền Nam Việt Nam. Ngày đầu tiên chúng rải chất độc này là ngày 10/8/1961. Và sắp tới đây, cả nước kỷ niệm 50 ngày đau thương này: 10/8/1961 – 10/8/2011. VAVA Đồng Nai xuất bản một cuốn sách, trong đó có các tác phẩm văn học viết về đề tài này.
Hơn 30 văn nghệ sĩ Đồng Nai gồm các chuyên ngành văn thơ, âm nhạc và nhiếp ảnh ñöôïc mời dự một cuộc “trò chuyện” về chaát độc da cam. Chị Ngọc Hạnh đã giới thiệu 25 nạn nhân ở các huyện mà văn nghệ sĩ sẽ đi thực tế để sáng tác. Bản danh sách này được phát cho từng người. Với vài dòng ghi chú ngắn gọn bệnh tật: đầu to, đi bằng đầu gối, chim cánh cụt, chân không có xương … hoặc hoàn cảnh như: 2 người già cô đơn, mồ côi cha mẹ, cha mẹ bỏ nhau, không tự phục vụ, con nuôi không có người thân, sống với mẹ già thường xuyên bị nhốt trong cũi, đi nạng, có con không chồng, mối tình đẹp của bà mẹ kế, hai anh em chết một, làm thơ trên máy vi tính bằng duy nhất chỉ một ngón tay. Có một câu chuyện sẽ làm xúc động lòng người: nuôi con bạn mà hy sinh cả tuổi xuân và hạnh phúc riêng mình. Tôi có dự kiến sẽ viết về người mẹ đồng trinh này.
Một cái trại sáng tác văn học - nghệ thuật mà chỉ có 3 ngày, sáng đi chiều về thì thật là quá ít ỏi về thời gian. Chỉ những tay thợ ảnh là “được mùa”. Đi cùng đoàn văn nghệ sĩ còn có các nhà tài trợ. Trường Đại học Lạc Hồng có một thầy giáo và các em sinh viên. Trung tâm sát hạch lái xe Đồng Nai có các học viên. Riêng Siêu thị Coop Mart Đồng Nai thì đích thân Giám đốc Nguyễn Thị Hồng Khanh đi cùng các nhân viên. Chị Hồng Khanh đã từng là Đại biểu Quốc Hội khóa IX của tỉnh. Các đơn vị tài trợ mang theo gạo, quà và cả xe lăn đến với các nạn nhân. Có những gia đình ở sâu trong rừng, chúng tôi phải đi bộ qua con đường đá sỏi lởn nhởn dưới cái nóng gay gắt 35 – 360C. Mọi người đều phấn chấn và vui vẻ. Vì họ biết rằng đây là chuyến đi tình nghĩa đầy tính nhân đạo.
VAVA Đồng Nai cũng đã xây dựng được một ngôi nhà bán trú, có thể nuôi được 50 cháu, tại thị trấn Định Quán, với tổng kinh phí đầu tư hơn 1 tỷ 200 triệu đồng.

MỘT CHÚT LỊCH SỬ VỀ CHẤT ĐỘC

Từ buổi bình minh nhân loại, con người thoát xác không bò bốn chân nữa mà vươn lên thành vượn người, sinh sống bằng hái lượm trên đôi tay của mình. Các bộ tộc hình thành và đã xuất hiện xung đột bộ tộc. Con người đã tìm ra các độc tố tự nhiên trong động vật và thực vật tẩm vào mũi tên, đầu gươm, ngọn giáo để tiêu diệt lẫn nhau.
Đến thế kỷ 19, các nhà khoa học Pháp đã dùng hóa chất diệt cỏ trong nghề làm vườn. Song, loại hóa chất này có gốc A.sen rất độc cho nên không bao lâu sau đã bị cấm không cho sử dụng.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) ngày 22/4/21915 quân Đức đã sử dụng chất độc chlo làm nhiễm độc và làm chết hàng ngàn quân Anh, Pháp. Tháng 7/1917, quân Đức tiếp tục sử dụng chất độc y.perit trên chiến trường. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) quân Nhật sử dụng y.perit tại Trung Quốc. Quân Đức sử dụng chất ziclon B đầu độc tù nhân ở các trại tập trung.
Ở Mỹ từ những năm 1937 – 1938, các công ty hóa chất Hoa Kỳ phát hiện ra các chất diệt cỏ có gốc Phenoxy (Phenoxy herbicides) có tác dụng diệt cỏ hiệu quả. Hai chất trong nhóm này được sử dụng là chất 2,4 D (2,4 Dicloro phenoxy acétic acid) và 2, 4, 5 – T (2,4,5 Trichloro phenoxy acétic acid). Đây được coi là những phát minh lớn. Và từ những năm 1940, nhanh chóng được đưa vào sử dụng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và nghề làm vườn. Các chất dieät cỏ cùng với các chất diệt sâu làm hại mùa màng đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng xanh ở nhiều nước trên thế giới.
Cũng như nguyên tử, mặt phải của nó là phục vụ dân sinh, phục vụ hòa bình nhưng những tên trùm lái súng đã lợi dụng nó để đưa vào chiến tranh với mục đích hủy diệt. Thảm họa Hirosima và Nakazaki năm 1945 do Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật là một minh chứng. Tìm ra các chất diệt cỏ, diệt sâu bọ là để làm tăng năng suất mùa màng đem lại no ấm cho con người. Song những tên thực dân kiểu mới Hoa Kỳ đã sử dụng nó vào mục đích chiến tranh. Hoa Kỳ lại được sự tiếp tay của Ngô Đình Diệm. Diệm đã trắng trợn tuyên bố: “Việc rải chất khai quang là một phương tiện rất hiệu quả mà các nước chậm phát triển có thể sử dụng để chống lại chiến tranh du kích của Cộng sản. (Diệm trả lời Đài tiếng nói Hoa Kỳ ngày 7/3/1962) Chả thế mà khi tiến hành phun rải Mỹ ngụy đã phải sơn cờ ba que đỏ sọc vàng lên thân máy bay và quân nhân ngồi trên đó phải mặc thường phục?!. Vải thưa sao che nổi mắt thánh.

    CHIẾN DỊCH RANCH HAND

Một binh chủng không lực Hoa Kỳ được mang mật danh “Binh chủng không quân 309” có nhiệm vụ chuyên trách các vụ rải. Chiến dịch sử dụng chất diệt cỏ và làm rụng lá cây được tiến hành với mật danh là “chiến dịch operation Ranch Hand”. Mục đích của chiến dịch được phía Mỹ xác định là: làm trụi lá cây để tạo điều kiện thuận lợi việc quan sát, phát hiện nơi trú quân của đối phương. Ngoài việc rải nó bằng máy bay, chất diệt cỏ còn được sử dụng bằng các phương tiện trên mặt đất (ô tô, tàu thuyền, bình phun tay…) quanh các vị trí đóng quân, trận địa pháo binh của quân đội Mỹ - ngụy và chư hầu; dọc hai bên đường giao thông thủy, bộ để tránh sự tấn công của quân du kích. Mục tiêu thứ hai không kém phần quan trọng là phá hoại mùa màng, nhằm triệt phá nguồn lương thực, thực phẩm của đối phương làm cho họ đói, mất khả năng chiến đấu, rối loạn hàng ngũ. Và cuối cùng là giúp Mỹ - ngụy giành “thắng lợi” quân sự ?! Than ôi, ngày tàn của chúng trước sau rồi cũng sẽ đến.
Tôi còn nhớ những ngày tháng năm 1959 Hà Nội sục sôi biểu tình phản đối bọn xâm lược Mỹ và tay sai bỏ thuốc độc, giết chết hơn 1.000 người tù ở nhà giam Phú Lợi. Nhà thơ Tố Hữu đã phải thét lên:
Đồng bào ơi anh chị em ơi!
Hỡi lương tâm tất cả loài người
Hãy nghe tiếng của nghìn người bị giết
Không sống nữa nhưng không chịu chết
Nghìn hồn oan bay khắp nhân gian
Thù muôn đời, muôn kiếp không tan…
Thực chất chất diệt cỏ, hay còn gọi là chất khai quang không đơn thuần như tên gọi mà là cái chất độc để Mỹ tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học kéo dài tới 10 năm - một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Trong những năm đầu 1961 – 1964, Mỹ thường dùng hóa chất màu tím (agent purple) và màu xanh lam (agent blue). Hai hóa chất màu hồng (agent pink) và màu xanh lá cây (agent green) cũng được dùng nhưng với quy mô nhỏ hơn. Khoaûng tháng 1/1965, hai công thức mới của chất diệt cỏ được đưa vào chiến trường, đó là chất màu da cam  (agent orange) và chất màu trắng (agent white). Các danh từ Da cam, Tím, Hồng, Xanh, Xanh lá cây… thực ra chỉ là mật danh quân sự và thể hiện bằng một vòng sơn, rộng khoảng 20cm quanh thùng 200 lít chứa hóa chất để dễ nhận biết trong khi vận chuyển và bảo quản.
Chất độc da cam (agent orange/dioxin) là dung dịch màu hồng - nâu hòa tan trong dầu diesel và các dung môi hữu cơ, không hòa tan trong nước; chất độc da cam là hỗn hợp 50 : 50 của hai chất n-butyl ester 2,4D và 2,4,5-T.
Bắt đầu từ chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mỹ đã thực hiện ở chiến trường miền Nam Việt Nam một số lượng hóa chất khổng lồ với kinh phí ban đầu là 12,5 triệu đô la Mỹ lên tới đỉnh điểm là 57,7 triệu đô la. Các công ty cung cấp hóa chất diệt cỏ gồm Dow chemical Co, Diamond Akali Co, Uniroyal chemical Co, Thompson Co , Hercules Co, Monanto Co, Ansul Co và Thompson, Hayward Co. Đây là 8 công ty lúc đầu, sau này con số công ty cung cấp cho chiến tranh hóa học ở Việt Nam lên tới con số 37.
Cho tới khi thế giới và cả nhân dân Mỹ lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh hóa học tàn bạo vô nhân đạo này của Mỹ thì quân đội Mỹ đã thực hiện 19.905 phi vụ (gồm các loại máy bay UC123, trực thăng H34, máy bay C47, C123…) rải chất độc trên 25.585 thôn, bản với diện tích 2.631.297 ha, trong đó có 86% diện tích bị phun rải hơn 2 lần, 11% diện tích bị phun rải hơn 10 lần. Đông Nam Bộ là vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, trên 56% diện tích tự nhiên bị phun rải. Khoảng 86% lượng chất độc đã được rải lên các vùng rừng rậm, 14% còn lại được dùng để phá hủy ruộng vườn, hoa màu mà chủ yếu là đồng lúa và nương rẫy ở các vùng đồi núi. Diện tích rừng ngập mặn bị ảnh hưởng chất độc là 150 ngàn ha, nặng nề nhất là rừng ngập mặn Cà Mau.
Tổng lượng chất độc hóa học mà quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 100 ngàn tấn các chất độc hóa học khác nhau. Trong đó có 9.000 tấn chất độc CS và 95.000 tấn các chất diệt cỏ CDC. Trong 95.000 tấn đó có tới 65.700 tấn có chứa dioxin với khối lượng lớn từ 366 đến 650 kg, tương đương 44 triệu lít.
Đông Nam Bộ là địa phương có rừng rậm Mã Đà chiến khu Đ, có sân bay Biên Hòa là nơi hứng chịu nhiều chất độc da cam nhất. Chúng rải để khai quang trụi lá cây rừng, bay đi rải chất độc về còn lại bao nhiêu chúng trút cả xuống đây. Những kho chứa, những bồn chứa rò rỉ, thùng bẹp chúng bỏ bừa bãi trong sân bay. Dư lượng tồn lưu trên khu vực này là rất lớn!

    GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG

Đó là cái chết của đại úy phi công Elmo Zumwalt III, con của trung tướng đô đốc hải quân Hoa Kỳ, người trực tiếp ra lệnh cho quân đội Mỹ rải chất diệt cỏ, khai quang lên chiến trường miền Nam Việt Nam. Elmo đã bị ung thư do nhiễm dioxin. Đó là chất da cam này đã được quân đội Hoa Kỳ “thử nghiệm” tại căn cứ quân sự Mỹ đóng ở Canadian Forces Base Gagetown Brunswick - Canada. Theo Bộ Quốc Phòng Canada, đã có 200 ngàn nhân viên quân sự đóng quân trong căn cứ CFB từ 1956 – 1984. Số nhân viên này bao gồm binh sĩ của Anh, Seotland và Mỹ đã tiến hành thử nghiệm họ cũng bị phơi nhiễm chất độc dioxin. Không những chỉ những người lính bị tác động đến sức khoẻ. Nó là bi kịch của những người vợ và con cái họ đã chết hoặc đau ốm, bệnh tật. Nó cũng là bi kịch của những thường dân làm thuê trong vùng và vùng phụ cận căn cứ. Đó là những người lính của quân đội chư hầu của Mỹ cùng tham chiến ở miền Nam Việt Nam như Hàn Quốc, New Ziland, Australia…
Ta hãy nghe những lời phát biểu của họ: “…Do bị bưng bít thông tin, đa số nhân dân Hàn Quốc đều không biết về vấn đề này. Một số lớn cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam bị đau ốm mà không rõ nguyên nhân và đã chết ở độ tuổi 40. Họ không hiểu vì sao họ phải chết. Ngay cả các bác sĩ cũng không giải thích được. Nhiều người đã tự vẫn vì không lối thoát và không muốn ảnh hưởng đến gia đình…”/ “…Kết quả là tổ chức đại diện cho các bệnh nhân chất da cam, Hàn quốc đã được chính thức thành lập…”/ “Trong tương lai, bệnh nhân mà chính phủ phải trợ cấp do chất da cam có thể lên tới 100.000 người. Và theo điều tra của Hội này, số cựu chiến binh đã chết bởi chất da cam ước tính vào khoảng 2 vạn người…”. (Trích phát biểu của Trưởng đoàn Cựu chiến binh Hàn Quốc đã tham chiến tại miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Quốc tế nạn nhân da cam/dioxin).
Và đây là tiếng nói của một nguyên sĩ quan quân ngụy quyền Sài Gòn ông Mai Giảng Vũ người đã trực tiếp rải chất độc hoá học trong thời gian chiến tranh, cũng tại Hội nghị Quốc tế nạn nhân da cam/dioxin. “Trong khi rải các hoá chất độc hại mà tôi không biết, tưởng thuốc diệt cỏ như các nhà nông họ làm, không ngờ lại nó ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, bao nhiêu thế hệ. Sau chiến tranh 30 năm các nạn nhân ở những vùng bị rãi hoá chất đó vẫn còn các cháu ra đời nhiễm phải bệnh chết  người đó. Nếu tôi biết nó nguy hiểm tôi sẽ không làm, 3 đứa con tôi đâu chết oan uổng thế”. Ba con ông đều bị nhiễm dioxin mà chết.
Còn ở Mỹ thì sao? Ngay từ 1984, các cựu quân nhân bị tác hại do chất độc này gây ra đã khởi kiện 7 Công ty sản xuất chất độc da cam/dioxin, trong đó có Dow Chemical Co và Monsanto Co với số tiền bồi thường là 180 triêu USD.
Một làn sóng phản đối  tràn khắp nước Mỹ, những quan chức cao cấp trong chính phủ Mỹ cũng lên tiếng đòi  chấm dứt cuộc chiến tranh hoá học vô nhân đạo và bẩn thỉu này.

CHIẾN TRANH QUA ĐI - NỖI ĐAU CÒN LẠI

Ngày 10/01/2004 thành lập VAVA Việt Nam và Hội đã tiến hành khởi kiện  các công ty hoá chất Mỹ đã sản xuất và cung cấp chất độc hoá học cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, đòi bồi thường tất cả những thiệt hại. Vụ kiện phải dừng lại ở Toà phúc thẩm Hoa Kỳ??
Chúng ta những người Việt Nam đang sống trên quê hương mình đều nhận thức được rằng: Kể từ ngày 10/08/1961 đến ngày 31/10/1971, trong 10 năm 2 tháng, quân đội Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh hoá học, hay nói một cách chính xác hơn là một cuộc chiến tranh sinh thái có qui mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Nó tác hại nghiêm trọng đối với môi trường và sức khoẻ con người hiện tại và cả mai sau.
Nhìn vào bản đồ Việt Nam, chúng ta đau xót thấy những vùng bị chất độc da cam tàn phá nặng nề. Rừng, núi, trảng, dòng sông, bờ biển… ở đây như những vết bỏng trên thân mình Tổ quốc ta. Trước năm 1960 độ che phủ rừng tự nhiên từ nam vĩ tuyến 17 trở vào là 60 – 70%. Tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng. Rừng có trữ lượng gỗ khoảng 200 – 300 m3/ha có các cây gỗ quý đường kính 1 đến 2 mét, cao từ 30 – 40 mét. Dưới tán rừng là nơi sinh sống của nhiều động vật quý, nay vì chất da cam mà có giống bị tiêu diệt hoàn toàn.
Chất độc hoá học đã tàn phá huỷ diệt khoảng 1,7 triệu ha rừng. Hệ quả của nó là trên đầu nguồn các con sông lớn như Bến Hải (Hiền Lương), sông Hương, sông Hàn, sông Ba, sông Đồng Nai, Vàm Cỏ…gió bão, lũ lụt và nhiều yếu tố tự nhiên khác làm cho chất độc hoá học truyền lan gần như toàn bộ diện tích đất đai miền Nam Việt Nam. Toàn bộ thảm thực vật bị huỷ diệt làm cho chất  lượng đất biến đổi, bề mặt đất bị xói mòn rửa trôi, cấu trúc thổ nhưỡng bị thay đổi ngày càng nghèo kiệt. Chất phát quang đi đến đâu thì mặt đất chỉ còn lại sỏi đá khô cằn. Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, tôi có đi thăm nhiều nơi. Nơi nào bị rải chất độc thì nơi đó có rất nhiều cỏ đuôi chồn mà người dân thường gọi là cỏ Mỹ (tên khoa học Pennisetum polystachym) và các loại cỏ tranh, lau, sậy…đua nhau mọc. Còn các loại cây khác thì không sao mọc nổi. Chất độc da cam/dioxin ngấm vào lòng đất còn để lại hậu quả cho cả trăm năm sau và đối với con người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cuộc chiến tranh hoá học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam đã làm cho hơn 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, trong đó có 3 triệu người là nạn nhân. Hàng vạn người đã chết. Hàng triệu người mắc các chứng bệnh: bệnh ung thư gan nguyên phát, ung thư tổ chức phần mềm, Ulymphô ác tính, bệnh Hodgkin, ung thư đường hô hấp (thanh quản, khí phế quản, phổi), ung thư tiền liệt tuyến. Và các bệnh rối loạn chuyển hoá, lipit có tai biến mạch máu não, bệnh động mạch vành; gluxit có đái tháo đường. Bệnh thần kinh có ngoại vi cấp và mãn, da u tuỷ (multiple myeloma). Bệnh ngoài da thì có xạm da, nhiễm porphyrin da chậm và các bệnh thường gặp ở phụ nữ: sẩy thai, đẻ non, con chết lưu (tử tại phúc trung), chửa trứng, ung thư màng nuôi…Các loại dị tật bẩm sinh, quái thai xuất hiện trên nhiều người và cũng có thể xẩy ra ở thế hệ thứ hai (cháu).
Tôi nghĩ rằng để khắc phục hậu quả cuộc chiến tranh hoá học này, 2 vấn đề cơ bản được đặt ra: tẩy độc môi trường và chăm lo sức khoẻ nạn nhân da cam/dioxin. Chúng ta hãy lắng nghe từ phía kẻ thù, bên kia chiến tuyến: “…Hôm nay là một ngày rất quan trọng với nước Mỹ để tiến thêm một bước làm giảm nhẹ những nỗi đau thương mà đất nước chúng ta đã vô tình gây nên cho những con người của mình khi buộc họ tiếp xúc với chất (độc) da cam ở Việt Nam. Hơn hai thập kỷ qua các cựu chiến binh đã than phiền rằng việc tiếp xúc với chất (độc) da cam trước khi họ rời chiến trường đang giết dần, giết mòn và thậm chí tổn thương đến con cái của họ…”.
“…Cuối cùng, tôi cũng rất cám ơn người bạn cũ lâu năm của tôi – Đô đốc Zumwalt - người đã đấu tranh xuất sắc nhất cho các cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam…Không ai có thể làm tốt hơn ông trong việc làm sáng tỏ tác hại của chất (độc) da cam. Không ai biết rõ hơn và nhận trách nhiệm cá nhân (nhấn mạnh của tác giả XB) tốt hơn ông về những hành động của chúng ta…”
Như thế là phía Mỹ, như lời cựu tổng thống Bill Clinton phát biểu tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng khi ông đương nhiệm công bố thêm những loại bệnh do chất độc da cam/dioxin gây nên (ngày 28.5.1996). Ông ta cũng có nhắc đến một người bạn cũ, đô đốc hải quân Zumwalt, người đã trực tiếp ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ rãi chất độc da cam lên Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Zumwalt đã sám hối vì trong cuộc chiến tranh hoá học này, người con thứ 3 của đô đốc, đại úy Elmo Zumwalt đã phải trả giá khi anh ta ngày ngày ngược xuôi trên các dòng sông, trên các con kênh để kiểm tra việc rải chất độc da cam. Anh ta đã bơi lội, tắm táp, ăn uống trên những dòng nước này và kết cục là căn bệnh ung thư do nhiễm chất độc da cam/dioxin đã cướp mất mạng sống. Oái ăm thay! Rõ ràng không ai biết rõ hơn và nhận trách nhiệm tốt hơn Zumwalt. Và cũng đau đớn như bao người bố khác: mất con vì chất độc da cam /dioxin.

