Trang

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

141.C.Bắc Hà ký sự (Phần 3)

141C.BẮC HÀ KÝ SỰ (Phần 3)  
                                                                                       Xuân Bảo
1.ĐƯỜNG VỀ ĐÔNG TRIẾU UÔNG BÍ.

Sáng chủ nhật, 8 tháng 3 chúng tôi thuê xe du lịch 7 chỗ đi thăm Non thiêng Yên Tử.Chuyến đi này có thêm Nguyễn Viết Thọ, người con thứ 6 của ông bà Tân Việt, em trai vợ tôi.Cậu Thọ được ông bà cho theo nghiệp nhà.Học hết phổ thông Thọ được vào học trường trung cấp ngành ăn uống của Sở Thương nghiệp Hà Nội, môn nấu nướng, tức là đầu bếp.Tốt nghiệp, Thọ được bố trí làm đầu bếp ở khách sạn Phú Gia.Và chẳng bao lâu Thọ trở thành đầu bếp giỏi, nhiều lần được cử đi nấu cho các hội nghị quan trọng của Trung ương và được bầu chọn đi dự Đại hội Thi đua của thành phố Hà Nội.Để tranh thủ thời gian, nhà tôi mua sẵn mấy gói xôi xéo đủ dùng điểm tâm cho tất cả những người trên xe. Xe xuất phát từ đầu Ô Quan Chưởng, chạy dọc theo phố Trần Nhật Duật.Đoạn lên cầu Chương Dương, đến đây tôi sực nhớ cái nhà tắm công cộng ở phố Chợ Gạo, thời Pháp thuộc và cả sau giải phóng thủ đô 10-10-1954 vẫn còn hoạt động.Mùa đông thì có thêm vòi nước nóng.Khách đến tắm rất đông nên phải xếp hàng thứ tự, có khi chờ cả tiếng đồng hồ mới đến lượt. Giá vé người lớn là 1 hào, vé trẻ em 5 xu.Nay cái nhà tắm này được thay thế bằng một ngôi nhà to đẹp, khang trang của một doanh nghiệp nào đó.
Xe qua giữa cầu, nhìn những thanh cầu to lớn kiểu “nồi đồng cối đá”, tôi hỏi kỹ sư Phạm Toàn: “Cậu có biết cái cầu này do nước nào viện trợ xây dựng không?” Toàn bảo không biết vì hồi đó còn nhỏ tuổi quá.Tôi bèn giải thích: Vật liệu làm cầu này là những thứ “đầu thừa đuôi thẹo” của cầu Thăng Long đấy.
Cầu Thăng Long được “anh Hai” Trung Quốc thực hiện từ năm 1974 cho tới năm 1977 thì bỏ dở. “Anh Cả” Liên Xô tiếp tục làm từ năm 1978.Ngày 9 tháng 5 năm 1985 thì khánh thành. Đây là chiếc cầu có thời gian thi công lâu nhất: 11 năm. Cầu được thiết kế na ná như cầu Trường Giang ở Trung Quốc.Vật liệu chủ yếu là thép và bê-tông. Cầu dài 3250 mét, 2 tầng, 25 nhịp cầu chính và 46 nhịp cầu dẫn, giàn thép.Tầng 1, ở giữa là đường xe lửa, nối từ ga Văn Điển sang ga Bắc Hồng dài 11 km.Hai bên là hai làn đường cho các loại xe thô sơ.Tầng 2 rộng 21 mét có 2 làn xe cho các loại xe ôtô, cơ giới và 2 làn cho khách bộ hành và khách tham quan.
Nguyễn Thúy Ngọc, con gái tôi khen: “Trí nhớ của Bố tốt thật đấy”! Còn Toàn thì nóng lòng muốn biết những thứ “đầu thừa đuôi thẹo” làm nên chiếc cầu chúng tôi đang đi. Tôi lại moi cái mémoire của tôi ra.Thời gian này tôi là cộng tác viên chính của báo Giao thông vận tải.Anh Ngô Đức Nguyên làm tổng biên tập và anh Bùi Hữu Tiếu – người Huế, bạn tôi làm phó tổng biên tập, phụ trách phía nam.
