Trang

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

141D. Bắc Hà ký sự (Phần 4)

                          BẮC HÀ KÝ SỰ (Phần 4)
Xuân Bảo
1.     ĐƯỜNG LÊN XỨ ĐOÀI.

Sáng ngày 10 tháng 3, Thúy Ngọc lên nhà bác Nguyễn Thị Ngọc Bích-người con gái cả của ông bà Tân Việt - mượn chiếc xe du lịch của con gái bác, tên là Vũ Ngọc Phượng để đi Đường Lâm.

Nhắc đến Ngọc Bích, hoa khôi nức tiếng một thời khi thủ đô mới được giải phóng (10/10/1954), dân Hà Nội không ai là không biết cái đám cưới “20 triệu đồng” lúc bấy giờ. Soạn giả Trần Huyền Trân có vở cải lương “Ngược chiều”nói về sự kiện này.Ông Hiền Nhân,chủ bút báo Thời Mới cho đăng phóng sự nhiều kỳ (feuilletont) “18 ngày trăng mật” tường thuật chi tiết cuộc tình giữa một “cậu ấm kháng chiến” và tiểu thư khuê các con nhà tư sản Tân Việt.
Ra khỏi ô Cầu Giấy, thẳng Quốc lộ 32 một mạch về Xứ Đoài Sơn Tây.Ở miền Bắc, địa danh Đoài có rất nhiều nơi. Đoài có nghĩa là phía tây.Người ta thường nói: Trai thôn Đông lấy gái thôn Đoài.Trong thơ ca lại hay dùng: Trăng kia đã gác non đoài. Chữ Đoài này trở thành danh từ chung.
Dãy núi Ba Vì cũng ở về phía Đoài của kinh thành Thăng Long-Hà Nội.Trong “tứ bất tử”của kinh đô Đại Việt thì Tản Viên Sơn Thánh là một trong tứ bất tử đó. Vị Thần Núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi Việt Nam, nẳm ở phía tây. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai. Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng nằm ở phía bắc, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ), tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân và sự giàu có sung túc. Liễu Hạnh công chúa hay Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Liễu Hạnh tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng văn thơ.
 Xe qua những địa danh mà những năm sống ở Hà Nội tôi đã từng đặt chân đến.Những Nhổn, Gạch, Chẽ… và nhất là làng Phượng Cách, Quốc Oai - nơi những năm chống chiến tranh phá hoại miền bắc cuả giặc Mỹ, nhà tôi và các cháu Triệu Quang, Thúy Ngọc, Thúy Hương sơ tán.Nơi có Chùa Thầy đã từng là nơi đóng đại bản doanh của Đài Tiếng nói Việt Nam trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến chống Pháp.

2.  ĐẾN SƠN TÂY, NHỚ QUANG DŨNG.

Bất giác tôi nhớ về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ như một khúc ca bi tráng: “…Rải rác biên cương mồ viễn xứ/Chiến trường đi chẳng tiếc đời xuân/Áo bào thay chiếu, anh về đất/Sông Mã gầm lên khúc độc hành…”
Tự nhiên tôi thấy nhớ Quang Dũng da diết, nhớ lớp nhà thơ đàn anh khi bước vào trận chiến trong túi chỉ có những mẩu bút chì và những tờ giấy vàng ố.Trên vai chỉ có cái ruột tượng gạo lép kẹp và chiếc áo trấn thủ màu nâu, chống chọi cả chín mùa mưa nắng, rét buốt.Quang Dũng còn có bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây, một bài thơ buồn nói về chiến tranh. Trong Đôi mắt người Sơn Tây có những câu đau đến xé lòng “…Từ độ thu về hoang bóng giặc/Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn/Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ/Em có bao giờ lệ chứa chan…”
 Hồi đó hầu hết đồng bào và cán bộ kháng chiến đều thuộc và nhớ đến Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Núi Đôi của Vũ Cao…
 Nhà thơ Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, trước thuộc tỉnh Hà Đông nay thì về Hà Nội.Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài.Ông viết truyện ngắn, kịch, vẽ tranh sơn dầu, sáng tác bài hát và giọng hát rất hay.Nhưng dấu ấn để lại cho cuộc đời của ông là thơ. Đó là những bài Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ, Quán bên đường và Lính râu ria..
 Tôi còn nhớ những năm sau giải phóng thủ đô (10 tháng 10 năm 1954),Hà Nội bước vào ba năm đầu thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa. Trên văn đàn xuất hiện những tác phẩm văn học như Lời Mẹ dặn, thơ của Phùng Quán. Đống rác cũ, truyện của Minh Hoàng. Phất, tiểu thuyết của Bùi Huy Phồn, Ông Năm Chuột, truyện của Phan Khôi, Nhất định thắng (thơ) và Người người lớp lớp (tiểu thuyết) của Trần Dần…Hà Nội xuất hiện tờ báo Nhân Văn do học giả Phan Khôi làm chủ nhiệm, Trần Duy làm thư ký tòa soạn, nhà xuất bản Minh Đức (do Trần Thiếu Bảo) xuất bản. Nhà in Công tư hợp doanh Minh Sang in ấn. Ban biên tập gồm Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Hoàng Cầm và Lê Đạt… Báo Nhân Văn ra được 5 số thì đóng cửa.Nhà thơ Quang Dũng được liệt vào danh sách nhóm Nhân Văn – Giai phẩm, được đưa đi chỉnh huấn.
 Tôi còn nhớ khi đó các nhà phê bình, có khi không phải là nhà lý luận phê bình cũng góp phần phê phán bài thơ Tây Tiến. Bởi vì Tây Tiến có những câu được cho là tiểu tư sản như: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”. Sau vụ Nhân Văn, Quang Dũng lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Ông mất ngày 23 tháng 10 năm 1988 tại bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội trong âm thầm lặng lẽ, sau một thời gian dài đau ốm, hưởng thọ 67 tuổi.
                                                ***
Thấy vẻ mặt trầm ngâm của tôi, Thúy Ngọc nhắc mẹ đọc lại bài vè Cô gái Sơn Tây cho vui. Sơn Tây là quê của bà bạn thân của nhà tôi tên là Nguyễn Thị Xuân, năm nay đã hơn 77 tuổi. Bà lấy chồng là bộ đội miền Nam tập kết, người gốc Bến Tre.Cả hai vợ chồng được điều về Đồng Nai công tác từ những năm đầu giải phóng miền Nam.Ông Tư Thảng, chồng bà đã mất. Bà Xuân có hai người con trai. Người con đầu đã có gia đình. Người con thứ hai tính tình dở dở ương ương, năm nay đã trên bốn chục tuổi vẫn chưa có vợ. Bà Xuân hiện sống với người con trai thứ hai ở Biên Hòa. Cậu con thứ hai này không nghề nghiệp, không công ăn việc làm. Hai mẹ con sống  với đồng lương hưu ít ỏi của bà,chi dùng cho cuộc sống hàng ngày. Thỉnh thoảng cậu Thăng, hiện sống ở thị xã Sơn Tây, em ruột bà Xuân gửi vào phụ giúp cho chị dăm ba triệu. Nhà thì đi ở nhờ.
Tôi nhắc nhà tôi: Bà có nhớ bài vè tả hết chỗ chê “Cô gái Sơn Tây”không? Nhà tôi đọc không sót một câu làm mọi người trên xe được một mẻ cười. Bắt đầu là câu: Cô gái Sơn Tây, yếm thủng tày dần/Răng đen hạt nhót chân đi cù nèo/Tóc rễ tre, chải lược bồ cào/Xù xì da cóc, hắc lào tứ tung… Và đoạn kết có những câu: Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa/Giở mình một cái gãy ba thang giường. Xe chúng tôi không ghé thị xã, không ghé Thành cổ Sơn Tây, không ghé chùa Và, đi thẳng đến chùa Mía.