TỔNG THỐNG BIẾT TOÀ ÁN LÀM NGƠ

Và toà án Liên bang Mỹ (Quận Tây Brooklyn New York). Cấp sơ thẩm đã tiếp nhận đơn của VAVA Việt Nam cùng một số nạn nhân khởi kiện 37 công ty Mỹ sản xuất hoá chất độc hại ngày 30.1.2004. Một năm sau, ngày 28.2.2005 tranh tụng miệng tại Toà sơ thẩm. Mười ngày sau đó, thẩm phán Jack Weinstein ra phán quyết bác bỏ đơn kiện với lý do ngây ngô rằng: “không thừa nhận chất da cam là chất độc hại đối với con người”. Phía ta, tiếp tục kháng cáo lên Toà phúc thẩm New York. Ngày 22.2.2008 Toà phúc thẩm lưu động số 2 New York đã đồng ý với phán quyết của Toà án sơ thẩm (10.3.2005) rằng; “việc sử dụng chất độc của Mỹ không cố ý gây thiệt hại cho con người Việt Nam”.
Và, quan trọng hơn, không gì vô lý hơn là ngày 2.3.2009 giờ New York, giờ Hà Nội là ngày 3.3.2009 Toà án Tối cao Hoa Kỳ công bố Quyết định (được thông qua ngày 27.2.2009 bác bỏ đơn thỉnh cầu của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam cùng 2 đơn khác của các cựu chiến binh Mỹ với các công ty hoá chất phải bồi thường thiệt hại gây ra đối với sức khỏe bản thân và gia đình họ.
Nhân dân Việt Nam vô cùng phẫn nộ và hết sức bất bình trước Quyết định sai lầm và bất công của Toà án Tối cao Hoa Kỳ. Quyết định phi lý này được đưa ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam có nhiều cố gắng để góp phần khắc phục hậu quả của chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam.
Dù không được kiện trước Toà án liên bang Hoa Kỳ, nhưng vụ kiện đã thu được những thắng lợi có ý nghĩa tích cực, đáng khích lệ. Nổi bật là ở trong nước, vụ kiện đã thúc đẩy phong trào đòi công lý, tạo ra sự thông cảm sâu sắc và giúp đỡ mạnh mẽ các nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin.
Với thế giới, vụ kiện nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân các nước. Vụ kiện phơi bày ra trước nhân loại mọi thủ đoạn phía Hoa Kỳ đã che giấu hơn 30 năm nay của các công ty hoá chất Mỹ. Nó đã trở thành một phong trào rộng lớn mang tính quốc tế và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cuộc đấu tranh trực diện về mặt pháp lý tại Toà án Mỹ, kết hợp với cuộc đấu tranh ngoài toà, được sự ủng hộ của các bạn Mỹ. Vụ kiện này, chúng ta đã thắng trên mặt trận chính trị và nhân văn.
Rõ ràng, Toà án Hoa Kỳ đã chà đạp lên công lý, bất chấp đạo lý. Đây là một phán quyết phi lý và sai lầm. Người Mỹ thường lớn tiếng dạy thiên hạ về quyền con người, nhưng ở đây họ đã bỏ lỡ cơ hội thể hiện tôn trọng nhân quyền. Đây là một phán quyết đáng hổ thẹn!.
Những đau khổ và di họa chất độc da cam/dioxin gây ra sẽ tiếp tục làm rớm máu trái tim nhân loại.
Cuộc chiến đấu để đi đến thắng lợi của vụ kiện vẫn tiếp tục.

                                                  ***
Để kết thúc bài ghi chép này tôi xin trích ra đây mấy câu thơ của nữ sĩ Ngô Thanh Xuân, trong bài thơ Em sợ lắm, viết thay lời nạn nhân chất độc da cam/dioxin Phạm Văn Bảy, ở xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ.
                                “…Em sợ lắm khi màn đêm buông xuống
                           Tiếng dế đầu hè như khóc, như than
                          Ai oán, não nề điệp khúc da cam
                          Cuộc chiến lùi xa, nỗi đau còn mãi.”

                                                Biên Hoà, 19.4 – 14.5.2011

Xuân Bảo.

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

144. Chuyện nhỏ những ngày đầu làm báo Văn nghệ Đồng Nai


               144.CHUYẾN ĐI THỰC TẾ ĐẦU TIÊN
                                                                             (Kỳ VI)

         L.N.Đ.- Năm 1999 – năm cuối của Thế kỷ XX và cũng là năm cuối Thiên niên kỷ I. Đồng thời là năm kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập Hội Văn nghệ Đồng Nai.(22/12/1979 – 22/12/1999). Nhà văn Hoàng Văn Bổn, Chủ tịch Hội cho mời tôi và Nguyễn Duy Thinh tới Văn phòng. Anh Chín Bổn nói: “Hai ông là những người đầu tiên có mặt trong những ngày đầu thành lập Hội. Hãy viết những kỷ niệm về ngày Hội chúng ta mới ra đời.”
Tôi và Duy Thinh nhận lời viết cái hồi ức nho nhỏ này. Và giờ đây Duy Thinh đã đi xa. Tôi cho vào sách này toàn văn bài viết CHUYỆN NHỎ NHỮNG NGÀY ĐẦU LÀM BÁO VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI. Đây cũng là nén hương tôi thắp lên để tưởng nhớ nhà văn Nguyễn Duy Thinh – người đã gắn bó với Hội nhiều năm – và là người bạn chí cốt của tôi. Viết nhân ngày giỗ của nhà văn Nguyễn Duy Thinh.
  In lại nguyên văn toàn bài đã đăng trên Tạp chí Sông Phố số 55, số Kỷ niệm 20 năm thành lập Hội 1979 – 1999.
                                                                   **


    
   CHUYỆN NHỎ NHỮNG NGÀY ĐẦU LÀM BÁO VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI 

                                           Xuân Bảo – Duy Thinh
Mới đó, mà hai chục năm đã đi qua. Những thành quả đã gặt hái bây giờ, làm chúng tôi bồi hồi nhớ lại những trăn trở quên mình “điếc không sợ súng” ngày đó.

NHỮNG BÀI BÁO ĐẦU TIÊN KHÔNG IN TRÊN BÁO.