Cái chuyện “đầu thừa đuôi thẹo” là thế này: Anh Bùi Danh Lưu, tân thứ trưởng Bộ Giao thông –Vận tải và các đồng chí lãnh đạo Bộ lúc bấy giờ đã cố thuyết phục Chính phủ làm thêm cầu, bắc qua sông Hồng để giảm tải vì lúc này các loại phương tiện qua lại Hà Nội đã lên cao.Anh Lưu đã đứng ra chỉ đạo trực tiếp công trình này. Để có đủ sắt thép, anh cho thu gom thép của những cầu đường sắt do bom Mỹ phá hoại, chế sửa lại.Công trình cầu Chương Dương là niềm tự hào chính đáng của những kiến trúc sư, kỹ sư và công nhân Việt Nam tự thiết kế và thi công! Cầu được khởi công vào đúng ngày kỷ niệm Giải phóng thủ đô ,10 tháng 10 năm 1983 và đưa vào sử dụng ngày 30 tháng 6 năm 1985, vượt trước kế hoạch đúng 1 năm. Tự hào biết mấy! Sau này, giáo sư Bùi Danh Lưu thay anh Đào Đình Bình làm bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Xe qua cầu rẽ phải,theo đường đê Gia Lâm xưa, nay là con đường trải nhựa rộng thênh thang. Đến chân cầu Vĩnh Tuy thì rẽ trái băng qua Quốc lộ 5 và nhằm hướng Bắc Ninh thẳng tiến.Xe lên cầu Phù Đổng. Đây là chiếc cầu mới bắc qua sông Đuống, (sông Đuống tên chính là sông Thiên Đức), cách cầu Đuống cũ chừng hơn cây số. Chẳng mấy chốc xe chúng tôi qua thị xã Từ Sơn – nơi có làng Đình Bảng, quê hương phát tích của vua Lý Thái Tổ, mở đầu Triều Lý .Còn đó khu Đền Đô thờ Lý Bát đế. Những tên làng Đông Ngàn, Nội Duệ, Cầu Lim… một vùng dân ca quan họ nổi tiếng Kinh Bắc mà những năm tuổi trẻ tôi có dịp về dự Hội Lim và hát đúm, hát đối với các liền anh, liền chị trong những đêm trăng thanh gió mát.Xe qua thành phố Bắc Ninh, lượn vòng  xoay rẽ phải đi lên Quốc lộ 18.
 Quốc lộ 18 này được người dân mệnh danh là“con đường tai tiếng” từ cái đận PMU 18 ( PMU là từ viết tắt bắng tiếng Anh của Project Management Unit,dịch ra tiếng Việt là Đơn vị quản lý dự án)làm đình làm đám rút ruột công trình.
Nói “con đường tai tiếng” bởi vì rằng những năm 2005, 2006, thập kỷ thứ nhất, thế kỷ 21, những quan tham của PMU 18 như Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng và em gái Bùi Thị Hạnh cùng một lô một lốc dưới quyền đã tham ô công quỹ đến nổi phải vào nhà đá.Nguyễn Việt Tiến  sau này được trắng án. Chất lượng PMU 18 còn đó những hạng mục cọc tiêu làm bằng cốt tre và mặt đường giòn tan như cái bánh xốp?và vân vân…  Tổng giám đốc Bùi Tiến Dũng (Dũng tổng) đã nướng hơn 1 triệu 800 nghìn đô-la Mỹ vào cá độ bóng đá!?