3.  LÀNG MÔNG PHỤ THỜ THÁNH TẢN VIÊN SƠN

 Anh Quách Văn Thêm, người gốc làng Cam Thịnh, nay đổi là thôn Văn Minh,  chồng chị Tân đón chúng tôi ở đầu làng Mông Phụ. Mông Phụ là một trong 9 làng của xã Đường Lâm cổ gồm Đoài Giáp, Đông Sàng, Cam Thịnh, Cam Lâm, Mông Phụ, (5 làng này được Nhà nước xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia) và 4 làng khác là Hà Tân, Hưng Thịnh, Phụ Khang và Văn Miếu.Nói đến Đường Lâm người ta thường liên tưởng đến địa danh “Kẻ Mía”, “Một ấp hai vua”.
Xe dừng trước cổng làng Mông Phụ. Ở đây Ban Quản lý Di tích có đặt một cái bàn bán vé tham quan. Anh Thêm giải thích: Đây là gia đình người bạn ở trong Nam ra thăm chúng tôi.Người bán vé và mấy anh dân quân mời xe qua.
Tôi thấy cổng làng Mông Phụ khác với cổng làng Ước Lễ bởi vì cổng rất rộng, xe tải có thể đi lại dễ dàng. Cổng được làm theo kiểu “Thượng gia, hạ môn”, trên là nhà dưới là cổng. Cổng được xây bít đốc, có trụ đỡ mái và đầu nóc, bên trong có khung gỗ, kèo, hoành, rui, trên mái lợp ngói.Thượng lương có ghi dòng chữ khắc vào gỗ: “Thế hữu hưng nghi đại” có nghĩa là Cuộc đời muốn được hưng thịnh cần phải thích nghi. Đây là cái cổng làng cổ duy nhất còn lại trên đất nước ta.
Vào làng Mông Phụ là ta đã bước vào làng cổ Đường Lâm, địa danh có vị thế đắc địa theo thế “Tọa sơn, vọng thủy” tức là lưng tựa vào núi Tản, mặt ngoảnh ra sông Hồng.Đây cũng là vùng “Tứ giác nước” được bao bọc bởi sông Đà, sông Tích – một chi lưu nối với sông Đà, sông Đáy.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Kiệm, sinh năm 1949, quê ở xã Phong Vân, huyện Ba Vì là người sáng lập và là Chủ tịch Hội Người Họ Nguyễn Việt Nam vừa cho ra đời cuốn sách Lịch sử Họ Nguyễn Việt Nam.(Nhà Xuất bản Văn hóa-Thông tin,in xong và nộp lưu chiểu quý 3 năm 2014).Chương I, sách nói rõ: ÔNG TỔ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM LÀ ĐỨC THÁNH TẢN VIÊN có tên là NGUYỄN TUẤN. Ngài Nguyễn Tuấn được nhân dân tôn làm Tản Viên Sơn Thánh là con của ông Nguyễn Cao Hạnh và bà Đinh Thị Đen, quê ở động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây, nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Và theo truyền thuyết thì Sơn Tinh là người con rể của vua Hùng thứ 18, chồng của Mỵ Nương, người đã chiến thắng Thủy tinh.Hiện nay vùng Ba Vì có rất nhiều nơi lập đình và đền thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn, trong đó đình Mông Phụ ở làng cổ Đường Lâm là bề thế nhất.
Làng Mông Phụ có các xóm Đình Giang, xóm Hè, xóm Sủi, xóm Chim, xóm Sải, xóm Trại và xóm Trung Hậu. Đình Mông Phụ nằm ở vị trí cao nhất. Điều đáng quý là trải bao thăng trầm của lịch sử, của thời gian, của thiên tai và chiến tranh triền miên mà hiện nay đình vẫn còn gần như nguyên vẹn. Đình chính không có tường vách ngăn che.Tất cả đều để trống, chỉ có một lan can có chấn song hình con triện bao quanh ba mặt tường đến tường hậu cung.Đình được người xưa xây theo kiểu chữ Công (Hán tự). Hai bên tả hữu đình có hai cái giếng, dân dã gọi đây là hai con mắt rồng. Đình có sàn ở hai gian bên. Gian giữa có cửa võng hình lưỡng long chầu nguyệt sơn son thếp vàng. Một ban thờ lớn trang trí bằng tượng rồng, hổ phù ngậm chữ Thọ (Hán tự).Các họa tiết mây được điểm xuyết rất nhẹ nhàng, tinh xảo.Hậu cung chỉ có sườn gỗ bào trơn, có tường xây kín ba mặt. Bệ thờ có ngai và bài vị thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn.

4. CHÙA MÍA – SÙNG NGHIÊM TỰ

Chùa Mía, tên chữ là Sùng Nghiêm Tự tọa lạc trên gò đất cao thuộc thôn Đông Sàng. Làng cổ Đường Lâm có tới 36 quả đồi.Chùa được xây từ xa xưa, đến bây giờ người đời và thư tịch cổ cũng không biết được chùa xây vào thời gian nào? Vào đầu thế kỷ thứ 17, có người con gái đất Mía, đẹp người đẹp nết được Thanh Đô Vương Trịnh Tráng vời vào cung và được phong làm Nguyên phi. Đó là bà Nguyễn Thị Ngọc Dong (Ngọc Diệu, Ngọc Dao). Sống trong nhung lụa - nơi lầu son gác tía – nhưng Bà đã không quên nguồn cội, nơi quê hương nghèo khó của mình. Bà đã phát tâm, đứng ra hưng công xây dựng chùa trên nền chùa cũ. Bà cũng cho mở Bến đò Mía, Chợ Mía.
Người xưa cho rằng chợ và chùa là một cặp phạm trù thống nhất.Chợ là nơi phàm trần của con người mà bản tính tham sân si là chủ đạo.Chùa là cõi Niết bàn trên cao với từ bi hỷ xả, phổ độ chúng sinh là cội nguồn của Đạo lợi Phật từ tâm.Ở Việt Nam chúng ta có nhiếu lắm nơi chợ gắn liền bên chùa.
Trước cửa chùa là một cái chợ quê, bán đủ thức ăn vật dụng cần cho con người. Đặc sản của vùng này là bánh tẻ bột gạo (gạo quê mùa mới và thịt lợn ỉ dân nuôi trong vùng). Nhân vẫn là thịt lợn băm trộn mộc nhĩ, hành lá thái nhỏ, hành củ chưng giòn. Khác với Hà Nội và nhiều nơi khác, bánh ở đây được gói trong lá dong, dài trên 20 phân, buộc dây cuộn theo chiều dài chiếc bánh. Có rất nhiều hàng bánh tẻ nấu bánh tại chỗ. Khách hành hương về đây ai cũng mua ít nhiều bánh tẻ này làm quà.
Cả nhà chúng tôi vào dâng hương chùa Mía. Qua khỏi cổng, phía tay phải là tòa Bảo tháp cửu phẩm liên hoa (chín tầng hoa sen).Mỗi tòa tháp xòe hình đầu rồng cong vút, chạm trổ công phu.Từ trong lòng tháp,khách thập phương có thể đi ra ngoài bằng 8 cửa vòng quanh thân tháp.
Cuối đường gạch là Bát nhã môn.Một khoảng sân rộng, trên đó có một non bộ thả sen. Nhà Tổ ngự bên hữu sân. Bước lên 7 bậc thềm là đến nhà Tiền đường. Nhà Tiền đường có những cột gỗ to tròn hơn vòng tay người ôm. Theo hướng thượng điện nhìn ra, bên trái là ban thờ Tam tòa Thánh mẫu. Hai bên ban thờ này là Lầu Cô, Lầu Cậu. Bên phải còn lưu giữ được tấm bia lớn đặt trên lưng rùa. Bước qua đường gạch thấp giữa hai giọt ranh là đến Tòa Đại Hùng Bảo Điện.
Cửa chùa nhìn về hướng nam, đối diện với Đình Tổng thờ Bố Cái Đại vương. Chùa Mía hiện thờ 287 pho tượng lớn nhỏ gồm 174 tượng Thổ, 107 tượng Mộc và 6 tượng đồng. Mỗi pho tượng đều mang dáng vẻ đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc. Các pho tượng ở đây lấy đề tài từ sự tích nhà Phật nhưng vẫn thể hiện rất hiện thực, rất sinh động, đậm nét con người Việt Nam.

2.     MỘT VÙNG ĐỊA LINH NHÂN KIỆT
.
Có thể nói làng cổ Đường Lâm là vùng đất địa linh nhân kiệt. Nơi đây đã sinh ra cho đất nước nhiều anh hùng tuấn kiệt, góp phần làm rạng rỡ non sông. Đường Lâm là vùng đất sinh vua, sinh chúa, sinh hậu, sinh mẫu, sinh quan văn, tướng võ danh thơm lưu giữ ngàn đời. Đây không những là quê của hai vị vua anh hùng dân tộc Phùng Hưng và Ngô Quyền mà xa hơn nữa, từ những năm đầu công nguyên, nơi đây còn là quê hương của Bà Man Thiện, thân mẫu của Hai Bà Trưng, người làng Nam Nguyễn,dưới chân núi Tản Ba Vì. Nhân dân địa phương lập đền thờ Bà Man Thiện đặt ở đây được gọi là Miếu Mèn. Đây cũng  là nơi sinh của sứ thần Giang Văn Minh (1582-1639),một nhà ngoại giao yêu nước; là quê của Khâm sai đại thần,phó thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phan Kế Toại; là nhà văn, Phó bảng  Giá Sơn Kiều Oánh Mậu…
                                                          ***
Bà Man Thiện vừa là mẹ vừa là nữ tướng của Hai Bà Trưng.Bà cùng với 10 nữ tướng khác đã giúp Hai Bà thu phục giang sơn, trả thù nhà đền nợ nước.Theo sử gia Lê Văn Hưu: Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. Việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay.
Trưng Trắc là vị Nữ hoàng đầu tiên của Đại Việt, theo lịch công nguyên là vào năm 40 – 43 . Sau 3 năm tự chủ nước ta lại rơi vào tay nhà Hán.
 Để phục thù, Nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Mã Viện sang đánh chiếm lại nước ta. Hắn dựng cột đồng với lời thề: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Châu diệt).
***.
Khí thiêng sông núi hội tụ nơi đây phát phúc và tỏa rạng sinh 2 vị anh hùng giải phóng dân tộc: Người đời thường ca tụng nơi này là nơi “một ấp hai vua”. Nhà Phùng Hưng (791- 800), người làng Đường Lâm, chiến đấu ngoan cường ròng rã 20 năm chống lại nhà Đường, được phong là Bố Cái Đại vương. Con trai Phùng An nối ngôi được 2 năm thì bị tướng vua Đường là Triệu Xương đánh bại. 139 năm sau cũng tại Đường Lâm này xuất hiện một vị cứu tinh dân tộc. Đó là Nhà Ngô (939 -965). Ngô Quyền là nha tướng đồng thời là con rể của Dương Đình Nghệ. Con gái họ Dương là Dương Thị Nga, em của Dương Tam Kha được triều đình Tiền Ngô Vương lập làm hoàng hậu. Sau khi giết tên loạn thần Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền tự lập làm vua. Ngô Quyền là ông vua có sức mạnh phi thường, có tài “nhấc vạc giơ cao”.Dưới sự chỉ huy tài giỏi của Ngô Vương Quyền,  trận Bạch Đằng Giang, với hàng vạn cọc nhọn bịt sắt đã nhấn chìm hàng ngàn chiến thuyền của quân Nam Hán. Hoàng Thao, con vua Hán bị giết tại trận. Vua Hán kinh hoàng phải khóc lên và thu nhặt tàn quân về nước.
 Ngô Quyền là người đã dẹp yên thù trong giặc ngoài, mở đầu thời kỳ tự chủ sau ngót ngàn năm Bắc thuộc.