      Chiều tối, trước khi về Sài Gòn, anh Lý Văn Sâm còn ngoắc tôi lại bảo: “Cậu và Xuân Bảo ráng làm xong cái đó đi nhé”. Được anh Hai Lý cưng, tôi giỡn: “Cái đó là cái gì, thưa anh?”.  “Là cái đó đó”.Anh Hai Lý cũng nói vui lại.
      Thưa bạn đọc, “cái đó” mà nhà văn Lý Văn Sâm căn dặn chúng tôi là chuẩn bị toàn bộ các văn kiện cho việc thành lập Hội Văn nghệ Đồng Nai.
Hai ngày sau, anh Lý Văn Sâm lại nhắc: “Nè, không có đứa nào giúp việc cho các cậu đâu. Làm cho ngon nghe!” Xuân Bảo tính ưa vui, bỗ bã quyết liệt: “Tự chúng tôi biết cách giúp việc cho chúng tôi! Thưa anh Hai”.
      Trong thời kỳ Ban Vận động, trụ sở của Hội đang ở nhờ nhà số 1 Võ Thị Sáu. Nhưng ít khi anh Hai Lý, anh Chín Thức (Huỳnh Công Thức) và anh Tô Văn Của đến. Chỉ có một mình cô Đào Minh giữ “gôn”! Xe cộ không, thiết bị văn phòng không. Chỗ chúng tôi giúp việc lẫn nhau là ngay phòng khách tư gia của Xuân Bảo. Một cái bàn sắt lớn và một bộ sa-lông nan. Cũng may mà mặt bàn khá rộng tha hồ cho chúng tôi trải bản thảo. Có một cái ghế mềm xoay 360o giống như ghế của bác phó cạo, thì Xuân Bảo và tôi thay nhau ngồi “cạo giấy”.Còn cái máy chữ thì vui hết nói, mổ xuống một ngón thì nhảy lên dính chum đến ba chữ. Vui nhất là kẹt chữ T. Tôi bàn với Xuân Bảo lấy chữ L thay chữ T, trông cũng khá giống. Xuân Bảo phì cười: “Cái thằng kỹ sư địa chất, nhà văn cấp phường này, vậy khi đánh tới…”Chúng tôi ôm nhau cười.
CHÚNG TÔI ĐI THỰC TẾ VỚI NHỮNG NGƯỜI LÁI MÁY BAY.
Khi Hội Văn học – Nghệ thuật Đồng Nai đã ra báo đến số thứ tư, nhà văn Lý Văn Sâm bảo chúng tôi: “Chúng ta (Đồng Nai) có may mắn ở gần sân bay. Vừa qua những người lái máy bay của sân bay Biên Hòa đã hỗ trợ tốt cho chiến trường bạn. Các cậu bố trí anh em đi viết về Không quân”.
Chúng tôi lại hứa với anh như lần trước. Tuần lễ sau, đã làm việc xong với anh hùng Nguyễn Văn Bảy, Tư lệnh của binh chủng Phòng không – Không quân. Anh Bảy giới thiệu chúng tôi với chủ nhiệm chính trị sư đoàn Không quân phía Nam. Chúng tôi được xe quân sự của Bộ Tư lệnh về đón tận sân bay Biên Hòa để lên sân bay Tân Sơn Nhất. Ở đây chúng tôi được tiếp đón như những người thân mới đi xa trở về. Chúng tôi từ chối phòng khách và xin được nghỉ cùng cùng với phòng các sĩ quan kỹ thuật.
Ngày đi nghe báo cáo, xuống phân xưởng sửa chữa, lên đài chỉ huy, ra phòng trực chiến. Lúc về phải đi qua dãy nhà sĩ quan dẫn đường (bay). Các chàng sĩ quan  có bằng kỹ sư và hàm cấp tá nhưng còn rất trẻ, ưa hài hước. Họ nuôi một chú khỉ rất “ranh ma”. Các chiến sĩ nữ đi qua hãy coi chừng, nó phóng ngay lên vai, gở mũ và tháo dây nơ, kẹp tóc. Còn cánh đàn ông chúng tôi, nó cũng làm vậy và lấy thứ khác. Chúng tôi đi ngang qua và Xuân Bảo lãnh ngay cú “cẩu đầu vân” của chú khỉ. Xuân Bảo chỉ kịp kêu lên ối một tiếng thì “hậu duệ” của Tôn Ngộ Không đã ở trên ngọn cây và khoe cây viết vừa cướp được. Một sĩ quan dẫn đường bay vừa đi tới, huýt gió nghe chói tai và nói: “Thằng trời đánh sống 500 tuổi kia, trả ngay bút cho nhà văn”. Có thể đó lời nói của Đường Tăng, con khỉ ngoan ngoãn leo xuống trả bút cho Xuân Bảo.
Ngày hôm sau chúng tôi được anh Tám Đức (Mai Văn Đức, chỉ huy trưởng Đoàn bay lên thẳng (917) chiến đấu phía nam bố trí cho “bay thực tế” với các chiến sĩ lái. Vào ga-ra máy bay chúng tôi thấy hai người lái đang đẩy chiếc OV10, nhỏ như đồ chơi trẻ con. Chúng tôi nói cho bọn mình bay cái này cũng được. Hiền An Giang vốn yếu đuối nói thêm: “Có lẽ bay cái này an toàn hơn”. Những người lái trả lời chúng tôi là người lính chấp hành theo quân lệnh nên không thể chiều các đồng chí, vả lại cái này không có đủ chỗ ngồi.
Xuân Bảo cười vui: “Không sao. Vậy cho phỏng vấn nhanh. Các cậu có tham gia chiến trường bạn vừa qua không?” Người lái khoát tay nói giọng rất lính: “Suýt chết đấy “các cụ ạ”! Bọn mình chỉ điểm cho pháo cối bắn vào đội hình quân tháo chạy của địch, nhìn thấy cả đạn cối bay qua đầu, nói dại nó mà rớt trúng đầu thì tiêu. Còn lần khác đi thả truyền đơn ở Niết Lương, máy bay tự nhiên mất độ cao. Đành phải hạ cánh bắt buộc. Chúng tôi nhảy ra, tay lăm lăm khẩu K54 vừa tự bảo vệ vừa tìm sự cố kỹ thuật. Hú hồn, hóa ra có một tập truyền đơn kẹt vào cáp lái…Cái thứ này có lẽ cho các cháu ở vườn trẻ rồi!
Trước khi bay, chúng tôi được ăn sáng bếp tiểu táo của người lái: bánh mì patê gan, một quả trứng gà luộc, một ly càphê sữa nóng và mỗi người được trang bị một mũ chống tiếng ồn. Người lái chính bảo chúng tôi, lát nữa các anh sẽ được hưởng cái thú rơi tự do! Hiền An Giang mặt mày xanh lét ôm lấy tôi, bảo: “Cho tao xuống ngay”. Chúng tôi đành phải thả Hiền An Giang xuống giữa cánh đồng Củ Chi để anh ngồi đó. Hai mươi ba phút sau máy bay lại đỗ xuống đón Hiền An Giang.
Sau chuyến bay có một trong đời trên chiếc HU1A của Mỹ, chúng tôi về phòng chỉ huy của Đoàn trưởng Tám Đức. Anh kể cho chúng tôi nghe chuyện tập bay, chuyện anh cùng đồng đội bay cho Dầu khí và chuyện năm 1975 anh bay về thăm cha mẹ ở Cà Mau, quần đảo trên rừng dừa và tràm chim quê mình mà thấy lạ hoắc vì chiến tranh tàn phá!
                                                                   ***
Chúng tôi trở vế báo cáo với anh Lý Văn Sâm là sẽ có bài cho những số sau. Thế còn bây giờ, Tết đến nơi không có cánh bay trong báo như là Tết không có bánh tét.
Và chuyến đi thực tế xuống Hố Nai cũng đầy kỷ niệm. Chúng tôi xuống đó vì nghiệp vụ cần phải viết một điển hình. Giáo xứ Ngọc Đồng tổ chức thu mua heo vượt kế hoạch. Cùng đi có nhà văn Nguyễn Khải và nhà thơ Nguyễn Duy. Cha xứ Ngọc Đồng tiếp chúng tôi như một lão nông tiếp bạn cũ về quê. Ông hút thuốc lào với cái thú ngâm nga của người biết quý cái hương vị dân dã. Nhà thơ Nguyễn Duy cũng bắn điếu cày liên tục với phong cách rất lính. Hôm ấy Cha xứ nói trước đây đọc tiểu thuyết của Nguyễn Khải “Cha và con…” cứ tưởng ông Nguyễn Khải là người có đẳng cấp trong Giáo hội. Sau này nhà văn nói với chúng tôi: “Nói thật với các cậu, mình có thể làm lễ như một cha xứ có nghề”.Thế mới biết nhà văn Nguyễn Khải đã sống như thế nào để viết những trang viết được mọi độc giả ưu ái đến như vậy.
Nhà văn Lý Văn Sâm dặn chúng tôi biên tập kỹ và trao lại bài vở cho anh mang lên duyệt. Cuối thư, nhà văn còn bảo cho anh Chín Thức thuốc nhức đầu. “ảnh sụn rồi” (nguyên văn anh Lý Văn Sâm viết).
Hồi đó Duy Thinh cũng nhận được thư anh Lý Văn Sâm. Anh nhắc chúng tôi bố trí cho anh em đi thực tế và chọn một sồ bài để in chung với anh trong tập Bến Xuân.
Có lần giữa hội nghị anh Lý Văn Sâm cự tôi (Nguyễn Duy Thinh): Tại sao báo lần này không có bài ký nào cả? Tôi thưa không có ai gửi, đặt bài gấp quá họ không viết kịp. Anh bảo: Cậu có cái nào đưa đây. Tôi nói có. Nhưng tôi là biên tập lại biên tập cho chính mình, hơi kỳ. Anh lại la, thì cứ đưa đây, mình chịu trách nhiệm. Tôi đưa anh bài ký “Những tín hiệu từ ven sông Đồng Nai” viết về một nhóm phóng viên Thông tấn xã thường trú ở Đồng Nai. Xong hội nghị, anh trả lại bản thảo với bút phê: Được, đưa Hiền An Giang lên ma-két. Cái măng-sét Xuân Bảo thiết kế vẫn dùng.
Nhân viết đến anh Lý Văn Sâm, xin Ban biên tập cho tôi viết thêm vài dòng nữa về nhà văn. Năm nay anh đã cao tuổi và còn sống với chúng ta. Trong bức thư nói ở trên kia, cuối thư anh viết: “…mình sẽ nghĩ lại, một kiểng đôi quê cực quá (vừa ở Hội Văn nghệ Giải phóng, vừa ở Hội Văn nghệ Đồng Nai). Nay vỏ xe Honda hư rồi…”  Hồi đó tôi đã kiếm cho anh vỏ xe để có phương tiện đi lại. Nhưng tôi còn nợ anh, chưa viết xong bài ký anh vượt ngục ở Tân Hiệp – Biên Hòa tháng 12 năm 1956, với tựa đề dự kiến “Cùng vượt ngục với những người anh hùng”.