2.UÔNG BÍ-THÀNH PHỐ MỚI.

Khoảng 9 giờ sáng thì chúng tôi vào thành phố Uông Bí. Uông Bí là   thành phố  mới được nâng lên thành đô thị loại 2 với diện tích là 256 kilômet vuông, có số dân hơn 174 ngàn người, nằm dưới chân dãy núi Yên Tử và giáp sông Đá Bạc, cách thủ đô Hà Nội 130 km,cách Hải Phòng gần 30 km, và cách thành phố Hạ Long 45 km. Uông Bí có 3 con sông chính là sông Sinh, sông Tiên Yên và sông Uông.Những sông này chạy theo hướng bắc nam.Các điểm du lịch và văn hóa chính là Hang Son, Động Bảo Phúc, Núi Yên Tử, Khu di tích Yên Tử, Hồ Yên Trung, Lựng Xanh, Chùa Ba Vàng...Thành phố đã xây dựng nhà hát ở trung tâm.Uông Bí trở thành thành phố du lịch trọng điểm của Quảng Ninh.
Do thời gian có hạn nên chúng tôi chọn 2 nơi để tham quan. Trước hết là chùa Ba Vàng.Tôi hỏi mọi người trên xe: Vì sao lại gọi chùa có tên là Ba Vàng? Không ai trả lời được.Có một giả thuyết tưởng tượng là ở triền núi này có người nhặt được một lúc ba khối vàng to, sau đó trở thành đại gia giàu nhất Quảng Ninh?! Không chính xác.Chính xác là, theo thư tịch cổ thì được giải thích như sau:
Chùa Ba Vàng có tên cổ là Bảo Quang Tự (nghĩa là “ánh sáng quý”) được xây dựng vào năm Ất Dậu, (năm 1676). Chùa toạ lạc trên lưng chừng núi Thành Đẳng, ở độ cao 340 mét so với mặt nước biển.Chùa nằm trên một vị trí rất đẹp ở phía tây thành phố Uông Bí, phía trước là sông, phía sau tựa lưng vào núi, hai bên là rừng thông xanh ngắt. Chùa Ba Vàng có mạch phong thủy bắt nguồn từ chùa Đồng (Yên Tử) với địa hình hạ đoạn tạo thành thế thanh long trùng điệp chầu về bên trái, bạch hổ hùng vĩ phục xuống bên   phải.
  
Đêm ở chùa Ba Vàng (Bảo Quang Tự)

Chùa Ba Vàng là sơn môn thuộc Trúc Lâm Yên Tử. Ngôi chùa ngày nay được khang trang, có chính điện tráng lệ nguy nga như hiện tại là đã trải qua 4 lần trùng tu, tôn tạo và gắn liền với nhiều câu chuyện kỳ lạ, khá huyền bí mang cả yếu tố tâm linh. Cách nay chỉ khoảng hơn 20 năm, trải qua thời gian và các cuộc chiến tranh tàn phá, chùa Bảo Quang chỉ còn là phế tích với một số di vật cổ bằng đá còn sót lại như: một số bia đá, rùa đá, chân cột và cây hương bằng đá trên có khắc 4 chữ “Thiên Bảo thạch trụ”.
Trước sự xuống cấp của ngôi cổ tự quý chính quyền và nhân dân địa phương đồng lòng tìm cách trùng tu, tôn tạo để gìn giữ giá trị của ngôi chùa. Lần thứ tư trùng tu, xây dựng di tích chùa Ba Vàng vào năm 2010 có quy mô, hiện đại, được chia ra làm nhiều giai đoạn.Lần này,Quảng Ninh với thành ý muốn xây dựng nơi đây làm trung tâm hoằng pháp của tỉnh; là nơi bảo tồn những giá trị văn hóa Phật giáo nói chung và văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam nói riêng.Theo quy hoạch, công trình chùa được xây dựng trên diện tích khoảng 22,00 hecta, trong đó đất dành cho cây xanh cảnh quan chiếm hơn nửa.Tổng mức đầu tư của công trình khoảng 280 tỷ đồng. Nguồn vốn này có được nhờ quá trình huy động, đóng góp công đức của tăng ni, Phật tử, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm khắp nơi.
Chùa mới có đặc trưng của các ngôi chùa Bắc Bộ, gồm 3 gian bái đường, 1 gian hậu cung, gồm có các ban thờ Phật, thờ Mẫu và Đức Ông. Toà “Đại hùng bảo điện” (chùa chính) có quy mô nhất với kiến trúc 2 tầng. Chùa Ba Vàng có nơi thờ Tam bảo và trống độc mộc được công nhận là lớn nhất Việt Nam. Hệ thống tượng pháp trong chùa làm bằng gỗ có cũng có kích thước lớn như tượng Tam thế, Quan âm, ông Thiện, ông Ác… đều cao từ trên 2m trở lên.Trong đó, pho tượng A Di Đà là một trong những tượng Phật bằng gỗ vào loại lớn nhất miền Bắc.
Kế tiếp chùa chính là các công trình như khu giảng đạo, trai phòng, thư viện, lầu chuông… được thiết kế hài hoà, liên hoàn, tạo thuận lợi cho các nhà sư hành đạo cũng như Phật tử đến chùa lễ Phật.Trước cổng chùa có xây một ngôi chùa có tên là chùa Một cột. Đây là phiên bản giống hệt chùa Diên Hựu ở Ba Đình Hà Nội.
Trong chùa còn có một giếng cổ nước không bao giờ cạn. Tương truyền, ai mà uống được nước lấy từ giếng sẽ khỏe mạnh và khỏi bách bệnh. Bởi vậy, nhiều Phật tử, du khách thập phương tới đây đều muốn được uống nước lấy từ giếng lên.
Du khách, Phật tử dù chỉ một lần chiêm bái chùa Ba Vàng sẽ được đắm chìm trong khung cảnh nên thơ, trữ tình mà vẫn cảm nhận được không khí linh thiêng của chốn đạo thiền nhà Phật. Đây không chỉ là nơi để tu tập cho những người đến để học Phật, hiểu Phật và tu Phật, chùa Ba Vàng còn hội đủ các yếu tố của một điểm du lịch sinh thái, văn hoá -lịch sử và là điểm đến của tăng ni, Phật tử, khách thập phương trong và ngoài nước.
                                                ***
Cả buổi sáng trời nắng nhẹ.Từ trên cao có thể nhìn suốt ra biển.Biển Hạ Long đẹp lắm. Cả nhà ghé vào dùng bữa trưa ở một quán ăn. Chẳng hiểu vì lý do gì mà nơi đây, hầu hết những tên quán đều dùng biển hiệu là Phở Nam Định? Trong đầu tôi lại hiển hiện cái sự phát tích của nhà Trần.