                                                     ***
Và câu chuyện Cột đồng Mã Viện này lại được vua Hy Tông nhà Minh, (sau gần 1700 năm) ra vế xuất cho Thám hoa,sứ thần Giang Văn Minh:
“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”
Vế xuất này có ý nhắc lại việc Mã Viện dựng cột đồng để làm nhục sứ ta. Sứ thần Giang Văn Minh khẳng khái đối lại:
“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”
Nghĩa là:
 “Đồng trụ đến nay rêu đã phủ
Sông Đằng từ trước máu còn tươi”
Giang Văn Minh dùng điển cũ về việc quân Nguyên bại trận ở Bạch Đằng Giang để đối lại. Vua Minh nổi giận sai mổ bụng nhưng lại khen là người có tiết tháo bèn sai lấy thủy ngân ướp xác và cho ngậm nhân sâm rồi trả quan tài về nước. Khi quan tài về, vua Lê Thần Tông thân hành đến viếng và than rằng: Đi sứ không làm nhục mệnh vua thực là anh hùng thiên cổ, rồi truy tặng Tả thị lang Công bộ, tước Vinh Quận công lưu danh muôn đời.
Thật hiếm có một làng xã nào mà dấu tích lịch sử dày đặc như ở xứ Đường Lâm này! Người dân Xứ Đoài Sơn Tây rất lấy làm vinh dự và tự hào về quê hương mình.
                                                ***
Vợ chồng anh Thêm (là bạn của Thúy Ngọc) có một trang trại rộng hơn ba mẫu tại Cam Thịnh, nay có tên mới là thôn Văn Minh. Trên sườn đồi thoai thoải anh Thêm đã trồng được gần 300 cây bưởi, đã cho quả hai năm nay. Một ao cá lớn, mỗi vụ thu hoạch cũng được mươi tấn. Sau vườn bưởi có một dãy chuồng nuôi gà, có thể nuôi nhốt vài trăm con. Một ngôi nhà gần như biệt thự, đầy đủ tiện nghi.Chung quanh nhà là những luống hoa và cây cảnh. Và còn có những vạt rau xanh: cải xanh, xà lách, su hào và cây gia vị. Dọc tường rào là một dàn bầu và su su trĩu quả.
Anh Thêm là thượng tá công an đã nghỉ hưu. Anh chị Thêm có hai người con. Cậu con trai theo nghiệp bố, công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Cô con gái đang du học nước ngoài.




Anh chị đã thết chúng tôi một bữa cơm thịnh soạn bằng vật phẩm từ “cây nhà lá vườn”. Một con cá trắm nặng gần 4 ký được hấp cuốn bánh đa, một con gà đồi da vàng ươm luộc chặt miếng lớn rắc lá chanh.Rau sống và rau gia vị như húng, mùi, rau răm.tía tơ, kinh giới là những thứ có sẵn trong vườn. Anh Thêm mang ra một hũ rượu ngâm ba kích và mấy chai rượu ngoại. Trong bữa cơm, chúng tôi nghe anh chị muốn nhượng lại cái trang trại này để vào Sài Gòn sống với các con. Nhiều người ở đây cho biết,do đường sá bây giờ thuận lợi và nhất là không khí mát lành nên dân Hà Nội và nhất là các nhà giàu đã tìm lên Ba Vi để tậu đất, mua vườn cây xây dựng khu nghỉ dưỡng cuối tuần.
Đã quá ngọ, chúng tôi tạm biệt anh chị Thêm, tạm biệt một vùng quê yên ả và hẹn gặp lại Xứ Đoài – nơi có chùa Mía linh thiêng và miền đất “một ấp hai vua” đã để lại trong lòng chúng tôi những kỷ niệm đẹp.
Xe chúng tôi không về theo đường Quốc lộ 32 mà chạy thẳng ra cầu Vĩnh Thịnh bắc qua sông Hồng về Phúc Yên, xuống Sóc Sơn vào sân bay Nội Bài.
                                                ***
Chuyến bay chiều của Jetstar đưa chúng tôi trở lại Sài Gòn. Máy bay hạ cánh lúc 19 giờ. Tất cả những cái rét của gió mùa Đông bắc, những ẩm ướt của trời nồm, những mưa dầm gió bấc xin gửi lại miền bắc thân thương. Nhưng kỷ niệm chuyến về Bắc lần này đã lưu lại dấu ấn không thể nào quên trong lòng chúng tôi. Bởi vì ở đó là quê ngoại làng nghề giò chả Ước Lễ, một làng quê đã hơn hai ngàn năm tuổi;  là miền đất Phật linh thiêng Yên Tử, nơi phát tích của Dòng Thiền phái Trúc Lâm của một vị vua anh minh dù khi tuổi đời chưa cao lắm đã biết lui về ở ngôi Thái thượng hoàng, tin vào lớp trẻ có thể đảm đương việc nước;  là Xứ Đoài Sơn Tây – nơi đất “một ấp hai vua” và Kẻ Mía và Miếu Mèn - nơi  thờ thân mẫu Trưng Trắc, Trưng Nhị. Đây là vùng đất sinh vua, sinh hậu, sinh chúa, rất nhiều văn quan võ tướng. Đường Lâm đậm nét một làng cổ, vọng tiếng chuông ngân dưới bóng núi Ba Vì hùng vĩ.Và có thể nào không nhắc tới Hà Nội, thủ đô Hòa bình, của Lương tâm và Phẩm giá con người.Nơi được coi là Trái tim của Tổ quốc Việt Nam. Một ngàn năm đã đi qua và sẽ có một ngàn năm, hai ngàn năm nữa Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội mãi mãi trường tồn.

Cái ký sự này được viết xong lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng Tư năm 2015, đúng vào giờ khắc lịch sử 40 năm trước (30 tháng Tư năm 1975) giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Non sông Việt Nam thu về một mối.
                                                                   Nhà thơ Xuân Bảo





Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

142.Một mũi chủ công tiến công Sài Gòn

142.MỘT MŨI CHỦ CÔNG TIẾN CÔNG VỀ SÀI GÒN

Xuân Bảo

Mãi mãi ngày 30 – 4 – 1975 đi vào lịch sử Việt Nam như một bài ca hào hùng bất tử. Chẳng có nơi nào trên trái đất này lại có một cuộc chiến kéo dài đến 30 năm, hết chống Pháp lại đuổi Mỹ. Đúng như lời tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: Đánh cho Mỹ cút ngụy nhào/Bắc Nam sum họp  xuân nào vui hơn!
Mỹ cút và ngụy nhào đúng vào ngày cuối xuân năm Ất Mão.