                                                                ***
Hai mươi năm đã đi qua, tôi luôn luôn nói với chúng tôi: “Đã đành tre già măng mọc, nhưng măng có mọc thẳng hay không cần phải dựa vào tre già”. Riêng ở Đồng Nai, anh Lý Văn Sâm, anh Hoàng Văn Bổn chính là những cây tre già, “có mảnh áo cũng nhường cho con”, như Nguyễn Duy đã viết.
                                                                                                   Thu 1999
                                                                                                   X.B – D.T




Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

143. Bài phát biểu góp ý của Xuân Bảo


        143. ĐẤT NƯỚC ĐANG TRÊN ĐÀ ĐI TỚI
Tùy bút chính trị của Xuân Bảo
Bài phát biểu của nhà thơ Xuân Bảo  tại Hội nghị Góp ý các văn kiện         Đại hội Đảng XII do Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai triệu tập, họp vào sáng ngày 23/4/2015 tại Hội trường Tỉnh ủy Đồng Nai.

1. NHỮNG THÀNH QUẢ QUAN TRỌNG
Năm nay, tôi bước sang tuổi 81, nhưng được trời phú cho sức khỏe còn tốt, đầu óc còn minh mẫn, chỉ tội cái tai hơi bị nghễnh ngãng một chút.Vừa qua, tôi dã làm một chuyến về Bắc và đã viết xong cái ký sự Bắc Hà gồm 4 phần,kể lại những điều tai nghe mắt thấy trong hơn 2 tuần thăm thú nhiều nơi trên đất Bắc.
Tháng 10 năm 2010, tôi và nhà văn Võ Nguyện (đã mất từ năm ngoái-7/12/2013) hoàn thành công trình “Trời Nam thương nhớ” và đem về Hà Nội dâng lên Đức Lý Thái Tổ trong Ngày Hội lớn 1000 năm Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội. Thi Tuyển “ Trời Nam thương nhớ” đã có tiếng vang lớn trên Thi đàn.
          Nay, sau 5 năm tôi lại được trở về với Hà Nội thân yêu.Ký ức tôi còn hằn sâu những ngày mùa thu năm 1960.Dàn Đại hợp xướng của hơn 1200 thanh niên ưu tú của các trường đại học,các tổ chức thanh niên trong các cơ quan nhà nước…thuộc Thành đoàn Thanh niên Hà Nội đã cùng các nhạc công trong Nhà hát giao hưởng, Đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức Đại nhạc hội chào mừng Đại hội Đảng lần thứ III thành công tại vườn Bách thảo.Lúc bấy giờ, tôi được phân công vào bè basse của Đại hợp xướng. Nhà giáo ưu tú, nhạc sĩ Nguyễn Văn Vy,nguyên hiệu trưởng Trường Nghệ thuật Đồng Nai, hiện còn sống tại Biên Hòa, lúc đó là người thổi kèn clarinet của Nhà hát giao hưởng.
Những bài hát được trình diễn trong Đại nhạc hội này gồm Ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam, Ca ngợi Hồ Chí Minh,Bài ca Tháng Tám…Chúng tôi hát như muốn vỡ tung lồng ngực đến nỗi nhạc trưởng Nguyễn Hữu Hiếu không kìm nổi xúc động đã làm gãy đôi cái gậy chỉ huy (baguette) dàn nhạc,phải thay cái khác.
Bác Hồ đã bắt nhịp Bài ca kết đoàn trước các vị đại diện các đảng cộng sản và công nhân quốc tế tham dự Đại hội III. Và trước đó mấy hôm,trong đêm Hội diễn Văn nghệ quần chúng của thủ đô, trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội,tôi còn được đơn ca bài Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng.Thơ của nhà thơ Aragon (Đảng Cộng sản Pháp),Tố Hữu dịch ra Việt ngữ và Phạm Tuyên phổ nhạc.
Thế mà đã 55 năm trôi qua!
          Chiếc Air bus 321 hạ dần độ cao trong bầu trời Hà Nội nhiều mây.Phía dưới cánh bay là Hà Nội rực rỡ, lung linh trong ánh điện nhiều màu.So với 5 năm trước, sân bay Nội Bài dường như rộng hơn, đẹp hơn và nhiều máy bay hơn. Và chắc chắn rằng những “con chim sắt cánh bạc” kia đã tung cánh ra khắp muôn phương, vươn mình tới những chân trời bè bạn xa xôi trong cái quả địa cầu của chúng ta.Đây là một thành quả đáng mừng!
          Từ sân bay Nội Bài về Hà Nội hai bên đường mọc lên san sát những tấm pa-nô quảng cáo của các tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước. Những công trình nhà máy xí nghiệp trong cụm công nghiệp Đông Anh có rất nhiều công ty của nước ngoài như Toyota…Qua khỏi cầu Thăng Long,đi vào địa phận huyện Từ Liêm – nơi ngày trước chỉ có vài ba trường đại học như Đại học Sư phạm, Đại học Ngoại thương - thì nay có tới hàng chục trường đại học, học viện.Trụ sở, nơi làm việc của các công ty, đơn vị kinh tế được xây dựng khá nguy nga,có ngôi nhà cao tới hai ba chục tầng. Hàng loạt khách sạn bốn sao, năm sao được xây dựng.Những ngôi nhà dân  cũng được xây mới đẹp đẽ khang trang hơn. Những thay đổi đó trong mấy năm gần đây đã chứng minh rất rõ một điều là Hà Nội đang thay da đổi thịt hàng ngày.Đây là một thành quả đáng khích lệ!
          Trong những ngày lưu lại miền Bắc,tôi đã được đi trên những chiếc cầu mới khánh thành như cầu Nhật Tân, cầu Vĩnh Tuy, cầu Vĩnh Thịnh… bắc qua sông Hồng. Đây là những chiếc cầu xây dựng theo công nghệ tiên tiến có sức chịu tải lớn. Tôi cũng đã được đi trên những con đường cao tốc Hà Nội- Lào Cai, đường 5 Hà Nội – Hải Phòng, Quốc lộ 18 ra Uông Bí…Mạng lưới giao thông nông thôn cũng đã được cải thiện đáng kể.Hệ thống đường bộ thực sự là mạch máu tốt, góp phần phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đây là một thành quả đáng biểu dương!
          Trên đây chỉ là những nhận xét chủ quan của tôi và cũng là những nét chấm phá mà thôi.Tuy nhiên, đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XI(2011-2015) và nhìn lại 30 năm đổi mới thì theo thiển ý cá nhân tôi,tôi nhất trí với nhận định của “Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XII là “ 5 năm qua đã đạt được những thành quả quan trọng” và đánh giá tổng quát 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được “những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử”trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.Đây là một thực tế lịch sử không thể chối cãi.Thế nên,chúng ta-những người đang sống trên mảnh đất của “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta hãy cùng nhau giữ lấy nước”(Lời Hồ Chủ tịch)-có trách nhiệm đem hết sức lực và trí tuệ xây dựng một nước Việt Nam cường thịnh,dân chủ,công bằng và văn minh.
          Đất nước đang trên đà đi tới.Đó là chân lý và niềm tin!
                   2. CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG CON NGƯỜI.
          Là một nhà thơ,nhưng trước hết tôi là một công dân, vì vậy trách nhiệm xã hội và ý thức công dân được đặt lên hàng đầu. Trong Báo cáo chính trị (Dự thảo), mục VII có đề cập đến “Phát triển văn hóa, xây dựng con người”.Báo cáo nêu:Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân-thiện –mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn,dân chủ và khoa học.Văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
          Tôi xin đi vào những khía cạnh cụ thể về xây dựng con người để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
 Trách nhiệm của người nghệ sĩ nói chung và của các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, những nhà lý luận phê bình…mà đại diện của họ là bộ máy điều hành của họ nói riêng là hãy tạo ra những tác phẩm có giá trị như chúng ta đã từng có Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, có Dụ chi tỳ tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ) của Trần Hưng Đạo, có Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi,cóTruyện Kiều của Nguyễn Du, có Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, có Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh và nhiều nhiều những áng thơ văn tuyệt mỹ.
Hội Nhà văn Việt Nam và Liên hiệp Các Hội Văn học-Nghệ thuật Việt Nam đã làm được những gì trong thời gian qua? Cuộc kháng chiến trường kỳ chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam anh hùng đã mang lại độc lập hòa bình và thống nhấtt non sông, tính đến hôm nay vừa tròn 40 năm. Thời gian dài ấy đủ để lắng đọng quay nhìn về quá khứ hào hùng của dân tộc. Song những văn nghệ sĩ Việt Nam đã có những thành tựu gì mang tính lịch sử cho nhân dân?
 Hiện chúng ta có một Hội Nhà văn Việt Nam với trên dưới một nghìn hội viên. Có một đội ngũ những người làm công tác văn học- nghệ thuật của các hội địa phương lên tới hàng vạn người.Với ngần ấy hội viên chỉ cần một phần mười có những tác phẩm có giá trị, phản ánh được một giai đoạn lịch sử trên tất cả các mặt đời sống xã hội sản xuất và chiến đấu thì đã quý hóa lắm! Huống chi, chúng ta đã qua 70 năm xây nền độc lập của Tổ quốc, chúng ta đã đánh thắng những tên xâm lược mạnh gấp hàng trăm lần chứng ta về trang bị vũ khí.Nhưng những tác phẩm văn học- nghệ thuật của nước nhà trong giai đoạn đánh Mỹ và cả 30 năm đổi mới  liệu đã có những tác phẩm nào để lại dấu ấn cho con cháu mai sau?!
Cơ quan Liên hiệp Các Hội Văn học- Nghệ thuật Việt Nam làm công tác lãnh đạo chỉ đạo 63 tỉnh thành.Ở mỗi tỉnh thành đều có Hội Văn học –Nghệ thuật hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban Nhân dân vể mặt quản lý nhà nước và của Tuyên giáo Tỉnh ủy về măt chính trị tư tưởng. Các hội địa phương đều có trụ sở,có biên chế và ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động.Tất cả nguồn kinh phí này đều lấy từ thuế mà có. Thế nhưng những hoạt động của các hội này đã mang lại những kết quả gì?Đó là câu hỏi mà chúng ta phải tìm cho ra lời giải.
Tất cả những hoạt động của văn nghệ sĩ là nhằm góp phần tạo ra “con người Việt Nam toàn diện”; đúc kết và xây dựng giá trị chuẩn của con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất , tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật.
 Vì thế , trong Lời phát biểu tâm huyết hôm nay với Dự thảo Báo cáo Chính trị của BCH Trung ương, tôi xin nêu vấn đề Chiến lược xây dựng con người Việt Nam mà trách nhiệm của văn nghệ sĩ là rất lớn.Tôi đề nghị nên nêu thêm vào Báo cáo Vai trò và trách nhiệm của văn nghệ sĩ đối với Nhân dân và Tổ quốc.
Chúng tôi tự nhận mình là Kẻ sĩ trước thời cuộc, nên có những lời tâm huyết này.Kính mong Đảng chấp nhận để Đại hội XII của Đảng thực sự là người dìu dắt những nhà thơ, nhà văn chúng tôi cùng nhân dân Việt Nam anh hùng tiến lên trên con đường xây dựng một nước Việt Nam “công nghiệp hóa, hiện đại hóa
theo hướng hiện đại”.