3.ĐÔNG TRIỀU-TRIỀU ĐÌNH PHÍA ĐÔNG.

Ở Đông Triều, Quảng Ninh hiện có quần thể khu di tích nhà Trẩn thuộc địa bàn các xã An Sinh,Bình Khê,Thủy An và Tràng An.An Sinh vốn là quê gốc của nhà Trần trước khi dời đến Thái Bình và Nam Định.Ở đây có 14 cụm di tích là đền An Sinh, đền Thái, lăng Tư Phúc, Ngải Sơn Lăng, Thái Lăng, Mục Lăng, Phụ Sơn Lăng, Nguyên Lăng, Đồng Hỷ Lăng,chùa Ngọc Thanh, chùa Ngọa Vân, chùa Tuyết, chùa Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên.
Bộ máy nhà nước Đại Việt lúc bấy giờ đặt ở 3 nơi: Thăng Long là kinh đô chính.Kinh đô chính trị thứ 2 đặt tại Phủ Thiên Trường là nơi Thái Thượng hoàng giám sát vua và cùng điều hành đất nước.Thứ 3 là Đông Triều, nơi hiện nay có khu lăng mộ các vua nhà Trần, Trung tâm văn hóa tiêu biểu của nước Đại Việt thời bấy giờ.
Đông Triều có hệ thống di tích chùa tháp, đền đài, lăng mộ dày đặc, góp phần phát triển Tông phái Trúc Lâm.Phái Trúc Lâm đã hình thành tuyến Phật giáo chủ đạo từ Thăng Long tới Yên Tử mà chùa Quỳnh Lâm là cơ sở chính.Cũng chính nơi này – nơi được coi là Triều đình phía đông của nhà Trần – khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con Trần Anh Tông để xuất gia tu hành.Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo đặc trưng của nước Đại Việt.Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử với vị Tổ thứ nhất là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) , Trong 19 năm tu hành nơi đây đã soạn ra bộ sách Thạch Thất Mỵ Ngữ  và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trên toàn quốc với hàng nghìn pho tượng có giá trị.Sau khi Ngài viên tịch, người kế tục là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330). Tổ thứ ba là Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334).
 Trần Nhân Tông là vị vua sáng lập ra dòng Việt Phật Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ngài là vị vua Phật đầu tiên ở thế gian với tôn hiệu “Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”.
                                                ***
Nhà Trần tồn tại được 175 năm (1225-1400) qua 13 đời vua, 8 thế hệ.Nhà Trần có rất nhiều ông vua là nhà thơ lớn của nước Đại Việt.Có thể nói, sau nhà Lý là nhà Trần đã làm rạng rỡ cho nền thi ca nước ta.Ngày nay, khi nói đến thơ văn thì người ta thường nhắc đến Thơ Văn Lý Trần là như vậy.Hịch tướng sĩ (Dụ chư tỳ tướng hịch văn) của Trần Hưng Đạo là bản “thiên cổ hùng văn” có thể coi là giai đoạn mở đầu cho dòng văn học này.Tiết chế quốc công Trần Quốc Tuấn-Trần Hưng Đạo là một danh nhân kiệt xuất của Việt Nam,đồng thời là danh nhân cổ kim của nhân loại.Ngài đã được Hội đồng các nhà bác học và quân sự thế giới do Hoàng gia Anh chủ trì đã công nhận là 1 trong 10 đại nguyên soái - tướng tài của nhân loại.Đây là một vương triều lừng lẫy chiến công: ba lần chiến thắng Nguyên – Mông. Sau khi quét sạch lũ giặc ra khỏi bờ cõi, ngày 18 tháng 4 năm 1288, hai vị vua anh minh: Thái thượng hoàngTrần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đã đưa số tù binh, trong đó có những tên trùm sỏ Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ…về Phủ Long Hưng ở Thái Bình làm lễ “hiến phù”, mừng dâng chiến thắng lên vua Trần Thái Tông.Tại buổi lễ long trọng này, vua Trần Nhân Tông đã đọc hai câu thơ hào sảng nói lên hào khí Đông A mà cho đến nay, chúng ta vẫn luôn luôn cảm thấy hết sức tự hào:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
Dịch ra quốc âm:
Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.
Hai câu thơ đã nói lên ý chí gang thép của quân dân Đại Việt kiên quyết giữ vững nền độc lập cho nước Việt thân yêu.
                                                          ***