                                                          1

Chiều 28 – 4 trong phòng Vàng (Dinh Độc lập), một cuộc lễ chuyển giao chức vụ  tổng thống của Trần Văn Hương (tổng thống một tuần lễ) cho Dương Văn Minh. Trước đó Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21 -4 khi “cánh cửa thép đông bắc Sài Gòn” bị Quân giải phóng phá toang và Xuân Lộc – Long Khánh đã về tay cách mạng. Ngày này cũng là ngày chuẩn tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh sư 18 của ngụy được đề bạt lên thiếu tướng (qua lệnh điện thoại của tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên) để tử thủ Xuân Lộc.
 Hương chống ba-toong lê những bước chân mệt mỏi đến bục diễn đàn và nói như mếu. Minh thì ủ rũ như gà toi. Vừa dứt lời, Minh xây xẩm mặt mày khi nghe ngoài trời sấm dậy vang trời, chớp giật loằng ngoằng và có vái tiếng sét rất to. Trời Sài Gòn đổ mưa. Cơn mưa đầu mùa, báo hiệu điềm xấu cho ngụy Sài Gòn.
42 giờ sau khi Minh nhậm chức  (tổng thống 42 giờ), một trong năm cánh quân bộ đội ta khép lại vòng vây như những chiếc kìm sắt chẹn họng Quân lực cọng hòa (mà báo chí phương Tây gọi một cách văn hoa là năm cánh sen tiến về giải phóng Thành đô).
 Mũi đông bắc do Quân đoàn 2 phụ trách. 12 giờ ngày 29-4 quân ta đã chiếm gọn Căn cứ Nước Trong, Long Thành. Bọn địch vẫn ngoan cố chống cự nhưng rồi cuối cùng cũng phải tháo chạy trước sức mạnh vũ bão của quân giải phóng.
 Một đội xe tăng T54 có 7 chiếc, mang các số hiệu 843,872,380,389, 390,918,988. Đây là mũi nhọn đột kích rất sắc, đâm thẳng vào hang ổ đầu não cuối cùng của quân ngụy và chính quyền Sài Gòn.
Chiếc xe tăng T54 mang số 843 do đại đội trưởng C4, D4 thuộc Lữ đoàn xe tăng 203  Bùi Quang Thận chỉ huy là chiếc đầu tiên xông  vào cổng dinh Độc lập.
Đây có thể nói là giây phút thiêng liêng nhất của những người con chân trần chí thép, mang tất cả niềm tin và lòng căm thù của các chiến sĩ xe tăng – những người lính của “Bộ đội Cụ Hồ”tiến thẳng vào dinh lũy cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Cách cổng khoảng một trăm mét,cổng đóng, Thận ra lệnh cho lái xe Lữ Văn Hỏa: Tăng tốc độ, không dừng lại,cứ húc cổng mà vào! Vướng vào trụ sắt xe lùi lại một chút  rồi húc thẳng vào cổng.Cổng sập,Thận ra lệnh cho pháo thủ Thái Bá Minh: Khoan bắn, sẵn sàng. Nó chống cự thì bắn ngay! Ngay lúc đó chiếc T54 mang số 390 của đồng chí  Toàn, chính trị viên C4 cũng vào cổng bên phải. Chiếc xe này do Nguyễn Văn Tập lái, xạ thủ pháo là Ngô Sĩ Nguyên.
Thận tháo ăng-ten cắm cờ băng qua bãi cỏ chạy bộ vào dinh. Anh hỏi những người đang đứng lố nhố ở bậc thềm:Lên nóc cắm cờ đi lối nào? Họ chỉ cầu thang lên tầng hai. Thận gặp chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và nói: Quân Giải phóng đây. Lên cột cờ đi đường nào? Hạnh gọi Vũ Quang Chiêm, chánh văn phòng tổng thống ngụy và bảo Chiêm đưa Thận vào thang máy. Cán cờ bằng cần ăng-ten dài quá, Thận phải uốn cong lại mới vào được. Cửa thang máy khép lại. Chiêm bấm nút. Đến nơi, thang máy mở cửa,Thận chạy ra sân thượng. Lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn còn đó.Cờ ngụy có nẹp vải trắng với hàng chục nút dây thép buộc vào dây kéo cờ.Để cho nhanh, Thận không tháo các nút buộc mà xé phăng lá cờ ngụy ra, vứt xuống sàn. Thận tháo lá cờ của quân ta ra khỏi cần ăng-ten và buộc vào dây, kéo cờ lên cao.Sau lá cờ của Thận là hàng chục lá cờ khác của các quân đoàn, sư đoàn, các lữ đoàn, trung đoàn bạn. Cờ được cắm thêm bên cạnh lá cờ đầu tiên của Thận ở ban công tầng hai.Cờ các đơn vị bạn được buộc vào cần tre và cắm vào bất kỳ nơi nào trong dinh: cắm ở cổng, cắm ở hàng rào sắt. Khuôn viên dinh Độc lập rực lên màu cờ xanh đỏ sao vàng và cả màu cờ Tổ quốc Việt Nam anh hùng.
Trời tạnh mưa. Nắng vàng trải khắp Sài Gòn – thành phố mang tên Bác Hồ - rực rỡ cờ hoa va tràn ngập nụ cười!

                                                          2

 Đơn vị bộ binh đầu tiên vào chiếm lĩnh dinh tổng thống ngụy là tiểu đoàn 7,trung đoàn 66, sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2.Và chúng ta không quên chiến công đánh chiếm dinh Độc lập ngụy  của sư đoàn 367 bộ đội Đặc công mà người chỉ huy dũng cảm là anh hùng Tống Viết Dương. Đây là những phút giây lịch sử của anh hùng Tống Viết Dương trong khoảnh khắc đáng nhớ của ngày Đại thắng 30 Tháng Tư năm 1975.
 Trong tình hình nước sôi lửa bỏng của chiến dịch Hồ Chí Minh, Tống Viết Dương không may phải đi quân y viện để mổ bướu cổ. Từ đầu tháng 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 1975 là thời gian mà Đoàn trưởng Đoàn 116 dặc công Tống Viết Dương bồn chồn, nóng ruột hơn lúc nào hết. Đại quân ta tiến về Nam như thế chẻ tre mà mình lại phải nằm một chỗ! Anh Ba Trần (Trần Văn Danh) đích thân cho xe đón Tống Viết Dương về Bộ Tham mưu Miền. Nhìn Dương còn quấn băng , người xanh xao do mất máu và sức còn quá yếu, anh Ba Trần hỏi: Bộ Tư lệnh giao cho đồng chí chỉ huy trưởng cánh Đông Sài Gòn, chuẩn bị vào sào huyệt cuối cùng của Mỹ ngụy, liệu anh có làm nổi không? Tống Viết Dương đáp: Tôi xin hoàn thành nhiệm vụ!
 Sáng ngày 10 tháng 4 năm 1975, nhóm 3 người gồm chỉ huy trưởng cánh Đông Sài Gòn Tống Viết Dương ( lực lượng này gồm 3 trung đoàn 113,  116 và 10 của sư đoàn 2, tiểu đoàn 81 Đoàn Z22, 23 của sư đoàn 316 và tiểu đoàn 4 của Thành đội đang ở Thủ Đức), một đồng chí quân y sĩ và  một đồng chí cần vụ chạy xe Honda từ Dầu Tiếng đến Cây Gáo, bên bờ sông Đồng Nai. Trong lúc chạy từng chặng quá mệt, phải dừng lại để truyền huyết thanh cho Dương rồi lại tiếp tục chạy xe. Đêm 11 tháng 4 năm 1975 vượt qua Quốc lộ I, sáng ngày 12 đến trung đoàn 116 đang đóng tại Bình Sơn, huyện Long Thành.
Sáu ngày sau, đồng chí cùng đơn vị 367 vượt Quốc lộ 15 (nay là 51) qua khu vực Tam An, Tam Phước sát hạ lưu sông Đồng Nai. Đây là hướng chính cần phải đánh chiếm. Cánh này phối thuộc với Quân đoàn 2 của ta có nhiệm vụ chiếm giữ đầu cầu từ 1 đến 3 ngày để đại quân và xe tăng tiến vào phía trong. Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn nổ súng chiếm được thị trấn Long Thành. Tối hôm đó, Trung đoàn 116 đánh chiếm khu vực Bến Gỗ và đầu cầu xa lộ Đồng Nai. Bến Gỗ được giải phóng. Trung đoàn 116 thu 80 súng các loại, bắt hàng chục tên địch, tiêu diệt 5 tên.
Mặc dù vết thương chưa khỏi hẳn, Tống Viết Dương vẫn kiên trì chỉ huy các lực lượng của mỉnh phối hợp tác chiến. 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 xe tăng lữ đoàn 203 của Quân đoàn 2 tới. Khi đã bắt được liên lạc, đến 6 giờ sáng Tống Viết Dương cho toàn bộ trung đoàn tiến về Sài Gòn, trừ đại đội 3 ở lại giữ cầu. Đồng chí lên xe tăng dẫn đường, đánh từng chặng một. Đến 11 giờ 15 phút chiếc xe tăng đi đầu đã húc đổ cổng sắt dinh Độc lập, Khi xe vào bãi cỏ, chiến sĩ xe tăng và chiến sĩ đặc công vác cờ chạy lên nóc dinh, vứt cờ ba que ngụy xuống, cắm cờ đỏ anh sao vàng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng  lên. Lúc này là 11 giờ 30 phút.Thời  khắc lịch sử đã ghi.
17 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, đồng chí Tống Viết Dương thu quân, tạm biệt đồng chí Tài lữ đoàn trưởng. đồng chí Minh chủ nhiệm chính trị,Lữ xe tăng 203, hành quân ngược về xa lộ Biên Hòa để làm nhiệm vụ quân quản.
Nhớ lại khi ngồi trong dinh Độc lập rồi mà vẫn như mơ. Tống Viết Dương sờ tay lên cổ, da non ở vết mổ đang kín dần.”
Xuân Bảo

Biên Hòa 28/4/2015

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

141.C.Bắc Hà ký sự (Phần 3)

141C.BẮC HÀ KÝ SỰ (Phần 3)  
                                                                                       Xuân Bảo
1.ĐƯỜNG VỀ ĐÔNG TRIẾU UÔNG BÍ.