Biên Hòa, những ngày Kỷ niệm 40 năm dất nước     độc lập, thống nhất toàn vẹn non sông.
                                                                Nhà thơ Xuân Bảo
(Bài viết xong lúc 1 giờ sáng ngày 23/4/2015)
         

          

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

141D. Bắc Hà ký sự (Phần 4)

                          BẮC HÀ KÝ SỰ (Phần 4)
Xuân Bảo
1.     ĐƯỜNG LÊN XỨ ĐOÀI.

Sáng ngày 10 tháng 3, Thúy Ngọc lên nhà bác Nguyễn Thị Ngọc Bích-người con gái cả của ông bà Tân Việt - mượn chiếc xe du lịch của con gái bác, tên là Vũ Ngọc Phượng để đi Đường Lâm.

Nhắc đến Ngọc Bích, hoa khôi nức tiếng một thời khi thủ đô mới được giải phóng (10/10/1954), dân Hà Nội không ai là không biết cái đám cưới “20 triệu đồng” lúc bấy giờ. Soạn giả Trần Huyền Trân có vở cải lương “Ngược chiều”nói về sự kiện này.Ông Hiền Nhân,chủ bút báo Thời Mới cho đăng phóng sự nhiều kỳ (feuilletont) “18 ngày trăng mật” tường thuật chi tiết cuộc tình giữa một “cậu ấm kháng chiến” và tiểu thư khuê các con nhà tư sản Tân Việt.
Ra khỏi ô Cầu Giấy, thẳng Quốc lộ 32 một mạch về Xứ Đoài Sơn Tây.Ở miền Bắc, địa danh Đoài có rất nhiều nơi. Đoài có nghĩa là phía tây.Người ta thường nói: Trai thôn Đông lấy gái thôn Đoài.Trong thơ ca lại hay dùng: Trăng kia đã gác non đoài. Chữ Đoài này trở thành danh từ chung.
Dãy núi Ba Vì cũng ở về phía Đoài của kinh thành Thăng Long-Hà Nội.Trong “tứ bất tử”của kinh đô Đại Việt thì Tản Viên Sơn Thánh là một trong tứ bất tử đó. Vị Thần Núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi Việt Nam, nẳm ở phía tây. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai. Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng nằm ở phía bắc, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ), tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân và sự giàu có sung túc. Liễu Hạnh công chúa hay Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Liễu Hạnh tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng văn thơ.
 Xe qua những địa danh mà những năm sống ở Hà Nội tôi đã từng đặt chân đến.Những Nhổn, Gạch, Chẽ… và nhất là làng Phượng Cách, Quốc Oai - nơi những năm chống chiến tranh phá hoại miền bắc cuả giặc Mỹ, nhà tôi và các cháu Triệu Quang, Thúy Ngọc, Thúy Hương sơ tán.Nơi có Chùa Thầy đã từng là nơi đóng đại bản doanh của Đài Tiếng nói Việt Nam trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến chống Pháp.

2.  ĐẾN SƠN TÂY, NHỚ QUANG DŨNG.

Bất giác tôi nhớ về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ như một khúc ca bi tráng: “…Rải rác biên cương mồ viễn xứ/Chiến trường đi chẳng tiếc đời xuân/Áo bào thay chiếu, anh về đất/Sông Mã gầm lên khúc độc hành…”
Tự nhiên tôi thấy nhớ Quang Dũng da diết, nhớ lớp nhà thơ đàn anh khi bước vào trận chiến trong túi chỉ có những mẩu bút chì và những tờ giấy vàng ố.Trên vai chỉ có cái ruột tượng gạo lép kẹp và chiếc áo trấn thủ màu nâu, chống chọi cả chín mùa mưa nắng, rét buốt.Quang Dũng còn có bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây, một bài thơ buồn nói về chiến tranh. Trong Đôi mắt người Sơn Tây có những câu đau đến xé lòng “…Từ độ thu về hoang bóng giặc/Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn/Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ/Em có bao giờ lệ chứa chan…”
 Hồi đó hầu hết đồng bào và cán bộ kháng chiến đều thuộc và nhớ đến Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Núi Đôi của Vũ Cao…
 Nhà thơ Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, trước thuộc tỉnh Hà Đông nay thì về Hà Nội.Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài.Ông viết truyện ngắn, kịch, vẽ tranh sơn dầu, sáng tác bài hát và giọng hát rất hay.Nhưng dấu ấn để lại cho cuộc đời của ông là thơ. Đó là những bài Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ, Quán bên đường và Lính râu ria..
 Tôi còn nhớ những năm sau giải phóng thủ đô (10 tháng 10 năm 1954),Hà Nội bước vào ba năm đầu thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa. Trên văn đàn xuất hiện những tác phẩm văn học như Lời Mẹ dặn, thơ của Phùng Quán. Đống rác cũ, truyện của Minh Hoàng. Phất, tiểu thuyết của Bùi Huy Phồn, Ông Năm Chuột, truyện của Phan Khôi, Nhất định thắng (thơ) và Người người lớp lớp (tiểu thuyết) của Trần Dần…Hà Nội xuất hiện tờ báo Nhân Văn do học giả Phan Khôi làm chủ nhiệm, Trần Duy làm thư ký tòa soạn, nhà xuất bản Minh Đức (do Trần Thiếu Bảo) xuất bản. Nhà in Công tư hợp doanh Minh Sang in ấn. Ban biên tập gồm Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Hoàng Cầm và Lê Đạt… Báo Nhân Văn ra được 5 số thì đóng cửa.Nhà thơ Quang Dũng được liệt vào danh sách nhóm Nhân Văn – Giai phẩm, được đưa đi chỉnh huấn.
 Tôi còn nhớ khi đó các nhà phê bình, có khi không phải là nhà lý luận phê bình cũng góp phần phê phán bài thơ Tây Tiến. Bởi vì Tây Tiến có những câu được cho là tiểu tư sản như: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”. Sau vụ Nhân Văn, Quang Dũng lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Ông mất ngày 23 tháng 10 năm 1988 tại bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội trong âm thầm lặng lẽ, sau một thời gian dài đau ốm, hưởng thọ 67 tuổi.
                                                ***
Thấy vẻ mặt trầm ngâm của tôi, Thúy Ngọc nhắc mẹ đọc lại bài vè Cô gái Sơn Tây cho vui. Sơn Tây là quê của bà bạn thân của nhà tôi tên là Nguyễn Thị Xuân, năm nay đã hơn 77 tuổi. Bà lấy chồng là bộ đội miền Nam tập kết, người gốc Bến Tre.Cả hai vợ chồng được điều về Đồng Nai công tác từ những năm đầu giải phóng miền Nam.Ông Tư Thảng, chồng bà đã mất. Bà Xuân có hai người con trai. Người con đầu đã có gia đình. Người con thứ hai tính tình dở dở ương ương, năm nay đã trên bốn chục tuổi vẫn chưa có vợ. Bà Xuân hiện sống với người con trai thứ hai ở Biên Hòa. Cậu con thứ hai này không nghề nghiệp, không công ăn việc làm. Hai mẹ con sống  với đồng lương hưu ít ỏi của bà,chi dùng cho cuộc sống hàng ngày. Thỉnh thoảng cậu Thăng, hiện sống ở thị xã Sơn Tây, em ruột bà Xuân gửi vào phụ giúp cho chị dăm ba triệu. Nhà thì đi ở nhờ.
Tôi nhắc nhà tôi: Bà có nhớ bài vè tả hết chỗ chê “Cô gái Sơn Tây”không? Nhà tôi đọc không sót một câu làm mọi người trên xe được một mẻ cười. Bắt đầu là câu: Cô gái Sơn Tây, yếm thủng tày dần/Răng đen hạt nhót chân đi cù nèo/Tóc rễ tre, chải lược bồ cào/Xù xì da cóc, hắc lào tứ tung… Và đoạn kết có những câu: Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa/Giở mình một cái gãy ba thang giường. Xe chúng tôi không ghé thị xã, không ghé Thành cổ Sơn Tây, không ghé chùa Và, đi thẳng đến chùa Mía.