4.THĂM NON THIÊNG YÊN TỬ
.
Trời bắt đầu mưa.Trời nồm gió bấc mưa phùn.Nhiệt độ trung bình 25,26 độ, không lạnh nhưng cảm thấy nhớp nháp khó chịu vì độ ẩm cao.Cậu Thọ là người đã nhiều lần về Yên Tử cho nên làm người dẫn đường tốt.Xe chúng tôi chạy ngược từ trong thành phố Uông Bí trở lại một quảng trên Quốc lộ 18A, đến ngã ba chùa Bí Thượng, rẽ tay phải,đi qua chùa Suối Tắm, chùa Cẩm Thực. Đến ngã ba đường ra Vàng Danh đã thấy phía tay phải trụ sở Ủy ban xã Thượng Yên Công.Tuy là một cơ quan hành chính cấp xã nhưng trụ sở được xây dựng khá khang trang.Đi một đoạn nữa thì gặp chùa Lân (Trúc Lâm Thiền Viện) rồi đến Bến xe trung tâm, người ở đây thường gọi là bến xe Giải Oan.Phía tay trái là trụ sở Ban Quản lý Yên Tử.
Khách đến đây có thể lên chùa Đồng bằng hai cách.Cách thứ nhất khi chưa có cáp treo là đi bộ.Hiện nay vẫn giữ lối đi bộ này nếu du khách muốn.Chặng đường này dài khoảng 6 cây số, len lỏi qua bạt ngàn cây cối, dưới tán rừng trúc, rừng thông với hàng ngàn bậc đá.Điểm gặp đầu tiên là chùa Giải Oan. Vì sao nơi đây lại là chùa Giải Oan và có cả suối Giải Oan.Bắc qua suối là một chiếc cầu bằng đá xanh, dài khoảng 10 mét,cấu trúc bình dị nhưng cũng toát lên vẻ đẹp cổ kính, vững chãi.Có một truyền thuyết: vua Trần Nhân Tông có rất nhiều cung tần mỹ nữ.Họ đã khuyên vua không nên từ bỏ cõi trần (để đi tu).Vua không nghe nên họ đến nơi này gieo mình xuống suối tự vẫn.Vua thương cảm cho xây một ngôi chùa siêu độ để giải oan cho các cung tần.Chùa, suối cho đến bến xe cũng mang tên Giải Oan là như vậy.Qua khỏi chùa Giải Oan, theo đường tung gặp ngay Tháp Tổ.Và cứ thế ta bước vào khu vực chùa Hoa Yên.Nơi đây, chung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Nhân Tông.Hai bên tháp mộ này là tháp mộ sư Pháp Loa và sư Huyền Quang.Chùa Hoa Yên còn có những tên gọi khác là chùa Cả, chùa Phù Vân, chùa Vân Yên. Nhạc sĩ Phú Quang viết ca khúc “Trên đỉnh Phù Vân” chính là nói về nơi đây.Chùa có hàng tùng cổ được cho là vua Trần Nhân Tông trồng khi lên đây tu hành.Đi tiếp du khách được trông thấy ngôi chùa có tên là chùa Một Mái.Tiếp đến là chùa Bảo Sái phía bên phải và chùa Vân Tiêu phía bên trái. Đi tiếp nữa ta sẽ gặp tượng đá An Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn Cờ Tiên.Tột cùng là Chùa Đồng.Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh Yên Tử, khởi dựng vào thời Hậu Lê với tên gọi là Thiên Trúc Tự. Đầu năm 2007, chùa mới được đúc hoàn toàn bằng đồng nguyên chất, cao 3 mét, rộng 16 mét, nặng 60 tấn.