Sáng chủ nhật, 8 tháng 3 chúng tôi thuê xe du lịch 7 chỗ đi thăm Non thiêng Yên Tử.Chuyến đi này có thêm Nguyễn Viết Thọ, người con thứ 6 của ông bà Tân Việt, em trai vợ tôi.Cậu Thọ được ông bà cho theo nghiệp nhà.Học hết phổ thông Thọ được vào học trường trung cấp ngành ăn uống của Sở Thương nghiệp Hà Nội, môn nấu nướng, tức là đầu bếp.Tốt nghiệp, Thọ được bố trí làm đầu bếp ở khách sạn Phú Gia.Và chẳng bao lâu Thọ trở thành đầu bếp giỏi, nhiều lần được cử đi nấu cho các hội nghị quan trọng của Trung ương và được bầu chọn đi dự Đại hội Thi đua của thành phố Hà Nội.Để tranh thủ thời gian, nhà tôi mua sẵn mấy gói xôi xéo đủ dùng điểm tâm cho tất cả những người trên xe. Xe xuất phát từ đầu Ô Quan Chưởng, chạy dọc theo phố Trần Nhật Duật.Đoạn lên cầu Chương Dương, đến đây tôi sực nhớ cái nhà tắm công cộng ở phố Chợ Gạo, thời Pháp thuộc và cả sau giải phóng thủ đô 10-10-1954 vẫn còn hoạt động.Mùa đông thì có thêm vòi nước nóng.Khách đến tắm rất đông nên phải xếp hàng thứ tự, có khi chờ cả tiếng đồng hồ mới đến lượt. Giá vé người lớn là 1 hào, vé trẻ em 5 xu.Nay cái nhà tắm này được thay thế bằng một ngôi nhà to đẹp, khang trang của một doanh nghiệp nào đó.
Xe qua giữa cầu, nhìn những thanh cầu to lớn kiểu “nồi đồng cối đá”, tôi hỏi kỹ sư Phạm Toàn: “Cậu có biết cái cầu này do nước nào viện trợ xây dựng không?” Toàn bảo không biết vì hồi đó còn nhỏ tuổi quá.Tôi bèn giải thích: Vật liệu làm cầu này là những thứ “đầu thừa đuôi thẹo” của cầu Thăng Long đấy.
Cầu Thăng Long được “anh Hai” Trung Quốc thực hiện từ năm 1974 cho tới năm 1977 thì bỏ dở. “Anh Cả” Liên Xô tiếp tục làm từ năm 1978.Ngày 9 tháng 5 năm 1985 thì khánh thành. Đây là chiếc cầu có thời gian thi công lâu nhất: 11 năm. Cầu được thiết kế na ná như cầu Trường Giang ở Trung Quốc.Vật liệu chủ yếu là thép và bê-tông. Cầu dài 3250 mét, 2 tầng, 25 nhịp cầu chính và 46 nhịp cầu dẫn, giàn thép.Tầng 1, ở giữa là đường xe lửa, nối từ ga Văn Điển sang ga Bắc Hồng dài 11 km.Hai bên là hai làn đường cho các loại xe thô sơ.Tầng 2 rộng 21 mét có 2 làn xe cho các loại xe ôtô, cơ giới và 2 làn cho khách bộ hành và khách tham quan.
Nguyễn Thúy Ngọc, con gái tôi khen: “Trí nhớ của Bố tốt thật đấy”! Còn Toàn thì nóng lòng muốn biết những thứ “đầu thừa đuôi thẹo” làm nên chiếc cầu chúng tôi đang đi. Tôi lại moi cái mémoire của tôi ra.Thời gian này tôi là cộng tác viên chính của báo Giao thông vận tải.Anh Ngô Đức Nguyên làm tổng biên tập và anh Bùi Hữu Tiếu – người Huế, bạn tôi làm phó tổng biên tập, phụ trách phía nam.
Cái chuyện “đầu thừa đuôi thẹo” là thế này: Anh Bùi Danh Lưu, tân thứ trưởng Bộ Giao thông –Vận tải và các đồng chí lãnh đạo Bộ lúc bấy giờ đã cố thuyết phục Chính phủ làm thêm cầu, bắc qua sông Hồng để giảm tải vì lúc này các loại phương tiện qua lại Hà Nội đã lên cao.Anh Lưu đã đứng ra chỉ đạo trực tiếp công trình này. Để có đủ sắt thép, anh cho thu gom thép của những cầu đường sắt do bom Mỹ phá hoại, chế sửa lại.Công trình cầu Chương Dương là niềm tự hào chính đáng của những kiến trúc sư, kỹ sư và công nhân Việt Nam tự thiết kế và thi công! Cầu được khởi công vào đúng ngày kỷ niệm Giải phóng thủ đô ,10 tháng 10 năm 1983 và đưa vào sử dụng ngày 30 tháng 6 năm 1985, vượt trước kế hoạch đúng 1 năm. Tự hào biết mấy! Sau này, giáo sư Bùi Danh Lưu thay anh Đào Đình Bình làm bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Xe qua cầu rẽ phải,theo đường đê Gia Lâm xưa, nay là con đường trải nhựa rộng thênh thang. Đến chân cầu Vĩnh Tuy thì rẽ trái băng qua Quốc lộ 5 và nhằm hướng Bắc Ninh thẳng tiến.Xe lên cầu Phù Đổng. Đây là chiếc cầu mới bắc qua sông Đuống, (sông Đuống tên chính là sông Thiên Đức), cách cầu Đuống cũ chừng hơn cây số. Chẳng mấy chốc xe chúng tôi qua thị xã Từ Sơn – nơi có làng Đình Bảng, quê hương phát tích của vua Lý Thái Tổ, mở đầu Triều Lý .Còn đó khu Đền Đô thờ Lý Bát đế. Những tên làng Đông Ngàn, Nội Duệ, Cầu Lim… một vùng dân ca quan họ nổi tiếng Kinh Bắc mà những năm tuổi trẻ tôi có dịp về dự Hội Lim và hát đúm, hát đối với các liền anh, liền chị trong những đêm trăng thanh gió mát.Xe qua thành phố Bắc Ninh, lượn vòng  xoay rẽ phải đi lên Quốc lộ 18.
 Quốc lộ 18 này được người dân mệnh danh là“con đường tai tiếng” từ cái đận PMU 18 ( PMU là từ viết tắt bắng tiếng Anh của Project Management Unit,dịch ra tiếng Việt là Đơn vị quản lý dự án)làm đình làm đám rút ruột công trình.
Nói “con đường tai tiếng” bởi vì rằng những năm 2005, 2006, thập kỷ thứ nhất, thế kỷ 21, những quan tham của PMU 18 như Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng và em gái Bùi Thị Hạnh cùng một lô một lốc dưới quyền đã tham ô công quỹ đến nổi phải vào nhà đá.Nguyễn Việt Tiến  sau này được trắng án. Chất lượng PMU 18 còn đó những hạng mục cọc tiêu làm bằng cốt tre và mặt đường giòn tan như cái bánh xốp?và vân vân…  Tổng giám đốc Bùi Tiến Dũng (Dũng tổng) đã nướng hơn 1 triệu 800 nghìn đô-la Mỹ vào cá độ bóng đá!?

2.UÔNG BÍ-THÀNH PHỐ MỚI.

Khoảng 9 giờ sáng thì chúng tôi vào thành phố Uông Bí. Uông Bí là   thành phố  mới được nâng lên thành đô thị loại 2 với diện tích là 256 kilômet vuông, có số dân hơn 174 ngàn người, nằm dưới chân dãy núi Yên Tử và giáp sông Đá Bạc, cách thủ đô Hà Nội 130 km,cách Hải Phòng gần 30 km, và cách thành phố Hạ Long 45 km. Uông Bí có 3 con sông chính là sông Sinh, sông Tiên Yên và sông Uông.Những sông này chạy theo hướng bắc nam.Các điểm du lịch và văn hóa chính là Hang Son, Động Bảo Phúc, Núi Yên Tử, Khu di tích Yên Tử, Hồ Yên Trung, Lựng Xanh, Chùa Ba Vàng...Thành phố đã xây dựng nhà hát ở trung tâm.Uông Bí trở thành thành phố du lịch trọng điểm của Quảng Ninh.
Do thời gian có hạn nên chúng tôi chọn 2 nơi để tham quan. Trước hết là chùa Ba Vàng.Tôi hỏi mọi người trên xe: Vì sao lại gọi chùa có tên là Ba Vàng? Không ai trả lời được.Có một giả thuyết tưởng tượng là ở triền núi này có người nhặt được một lúc ba khối vàng to, sau đó trở thành đại gia giàu nhất Quảng Ninh?! Không chính xác.Chính xác là, theo thư tịch cổ thì được giải thích như sau:
Chùa Ba Vàng có tên cổ là Bảo Quang Tự (nghĩa là “ánh sáng quý”) được xây dựng vào năm Ất Dậu, (năm 1676). Chùa toạ lạc trên lưng chừng núi Thành Đẳng, ở độ cao 340 mét so với mặt nước biển.Chùa nằm trên một vị trí rất đẹp ở phía tây thành phố Uông Bí, phía trước là sông, phía sau tựa lưng vào núi, hai bên là rừng thông xanh ngắt. Chùa Ba Vàng có mạch phong thủy bắt nguồn từ chùa Đồng (Yên Tử) với địa hình hạ đoạn tạo thành thế thanh long trùng điệp chầu về bên trái, bạch hổ hùng vĩ phục xuống bên   phải.
  