3.  LÀNG MÔNG PHỤ THỜ THÁNH TẢN VIÊN SƠN

 Anh Quách Văn Thêm, người gốc làng Cam Thịnh, nay đổi là thôn Văn Minh,  chồng chị Tân đón chúng tôi ở đầu làng Mông Phụ. Mông Phụ là một trong 9 làng của xã Đường Lâm cổ gồm Đoài Giáp, Đông Sàng, Cam Thịnh, Cam Lâm, Mông Phụ, (5 làng này được Nhà nước xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia) và 4 làng khác là Hà Tân, Hưng Thịnh, Phụ Khang và Văn Miếu.Nói đến Đường Lâm người ta thường liên tưởng đến địa danh “Kẻ Mía”, “Một ấp hai vua”.
Xe dừng trước cổng làng Mông Phụ. Ở đây Ban Quản lý Di tích có đặt một cái bàn bán vé tham quan. Anh Thêm giải thích: Đây là gia đình người bạn ở trong Nam ra thăm chúng tôi.Người bán vé và mấy anh dân quân mời xe qua.
Tôi thấy cổng làng Mông Phụ khác với cổng làng Ước Lễ bởi vì cổng rất rộng, xe tải có thể đi lại dễ dàng. Cổng được làm theo kiểu “Thượng gia, hạ môn”, trên là nhà dưới là cổng. Cổng được xây bít đốc, có trụ đỡ mái và đầu nóc, bên trong có khung gỗ, kèo, hoành, rui, trên mái lợp ngói.Thượng lương có ghi dòng chữ khắc vào gỗ: “Thế hữu hưng nghi đại” có nghĩa là Cuộc đời muốn được hưng thịnh cần phải thích nghi. Đây là cái cổng làng cổ duy nhất còn lại trên đất nước ta.
Vào làng Mông Phụ là ta đã bước vào làng cổ Đường Lâm, địa danh có vị thế đắc địa theo thế “Tọa sơn, vọng thủy” tức là lưng tựa vào núi Tản, mặt ngoảnh ra sông Hồng.Đây cũng là vùng “Tứ giác nước” được bao bọc bởi sông Đà, sông Tích – một chi lưu nối với sông Đà, sông Đáy.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Kiệm, sinh năm 1949, quê ở xã Phong Vân, huyện Ba Vì là người sáng lập và là Chủ tịch Hội Người Họ Nguyễn Việt Nam vừa cho ra đời cuốn sách Lịch sử Họ Nguyễn Việt Nam.(Nhà Xuất bản Văn hóa-Thông tin,in xong và nộp lưu chiểu quý 3 năm 2014).Chương I, sách nói rõ: ÔNG TỔ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM LÀ ĐỨC THÁNH TẢN VIÊN có tên là NGUYỄN TUẤN. Ngài Nguyễn Tuấn được nhân dân tôn làm Tản Viên Sơn Thánh là con của ông Nguyễn Cao Hạnh và bà Đinh Thị Đen, quê ở động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây, nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Và theo truyền thuyết thì Sơn Tinh là người con rể của vua Hùng thứ 18, chồng của Mỵ Nương, người đã chiến thắng Thủy tinh.Hiện nay vùng Ba Vì có rất nhiều nơi lập đình và đền thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn, trong đó đình Mông Phụ ở làng cổ Đường Lâm là bề thế nhất.
Làng Mông Phụ có các xóm Đình Giang, xóm Hè, xóm Sủi, xóm Chim, xóm Sải, xóm Trại và xóm Trung Hậu. Đình Mông Phụ nằm ở vị trí cao nhất. Điều đáng quý là trải bao thăng trầm của lịch sử, của thời gian, của thiên tai và chiến tranh triền miên mà hiện nay đình vẫn còn gần như nguyên vẹn. Đình chính không có tường vách ngăn che.Tất cả đều để trống, chỉ có một lan can có chấn song hình con triện bao quanh ba mặt tường đến tường hậu cung.Đình được người xưa xây theo kiểu chữ Công (Hán tự). Hai bên tả hữu đình có hai cái giếng, dân dã gọi đây là hai con mắt rồng. Đình có sàn ở hai gian bên. Gian giữa có cửa võng hình lưỡng long chầu nguyệt sơn son thếp vàng. Một ban thờ lớn trang trí bằng tượng rồng, hổ phù ngậm chữ Thọ (Hán tự).Các họa tiết mây được điểm xuyết rất nhẹ nhàng, tinh xảo.Hậu cung chỉ có sườn gỗ bào trơn, có tường xây kín ba mặt. Bệ thờ có ngai và bài vị thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn.

4. CHÙA MÍA – SÙNG NGHIÊM TỰ

Chùa Mía, tên chữ là Sùng Nghiêm Tự tọa lạc trên gò đất cao thuộc thôn Đông Sàng. Làng cổ Đường Lâm có tới 36 quả đồi.Chùa được xây từ xa xưa, đến bây giờ người đời và thư tịch cổ cũng không biết được chùa xây vào thời gian nào? Vào đầu thế kỷ thứ 17, có người con gái đất Mía, đẹp người đẹp nết được Thanh Đô Vương Trịnh Tráng vời vào cung và được phong làm Nguyên phi. Đó là bà Nguyễn Thị Ngọc Dong (Ngọc Diệu, Ngọc Dao). Sống trong nhung lụa - nơi lầu son gác tía – nhưng Bà đã không quên nguồn cội, nơi quê hương nghèo khó của mình. Bà đã phát tâm, đứng ra hưng công xây dựng chùa trên nền chùa cũ. Bà cũng cho mở Bến đò Mía, Chợ Mía.
Người xưa cho rằng chợ và chùa là một cặp phạm trù thống nhất.Chợ là nơi phàm trần của con người mà bản tính tham sân si là chủ đạo.Chùa là cõi Niết bàn trên cao với từ bi hỷ xả, phổ độ chúng sinh là cội nguồn của Đạo lợi Phật từ tâm.Ở Việt Nam chúng ta có nhiếu lắm nơi chợ gắn liền bên chùa.
Trước cửa chùa là một cái chợ quê, bán đủ thức ăn vật dụng cần cho con người. Đặc sản của vùng này là bánh tẻ bột gạo (gạo quê mùa mới và thịt lợn ỉ dân nuôi trong vùng). Nhân vẫn là thịt lợn băm trộn mộc nhĩ, hành lá thái nhỏ, hành củ chưng giòn. Khác với Hà Nội và nhiều nơi khác, bánh ở đây được gói trong lá dong, dài trên 20 phân, buộc dây cuộn theo chiều dài chiếc bánh. Có rất nhiều hàng bánh tẻ nấu bánh tại chỗ. Khách hành hương về đây ai cũng mua ít nhiều bánh tẻ này làm quà.
Cả nhà chúng tôi vào dâng hương chùa Mía. Qua khỏi cổng, phía tay phải là tòa Bảo tháp cửu phẩm liên hoa (chín tầng hoa sen).Mỗi tòa tháp xòe hình đầu rồng cong vút, chạm trổ công phu.Từ trong lòng tháp,khách thập phương có thể đi ra ngoài bằng 8 cửa vòng quanh thân tháp.
Cuối đường gạch là Bát nhã môn.Một khoảng sân rộng, trên đó có một non bộ thả sen. Nhà Tổ ngự bên hữu sân. Bước lên 7 bậc thềm là đến nhà Tiền đường. Nhà Tiền đường có những cột gỗ to tròn hơn vòng tay người ôm. Theo hướng thượng điện nhìn ra, bên trái là ban thờ Tam tòa Thánh mẫu. Hai bên ban thờ này là Lầu Cô, Lầu Cậu. Bên phải còn lưu giữ được tấm bia lớn đặt trên lưng rùa. Bước qua đường gạch thấp giữa hai giọt ranh là đến Tòa Đại Hùng Bảo Điện.
Cửa chùa nhìn về hướng nam, đối diện với Đình Tổng thờ Bố Cái Đại vương. Chùa Mía hiện thờ 287 pho tượng lớn nhỏ gồm 174 tượng Thổ, 107 tượng Mộc và 6 tượng đồng. Mỗi pho tượng đều mang dáng vẻ đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc. Các pho tượng ở đây lấy đề tài từ sự tích nhà Phật nhưng vẫn thể hiện rất hiện thực, rất sinh động, đậm nét con người Việt Nam.