Đêm ở chùa Ba Vàng (Bảo Quang Tự)

Chùa Ba Vàng là sơn môn thuộc Trúc Lâm Yên Tử. Ngôi chùa ngày nay được khang trang, có chính điện tráng lệ nguy nga như hiện tại là đã trải qua 4 lần trùng tu, tôn tạo và gắn liền với nhiều câu chuyện kỳ lạ, khá huyền bí mang cả yếu tố tâm linh. Cách nay chỉ khoảng hơn 20 năm, trải qua thời gian và các cuộc chiến tranh tàn phá, chùa Bảo Quang chỉ còn là phế tích với một số di vật cổ bằng đá còn sót lại như: một số bia đá, rùa đá, chân cột và cây hương bằng đá trên có khắc 4 chữ “Thiên Bảo thạch trụ”.
Trước sự xuống cấp của ngôi cổ tự quý chính quyền và nhân dân địa phương đồng lòng tìm cách trùng tu, tôn tạo để gìn giữ giá trị của ngôi chùa. Lần thứ tư trùng tu, xây dựng di tích chùa Ba Vàng vào năm 2010 có quy mô, hiện đại, được chia ra làm nhiều giai đoạn.Lần này,Quảng Ninh với thành ý muốn xây dựng nơi đây làm trung tâm hoằng pháp của tỉnh; là nơi bảo tồn những giá trị văn hóa Phật giáo nói chung và văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam nói riêng.Theo quy hoạch, công trình chùa được xây dựng trên diện tích khoảng 22,00 hecta, trong đó đất dành cho cây xanh cảnh quan chiếm hơn nửa.Tổng mức đầu tư của công trình khoảng 280 tỷ đồng. Nguồn vốn này có được nhờ quá trình huy động, đóng góp công đức của tăng ni, Phật tử, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm khắp nơi.
Chùa mới có đặc trưng của các ngôi chùa Bắc Bộ, gồm 3 gian bái đường, 1 gian hậu cung, gồm có các ban thờ Phật, thờ Mẫu và Đức Ông. Toà “Đại hùng bảo điện” (chùa chính) có quy mô nhất với kiến trúc 2 tầng. Chùa Ba Vàng có nơi thờ Tam bảo và trống độc mộc được công nhận là lớn nhất Việt Nam. Hệ thống tượng pháp trong chùa làm bằng gỗ có cũng có kích thước lớn như tượng Tam thế, Quan âm, ông Thiện, ông Ác… đều cao từ trên 2m trở lên.Trong đó, pho tượng A Di Đà là một trong những tượng Phật bằng gỗ vào loại lớn nhất miền Bắc.
Kế tiếp chùa chính là các công trình như khu giảng đạo, trai phòng, thư viện, lầu chuông… được thiết kế hài hoà, liên hoàn, tạo thuận lợi cho các nhà sư hành đạo cũng như Phật tử đến chùa lễ Phật.Trước cổng chùa có xây một ngôi chùa có tên là chùa Một cột. Đây là phiên bản giống hệt chùa Diên Hựu ở Ba Đình Hà Nội.
Trong chùa còn có một giếng cổ nước không bao giờ cạn. Tương truyền, ai mà uống được nước lấy từ giếng sẽ khỏe mạnh và khỏi bách bệnh. Bởi vậy, nhiều Phật tử, du khách thập phương tới đây đều muốn được uống nước lấy từ giếng lên.
Du khách, Phật tử dù chỉ một lần chiêm bái chùa Ba Vàng sẽ được đắm chìm trong khung cảnh nên thơ, trữ tình mà vẫn cảm nhận được không khí linh thiêng của chốn đạo thiền nhà Phật. Đây không chỉ là nơi để tu tập cho những người đến để học Phật, hiểu Phật và tu Phật, chùa Ba Vàng còn hội đủ các yếu tố của một điểm du lịch sinh thái, văn hoá -lịch sử và là điểm đến của tăng ni, Phật tử, khách thập phương trong và ngoài nước.
                                                ***
Cả buổi sáng trời nắng nhẹ.Từ trên cao có thể nhìn suốt ra biển.Biển Hạ Long đẹp lắm. Cả nhà ghé vào dùng bữa trưa ở một quán ăn. Chẳng hiểu vì lý do gì mà nơi đây, hầu hết những tên quán đều dùng biển hiệu là Phở Nam Định? Trong đầu tôi lại hiển hiện cái sự phát tích của nhà Trần.

3.ĐÔNG TRIỀU-TRIỀU ĐÌNH PHÍA ĐÔNG.

Ở Đông Triều, Quảng Ninh hiện có quần thể khu di tích nhà Trẩn thuộc địa bàn các xã An Sinh,Bình Khê,Thủy An và Tràng An.An Sinh vốn là quê gốc của nhà Trần trước khi dời đến Thái Bình và Nam Định.Ở đây có 14 cụm di tích là đền An Sinh, đền Thái, lăng Tư Phúc, Ngải Sơn Lăng, Thái Lăng, Mục Lăng, Phụ Sơn Lăng, Nguyên Lăng, Đồng Hỷ Lăng,chùa Ngọc Thanh, chùa Ngọa Vân, chùa Tuyết, chùa Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên.
Bộ máy nhà nước Đại Việt lúc bấy giờ đặt ở 3 nơi: Thăng Long là kinh đô chính.Kinh đô chính trị thứ 2 đặt tại Phủ Thiên Trường là nơi Thái Thượng hoàng giám sát vua và cùng điều hành đất nước.Thứ 3 là Đông Triều, nơi hiện nay có khu lăng mộ các vua nhà Trần, Trung tâm văn hóa tiêu biểu của nước Đại Việt thời bấy giờ.
Đông Triều có hệ thống di tích chùa tháp, đền đài, lăng mộ dày đặc, góp phần phát triển Tông phái Trúc Lâm.Phái Trúc Lâm đã hình thành tuyến Phật giáo chủ đạo từ Thăng Long tới Yên Tử mà chùa Quỳnh Lâm là cơ sở chính.Cũng chính nơi này – nơi được coi là Triều đình phía đông của nhà Trần – khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con Trần Anh Tông để xuất gia tu hành.Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo đặc trưng của nước Đại Việt.Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử với vị Tổ thứ nhất là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) , Trong 19 năm tu hành nơi đây đã soạn ra bộ sách Thạch Thất Mỵ Ngữ  và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trên toàn quốc với hàng nghìn pho tượng có giá trị.Sau khi Ngài viên tịch, người kế tục là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330). Tổ thứ ba là Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334).
 Trần Nhân Tông là vị vua sáng lập ra dòng Việt Phật Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ngài là vị vua Phật đầu tiên ở thế gian với tôn hiệu “Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”.
                                                ***
Nhà Trần tồn tại được 175 năm (1225-1400) qua 13 đời vua, 8 thế hệ.Nhà Trần có rất nhiều ông vua là nhà thơ lớn của nước Đại Việt.Có thể nói, sau nhà Lý là nhà Trần đã làm rạng rỡ cho nền thi ca nước ta.Ngày nay, khi nói đến thơ văn thì người ta thường nhắc đến Thơ Văn Lý Trần là như vậy.Hịch tướng sĩ (Dụ chư tỳ tướng hịch văn) của Trần Hưng Đạo là bản “thiên cổ hùng văn” có thể coi là giai đoạn mở đầu cho dòng văn học này.Tiết chế quốc công Trần Quốc Tuấn-Trần Hưng Đạo là một danh nhân kiệt xuất của Việt Nam,đồng thời là danh nhân cổ kim của nhân loại.Ngài đã được Hội đồng các nhà bác học và quân sự thế giới do Hoàng gia Anh chủ trì đã công nhận là 1 trong 10 đại nguyên soái - tướng tài của nhân loại.Đây là một vương triều lừng lẫy chiến công: ba lần chiến thắng Nguyên – Mông. Sau khi quét sạch lũ giặc ra khỏi bờ cõi, ngày 18 tháng 4 năm 1288, hai vị vua anh minh: Thái thượng hoàngTrần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đã đưa số tù binh, trong đó có những tên trùm sỏ Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ…về Phủ Long Hưng ở Thái Bình làm lễ “hiến phù”, mừng dâng chiến thắng lên vua Trần Thái Tông.Tại buổi lễ long trọng này, vua Trần Nhân Tông đã đọc hai câu thơ hào sảng nói lên hào khí Đông A mà cho đến nay, chúng ta vẫn luôn luôn cảm thấy hết sức tự hào:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
Dịch ra quốc âm:
Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.
Hai câu thơ đã nói lên ý chí gang thép của quân dân Đại Việt kiên quyết giữ vững nền độc lập cho nước Việt thân yêu.
                                                          ***