2.     MỘT VÙNG ĐỊA LINH NHÂN KIỆT
.
Có thể nói làng cổ Đường Lâm là vùng đất địa linh nhân kiệt. Nơi đây đã sinh ra cho đất nước nhiều anh hùng tuấn kiệt, góp phần làm rạng rỡ non sông. Đường Lâm là vùng đất sinh vua, sinh chúa, sinh hậu, sinh mẫu, sinh quan văn, tướng võ danh thơm lưu giữ ngàn đời. Đây không những là quê của hai vị vua anh hùng dân tộc Phùng Hưng và Ngô Quyền mà xa hơn nữa, từ những năm đầu công nguyên, nơi đây còn là quê hương của Bà Man Thiện, thân mẫu của Hai Bà Trưng, người làng Nam Nguyễn,dưới chân núi Tản Ba Vì. Nhân dân địa phương lập đền thờ Bà Man Thiện đặt ở đây được gọi là Miếu Mèn. Đây cũng  là nơi sinh của sứ thần Giang Văn Minh (1582-1639),một nhà ngoại giao yêu nước; là quê của Khâm sai đại thần,phó thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phan Kế Toại; là nhà văn, Phó bảng  Giá Sơn Kiều Oánh Mậu…
                                                          ***
Bà Man Thiện vừa là mẹ vừa là nữ tướng của Hai Bà Trưng.Bà cùng với 10 nữ tướng khác đã giúp Hai Bà thu phục giang sơn, trả thù nhà đền nợ nước.Theo sử gia Lê Văn Hưu: Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. Việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay.
Trưng Trắc là vị Nữ hoàng đầu tiên của Đại Việt, theo lịch công nguyên là vào năm 40 – 43 . Sau 3 năm tự chủ nước ta lại rơi vào tay nhà Hán.
 Để phục thù, Nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Mã Viện sang đánh chiếm lại nước ta. Hắn dựng cột đồng với lời thề: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Châu diệt).
***.
Khí thiêng sông núi hội tụ nơi đây phát phúc và tỏa rạng sinh 2 vị anh hùng giải phóng dân tộc: Người đời thường ca tụng nơi này là nơi “một ấp hai vua”. Nhà Phùng Hưng (791- 800), người làng Đường Lâm, chiến đấu ngoan cường ròng rã 20 năm chống lại nhà Đường, được phong là Bố Cái Đại vương. Con trai Phùng An nối ngôi được 2 năm thì bị tướng vua Đường là Triệu Xương đánh bại. 139 năm sau cũng tại Đường Lâm này xuất hiện một vị cứu tinh dân tộc. Đó là Nhà Ngô (939 -965). Ngô Quyền là nha tướng đồng thời là con rể của Dương Đình Nghệ. Con gái họ Dương là Dương Thị Nga, em của Dương Tam Kha được triều đình Tiền Ngô Vương lập làm hoàng hậu. Sau khi giết tên loạn thần Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền tự lập làm vua. Ngô Quyền là ông vua có sức mạnh phi thường, có tài “nhấc vạc giơ cao”.Dưới sự chỉ huy tài giỏi của Ngô Vương Quyền,  trận Bạch Đằng Giang, với hàng vạn cọc nhọn bịt sắt đã nhấn chìm hàng ngàn chiến thuyền của quân Nam Hán. Hoàng Thao, con vua Hán bị giết tại trận. Vua Hán kinh hoàng phải khóc lên và thu nhặt tàn quân về nước.
 Ngô Quyền là người đã dẹp yên thù trong giặc ngoài, mở đầu thời kỳ tự chủ sau ngót ngàn năm Bắc thuộc.

                                                     ***
Và câu chuyện Cột đồng Mã Viện này lại được vua Hy Tông nhà Minh, (sau gần 1700 năm) ra vế xuất cho Thám hoa,sứ thần Giang Văn Minh:
“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”
Vế xuất này có ý nhắc lại việc Mã Viện dựng cột đồng để làm nhục sứ ta. Sứ thần Giang Văn Minh khẳng khái đối lại:
“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”
Nghĩa là:
 “Đồng trụ đến nay rêu đã phủ
Sông Đằng từ trước máu còn tươi”
Giang Văn Minh dùng điển cũ về việc quân Nguyên bại trận ở Bạch Đằng Giang để đối lại. Vua Minh nổi giận sai mổ bụng nhưng lại khen là người có tiết tháo bèn sai lấy thủy ngân ướp xác và cho ngậm nhân sâm rồi trả quan tài về nước. Khi quan tài về, vua Lê Thần Tông thân hành đến viếng và than rằng: Đi sứ không làm nhục mệnh vua thực là anh hùng thiên cổ, rồi truy tặng Tả thị lang Công bộ, tước Vinh Quận công lưu danh muôn đời.
Thật hiếm có một làng xã nào mà dấu tích lịch sử dày đặc như ở xứ Đường Lâm này! Người dân Xứ Đoài Sơn Tây rất lấy làm vinh dự và tự hào về quê hương mình.
                                                ***
Vợ chồng anh Thêm (là bạn của Thúy Ngọc) có một trang trại rộng hơn ba mẫu tại Cam Thịnh, nay có tên mới là thôn Văn Minh. Trên sườn đồi thoai thoải anh Thêm đã trồng được gần 300 cây bưởi, đã cho quả hai năm nay. Một ao cá lớn, mỗi vụ thu hoạch cũng được mươi tấn. Sau vườn bưởi có một dãy chuồng nuôi gà, có thể nuôi nhốt vài trăm con. Một ngôi nhà gần như biệt thự, đầy đủ tiện nghi.Chung quanh nhà là những luống hoa và cây cảnh. Và còn có những vạt rau xanh: cải xanh, xà lách, su hào và cây gia vị. Dọc tường rào là một dàn bầu và su su trĩu quả.
Anh Thêm là thượng tá công an đã nghỉ hưu. Anh chị Thêm có hai người con. Cậu con trai theo nghiệp bố, công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Cô con gái đang du học nước ngoài.




Anh chị đã thết chúng tôi một bữa cơm thịnh soạn bằng vật phẩm từ “cây nhà lá vườn”. Một con cá trắm nặng gần 4 ký được hấp cuốn bánh đa, một con gà đồi da vàng ươm luộc chặt miếng lớn rắc lá chanh.Rau sống và rau gia vị như húng, mùi, rau răm.tía tơ, kinh giới là những thứ có sẵn trong vườn. Anh Thêm mang ra một hũ rượu ngâm ba kích và mấy chai rượu ngoại. Trong bữa cơm, chúng tôi nghe anh chị muốn nhượng lại cái trang trại này để vào Sài Gòn sống với các con. Nhiều người ở đây cho biết,do đường sá bây giờ thuận lợi và nhất là không khí mát lành nên dân Hà Nội và nhất là các nhà giàu đã tìm lên Ba Vi để tậu đất, mua vườn cây xây dựng khu nghỉ dưỡng cuối tuần.
Đã quá ngọ, chúng tôi tạm biệt anh chị Thêm, tạm biệt một vùng quê yên ả và hẹn gặp lại Xứ Đoài – nơi có chùa Mía linh thiêng và miền đất “một ấp hai vua” đã để lại trong lòng chúng tôi những kỷ niệm đẹp.
Xe chúng tôi không về theo đường Quốc lộ 32 mà chạy thẳng ra cầu Vĩnh Thịnh bắc qua sông Hồng về Phúc Yên, xuống Sóc Sơn vào sân bay Nội Bài.
                                                ***
Chuyến bay chiều của Jetstar đưa chúng tôi trở lại Sài Gòn. Máy bay hạ cánh lúc 19 giờ. Tất cả những cái rét của gió mùa Đông bắc, những ẩm ướt của trời nồm, những mưa dầm gió bấc xin gửi lại miền bắc thân thương. Nhưng kỷ niệm chuyến về Bắc lần này đã lưu lại dấu ấn không thể nào quên trong lòng chúng tôi. Bởi vì ở đó là quê ngoại làng nghề giò chả Ước Lễ, một làng quê đã hơn hai ngàn năm tuổi;  là miền đất Phật linh thiêng Yên Tử, nơi phát tích của Dòng Thiền phái Trúc Lâm của một vị vua anh minh dù khi tuổi đời chưa cao lắm đã biết lui về ở ngôi Thái thượng hoàng, tin vào lớp trẻ có thể đảm đương việc nước;  là Xứ Đoài Sơn Tây – nơi đất “một ấp hai vua” và Kẻ Mía và Miếu Mèn - nơi  thờ thân mẫu Trưng Trắc, Trưng Nhị. Đây là vùng đất sinh vua, sinh hậu, sinh chúa, rất nhiều văn quan võ tướng. Đường Lâm đậm nét một làng cổ, vọng tiếng chuông ngân dưới bóng núi Ba Vì hùng vĩ.Và có thể nào không nhắc tới Hà Nội, thủ đô Hòa bình, của Lương tâm và Phẩm giá con người.Nơi được coi là Trái tim của Tổ quốc Việt Nam. Một ngàn năm đã đi qua và sẽ có một ngàn năm, hai ngàn năm nữa Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội mãi mãi trường tồn.

Cái ký sự này được viết xong lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng Tư năm 2015, đúng vào giờ khắc lịch sử 40 năm trước (30 tháng Tư năm 1975) giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Non sông Việt Nam thu về một mối.
                                                                   Nhà thơ Xuân Bảo