4.THĂM NON THIÊNG YÊN TỬ
.
Trời bắt đầu mưa.Trời nồm gió bấc mưa phùn.Nhiệt độ trung bình 25,26 độ, không lạnh nhưng cảm thấy nhớp nháp khó chịu vì độ ẩm cao.Cậu Thọ là người đã nhiều lần về Yên Tử cho nên làm người dẫn đường tốt.Xe chúng tôi chạy ngược từ trong thành phố Uông Bí trở lại một quảng trên Quốc lộ 18A, đến ngã ba chùa Bí Thượng, rẽ tay phải,đi qua chùa Suối Tắm, chùa Cẩm Thực. Đến ngã ba đường ra Vàng Danh đã thấy phía tay phải trụ sở Ủy ban xã Thượng Yên Công.Tuy là một cơ quan hành chính cấp xã nhưng trụ sở được xây dựng khá khang trang.Đi một đoạn nữa thì gặp chùa Lân (Trúc Lâm Thiền Viện) rồi đến Bến xe trung tâm, người ở đây thường gọi là bến xe Giải Oan.Phía tay trái là trụ sở Ban Quản lý Yên Tử.
Khách đến đây có thể lên chùa Đồng bằng hai cách.Cách thứ nhất khi chưa có cáp treo là đi bộ.Hiện nay vẫn giữ lối đi bộ này nếu du khách muốn.Chặng đường này dài khoảng 6 cây số, len lỏi qua bạt ngàn cây cối, dưới tán rừng trúc, rừng thông với hàng ngàn bậc đá.Điểm gặp đầu tiên là chùa Giải Oan. Vì sao nơi đây lại là chùa Giải Oan và có cả suối Giải Oan.Bắc qua suối là một chiếc cầu bằng đá xanh, dài khoảng 10 mét,cấu trúc bình dị nhưng cũng toát lên vẻ đẹp cổ kính, vững chãi.Có một truyền thuyết: vua Trần Nhân Tông có rất nhiều cung tần mỹ nữ.Họ đã khuyên vua không nên từ bỏ cõi trần (để đi tu).Vua không nghe nên họ đến nơi này gieo mình xuống suối tự vẫn.Vua thương cảm cho xây một ngôi chùa siêu độ để giải oan cho các cung tần.Chùa, suối cho đến bến xe cũng mang tên Giải Oan là như vậy.Qua khỏi chùa Giải Oan, theo đường tung gặp ngay Tháp Tổ.Và cứ thế ta bước vào khu vực chùa Hoa Yên.Nơi đây, chung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Nhân Tông.Hai bên tháp mộ này là tháp mộ sư Pháp Loa và sư Huyền Quang.Chùa Hoa Yên còn có những tên gọi khác là chùa Cả, chùa Phù Vân, chùa Vân Yên. Nhạc sĩ Phú Quang viết ca khúc “Trên đỉnh Phù Vân” chính là nói về nơi đây.Chùa có hàng tùng cổ được cho là vua Trần Nhân Tông trồng khi lên đây tu hành.Đi tiếp du khách được trông thấy ngôi chùa có tên là chùa Một Mái.Tiếp đến là chùa Bảo Sái phía bên phải và chùa Vân Tiêu phía bên trái. Đi tiếp nữa ta sẽ gặp tượng đá An Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn Cờ Tiên.Tột cùng là Chùa Đồng.Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh Yên Tử, khởi dựng vào thời Hậu Lê với tên gọi là Thiên Trúc Tự. Đầu năm 2007, chùa mới được đúc hoàn toàn bằng đồng nguyên chất, cao 3 mét, rộng 16 mét, nặng 60 tấn.
Để rút ngắn lộ trình,Quảng Ninh đã đầu tư hai nhà ga cáp treo.Ga thứ nhất từ chùa Trình lên gần thác Ngự Đội rồi theo các bậc đá lên chùa Hoa Yên.Sau đó lại tiếp tục leo núi qua ga cáp treo thứ hai lên chùa Vân Tiêu rồi đi bộ lên đỉnh Yên Tử (Chùa Đồng)
Con đường thứ hai là đi cáp treo.Chúng tôi vào quày mua vé tham quan và vé đi cáp treo. Cô bán vé hỏi: Hai bác được bao nhiêu tuổi? Tôi và nhà tôi xuất trình Thẻ hội viên Hội Người cao tuổi Việt Nam.Thẻ ghi tôi 81 tuổi và nhà tôi 75 tuổi. Cô bán vé nói: Hai bác được miễn phí.Vé có mệnh giá là 140 nghìn đồng.Từ quày vé vào sân ga cáp treo 1 có thể đi bộ và cũng có thể đi bằng ôtô chạy điện. Mỗi xe chở được 10 người.Gíá vé là 10 nghìn đồng.Tôi hỏi một người lái xe.Xe điện này giá bao nhiêu? Trả lời: -300 triệu đồng. Trong bao lâu thì thu hồi được vốn?-Một mùa lễ hội Yên Tử.Lễ hội được mở từ ngày 10 tháng Giêng (Âm lịch) và kéo dài đến hết tháng Ba.Tuy nhiên, trong suốt cả năm,khách hành hương về Yên Tử không lúc nào ngớt.
Tôi đi lên nơi có đặt cái chuông đồng lớn. Chuông lớn phải dùng dùi lớn buộc dây thúc vào thành chuông.Tôi gióng ba tiếng.Bù…rù rù ù ù…ngân vang rất xa.Tất cả chúng tôi có 6 người vừa đủ cho một chuyến cáp treo. Ca-bin cáp mỗi lần chở đúng 6 người.Ngồi trong ca-bin nhìn ra ngoài chỉ thấy tuyền một màu xanh cây rừng.Một vùng Hòn Ngọc chìm trong mưa bay.Thoáng chốc đã tới bến đỗ.Đoạn cáp treo này dài 1200 mét.Mọi người xuống đi bộ qua chùa Hoa Yên. Chùa Hoa Yên nằm ở độ cao 543 mét so với mực nước biển.Lại len lỏi theo những bậc đá đã được Ban Quản lý chỉnh trang cho dễ đi.
                                                          ***
Lên đến đây, trong vời vợi núi non Yên Tử tôi sực nhớ cuộc hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn – Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức vào ngày 8/8/2012.Một cuộc hội thảo gây không ít dư luận xấu trên thi đàn.
Trong Lời đề dẫn, nhà thơ Hữu Việt đã có những câu có cánh: Yên Từ là một địa chỉ tâm linh quá lớn, một vùng đất thiêng, mà từ lâu đã trở thành miền hành hương của hàng triệu người Việt vào tất cả các mùa trong năm, đặc biệt là vào mùa xuân.Mang trong lòng mình cả thực thuyết lẫn truyền thuyết.Yên Tử quyến rũ không chỉ bởi mây biếc non bồng mà còn chinh phục khách hành hương bằng hào khí của một vương triều quật cường và trí tuệ, nhân văn và kiêu hãnh; nơi một vị vua anh minh đã khai mở thiền phái riêng của người Việt, mang tên Rừng trúc (Trúc Lâm) được ví như cốt cách của người quân tử bao phủ khắp núi non Yên Tử!
 Cách đây đúng 15 năm, có một người đầu tiên đến Yên Tử, đã bất ngờ được Yên Tử “khai tâm”.(Nếu không được non thiêng Yên Tử “khai tâm” thì làm sao một đêm làm được những hàng trăm bài thơ?!.NV).Đó là Hoàng Quang Thuận…Với những ngẫu nhiên lạ lùng mang hơi hướng tâm linh giữa mênh mang Yên Tử,chỉ trong vòng 3 ngày đêm lưu lại ở vùng non thiêng,anh đã viết một mạch 63 bài thơ (?) in thành tập “Thi vân Yên Tử”.Sau đó 3 năm , Hoàng Quang Thuận công bố tiếp “Ngọa vân Yên Tử” với 80 bài…Đến năm 2010,hai tập này được gộp chung thành Thi Vân Yên Tử có 163 bài tất cả. Theo DKA, cùng năm ấy (2010) Hoàng Quang Thuận in tập thơ mới Hoa Lư thi tập, gồm 121 bài.Trong đúng một đêm, như có ai đọc cho Hoàng Quang Thuận nghe và anh chỉ việc chép lại lời thì thầm đó.???Có 72 phép thần thông như Tôn Ngộ Không cũng không thể nào chép ra giấy từ 12 giờ khuya đến 4 giờ sáng được 121 bài thơ.Tính ra cứ 2 phút thì chép được 1 bài.Một sự ngạo nghễ khinh mạn bạn đọc hết chỗ nói!!!
.Trong 21 bản tham luận, có những lời lẽ vượt quá lời bình thơ. Đây là lời bình của DKA: “Những câu thơ hay đến lạnh người, trong tôi bỗng ngân lên:…Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc/Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm/Tiếng sáo thiền ca vui bất tận/Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng…” Giáo sư Hoàng Quang Thuận được sự cổ vũ của bạn bè đã gửi 2 tập thơ này tự ứng cử tham dự xét giải Nobel văn học năm 2012. Hội đồng Hoàng gia Thụy Điển Nobel xét thế nào mà giải lại thuộc về nhà văn Mạc Ngôn?
Mà thôi! Xin miễn bàn về nhà thơ HQT để khỏi mất hứng viết cái Bắc Hà ký sự này.
                                                ***
Sang ga cáp treo thứ hai.Cáp treo này dài 860 mét.Trời bắt đầu mưa nặng hạt.Đường trơn, dễ trượt chân.Tôi nhặt chiếc gậy trúc bên đường.Tới ga thì phải nộp gậy lại.Lên tới bến đỗ lại phải đi bộ một quãng nữa mới lên được Tượng đá An Kỳ Sinh.Do thấm mệt nên tôi ngồi lại quán ăn và mua một lon bia Hà Nội (giá 30 nghìn đồng/lon) và một thỏi xúc xích 20 nghìn đồng để lấy lại sức.Nhà tôi và cậu Thọ, Ngọc và Toàn cùng cháu Hà tiếp tục đi lên chùa Đồng.
Thế rồi, có một cặp tình nhân còn rất trẻ dìu tôi qua những bậc đá lên tiếp.Tại nơi này tôi nhờ cháu trai chụp cho bức ảnh.Vì trời mưa và mây mù dày đặc nên không thấy rõ tượng.Bức tượng đồng Phật hoàng Trần Nhân Tông được khởi công đúc và khánh thành từ năm 2010.Tượng được đặt trên bệ làm bằng bê-tông cốt thép, ốp đá điêu khắc.Thân tượng đồng cao 9,9 mét.Đài sen cao hơn 2 mét, được dựng trên khu đất rộng 2200 mét vuông gồm các công trình sân hành lễ, sân tập kết, không gian tượng An Kỳ Sinh…
Còn dăm chục bậc đá nữa thì tới chùa Đồng. Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh Yên Tử ở độ cao 1068 mét, khởi dựng vào thời Hậu Lê với tên gọi là Thiên Trúc Tự.Đỉnh Yên Tử là ngọn núi thuộc dãy cánh cung Đông Triều.Trên núi thường có mây bao phủ cho nên còn được gọi là Bạch Vân Sơn.Còn ở phía tây dãy núi này lại nằm ở tỉnh Bắc Giang.Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử nằm trên địa bàn các huyện Sơn Động, Lục Nam (Bắc Giang).Nơi này cũng có nhiều thắng cảnh có thể khai thác du lịch tốt.
Đứng ở độ cao hơn nghìn mét này ta có thể chiêm ngưỡng một bức tranh sơn thủy bao quát cả một vùng đông bắc rộng lớn của Tổ quốc thân yêu.Phóng tầm mắt về phía mặt trời mọc có thể nhìn thấy những hòn đảo nhô lên trên vịnh Hạ Long.  Đầu năm 2007, chùa Đồng mới được đúc hoàn toàn bằng đồng nguyên chất, cao 3 mét, rộng 16 mét, nặng 60 tấn.
Yên Tử  trở thành Trung tâm Phật giáo Việt Nam, có tên gọi là Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.Nơi đây vua Trần Nhân Tông đã nghiên cứu kết hợp giáo lý nhà Phật, gắn kết với triết lý nhân sinh dân tộc để hình thành  giáo phái đặc trưng hoàn toàn Việt Nam. Với tư tưởng “nhập thế”, “tu tại tâm” mà ở đó, không tách biệt đạo và đời.Đó là sự hòa hợp tuyệt vời giữa tinh thần dân tộc với tôn giáo, giữa tư tưởng và đạo đức.Thiền phái Trúc Lâm không chỉ thu hút người Việt mà còn được nhiều người nước ngoài quan tâm theo học và tu hành.
                                                          ***
5. XUỐNG NÚI.

Trời đã về chiều.Mưa nặng hạt hơn.Không dù, không mũ che mưa, tôi đội cái mùi-xoa lên đầu cho đỡ ướt tóc.Cả nhà chúng tôi đi vế phía có những bậc đá xây.Còn tôi theo lối cũ có những phiến đá tự nhiên to nhỏ khác nhau, xuống núi.Đường gập ghềnh rất khó đi.Tôi được hai cháu thanh niên cầm tay dắt đi.Vui chuyện, tôi hỏi các cháu ở đâu mà hành hương về đây? Cháu gái nhanh nhảu trả lời: -Con ở Bắc Ninh. -Thế cháu có biết nghệ sĩ Thúy Cải không? Cháu trai nói: -Nghệ sĩ Thúy Cải là bà   của chúng cháu đó!
Bất giác trong tôi nhớ về Kinh Bắc một vài kỷ niệm và kể cho hai cháu này nghe.Số là, sau khi tốt nghiệp Trung cấp Hóa, tôi được bố trí về nhà máy xay Đáp Cầu để thực tập.Mấy tháng ở đây, cứ chiều chiều - những thực tập sinh chúng tôi – tản bộ dọc bờ sông Như Nguyệt,thường gọi là sông Cầu, thăm thú những làng quê yên bình.Có đôi khi leo lên quả đồi Thị Cầu, nơi có ngôi nhà thờ Thiên Chúa bị bom Pháp tàn phá.Và phía trong thung xa là ngôi trường cấp 3 mang tên Hàn Thuyên.Tôi và Vũ Sơn quá bước vào nơi trường này.Chúng tôi quen biết nhiều học sinh lớp 10 (năm học cuối cấp 3), trong đó có nữ sinh tên thường gọi là Tiểu Đính. Tiểu Đính là một cô gái nông thôn mang đậm nét vùng Kinh Bắc, người dong dỏng cao, gương mặt thanh tú, đôi mắt lá răm đen lay láy, sống mũi dọc dừa và đôi má luôn ửng hồng như thoa son.Vũ Sơn đặc biệt có thiện cảm với Tiểu Đính và họ cũng đã đôi lần đèo nhau bằng xe đạp lên tận Sen Hồ hoặc ra Phả Lại trong những ngày chủ nhật.Không hiểu tại sao, sau đó vài tháng thì Vũ Sơn tự sát bằng một viên đạn các-bin?
Đến ga cuối thì tôi mới gặp lại chú Thọ.Gọi điện cho nhà tôi, cho Thúy Ngọc và Phạm Toàn rồi gọi cho cháu Thúy Hà nhưng không thấy trả lời.Trời nhá nhem tối, tôi và Thọ bàn nhau xuống trước.Đến chợ trước bến xe Giải Oan chúng tôi cảm thấy “kiến bò bụng” nên vào quán xơi một lúc 2 đĩa bánh cuốn.Một lúc sau thấy cháu Thúy Hà hớt hải chạy vào quán.Cháu kể lại đoạn đường từ chùa Hoa Yên xuống, cháu không đi cáp treo mà chạy bộ theo con đường cũ, khoảng 6 cây số.Cháu nói rằng rất sợ và rất mệt nhưng vì sợ tối nên phải liều đi.Nửa tiếng sau thì nhà tôi và Thúy Ngọc cùng Phạm Toàn xuống.Cả nhà gặp lại nhau vui mừng khôn xiết.Đến lúc này tôi mới thở phào, hết lo.Tôi nghĩ, nếu tôi 81 tuổi và nhà tôi 75 tuổi,tuổi cao sức yếu, nếu xẩy ra sự cố về sức khỏe thì biết tính làm sao? Trong hàng vạn khách hành hương về non thiêng Yên Tử chỉ có hai cụ già này trên tuổi thất thập!Nhà tôi lại đang còn mang trong mình bệnh tim, nếu chẳng may đột quỵ vào lưng chừng núi thì sẽ giải quyết như thế nào đây?! Trên đường lên xuống Yên Tử có nhiều người bảo chúng tôi là liều mạng.Già mà không liệu sức mình! May mà an toàn.Tôi thầm nghĩ: Chắc Phật hoàng Trần Nhân Tông phù hộ cho chúng tôi nên mới được bình an vô sự như vầy!
Trên đường trở về Hà Nội,chúng tôi ghé lại dùng bữa tối tại một nhà hàng ở thị trấn Quế Võ.Nhà hàng này có món “Thịt trâu đặc sản”.Và có loại rượu “ba kích” ngon nổi tiếng.Tôi nhớ lại lúc chiều khi đi ngang qua các quày hàng ở Ban Quản lý Yên Tử thấy họ bày bán rất nhiều loại cây thuốc nam, thuốc bắc, trong đó rễ cây ba kích là nhiều nhất.Tôi lại nhớ cái Tùy bút Tình Rừng của Nguyễn Tuân.Ông đả phá những tên “đốt rừng” Đốt rừng, chúng đốt cả những cây thuốc quý của núi rừng mà người dân đất Việt rất cần để trị bệnh?!
Tới khuya mới về tới thủ đô. Tôi trằn trọc mãi và vùng dậy lúc gần 2 giờ sáng.Tôi ghi lại cảm xúc của mình qua bài thơ Đường luật như sau”:

                                MINH QUÂN – THÁNH CHÚA
Tìm về Yên Tử chốn quan san
Lập phái Trúc Lâm giữa đại ngàn
Trước diệt Nguyên Mông yên xã tắc
Sau xây Đại Việt vững âu vàng
Cửu trùng phổ độ rời ngôi báu
Vạn tuế chuyên tâm hướng Niết bàn
Điều ngự giác hoàng ngời chánh pháp
                              “Cư trần lạc đạo” sáng trời nam
                 
                           

                            
·       *Cư Trân Lạc Đạo Phú của vua Trần Nhân Tông.Đây là một sáng tác bằng chữ Nôm đấu tiên trong văn chương Việt., là cơ sở lý luận hình thành chủ thuyết "Cư Trần Lạc Đạo" cuả Thiền Phái Trúc Lâm. Toàn bài có 10 hội, mỗi hội gieo một vần. Thứ tự từ vấn bằng ở hội đầu, vần trắc ở hội thứ hai và kết thúc bàng một bài Kệ thất ngôn tứ tuyệt.

Biên Hòa, ngày 16/4/2015

                                                                             Xuân Bảo