Để rút ngắn lộ trình,Quảng Ninh đã đầu tư hai nhà ga cáp treo.Ga thứ nhất từ chùa Trình lên gần thác Ngự Đội rồi theo các bậc đá lên chùa Hoa Yên.Sau đó lại tiếp tục leo núi qua ga cáp treo thứ hai lên chùa Vân Tiêu rồi đi bộ lên đỉnh Yên Tử (Chùa Đồng)
Con đường thứ hai là đi cáp treo.Chúng tôi vào quày mua vé tham quan và vé đi cáp treo. Cô bán vé hỏi: Hai bác được bao nhiêu tuổi? Tôi và nhà tôi xuất trình Thẻ hội viên Hội Người cao tuổi Việt Nam.Thẻ ghi tôi 81 tuổi và nhà tôi 75 tuổi. Cô bán vé nói: Hai bác được miễn phí.Vé có mệnh giá là 140 nghìn đồng.Từ quày vé vào sân ga cáp treo 1 có thể đi bộ và cũng có thể đi bằng ôtô chạy điện. Mỗi xe chở được 10 người.Gíá vé là 10 nghìn đồng.Tôi hỏi một người lái xe.Xe điện này giá bao nhiêu? Trả lời: -300 triệu đồng. Trong bao lâu thì thu hồi được vốn?-Một mùa lễ hội Yên Tử.Lễ hội được mở từ ngày 10 tháng Giêng (Âm lịch) và kéo dài đến hết tháng Ba.Tuy nhiên, trong suốt cả năm,khách hành hương về Yên Tử không lúc nào ngớt.
Tôi đi lên nơi có đặt cái chuông đồng lớn. Chuông lớn phải dùng dùi lớn buộc dây thúc vào thành chuông.Tôi gióng ba tiếng.Bù…rù rù ù ù…ngân vang rất xa.Tất cả chúng tôi có 6 người vừa đủ cho một chuyến cáp treo. Ca-bin cáp mỗi lần chở đúng 6 người.Ngồi trong ca-bin nhìn ra ngoài chỉ thấy tuyền một màu xanh cây rừng.Một vùng Hòn Ngọc chìm trong mưa bay.Thoáng chốc đã tới bến đỗ.Đoạn cáp treo này dài 1200 mét.Mọi người xuống đi bộ qua chùa Hoa Yên. Chùa Hoa Yên nằm ở độ cao 543 mét so với mực nước biển.Lại len lỏi theo những bậc đá đã được Ban Quản lý chỉnh trang cho dễ đi.
                                                          ***
Lên đến đây, trong vời vợi núi non Yên Tử tôi sực nhớ cuộc hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn – Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức vào ngày 8/8/2012.Một cuộc hội thảo gây không ít dư luận xấu trên thi đàn.
Trong Lời đề dẫn, nhà thơ Hữu Việt đã có những câu có cánh: Yên Từ là một địa chỉ tâm linh quá lớn, một vùng đất thiêng, mà từ lâu đã trở thành miền hành hương của hàng triệu người Việt vào tất cả các mùa trong năm, đặc biệt là vào mùa xuân.Mang trong lòng mình cả thực thuyết lẫn truyền thuyết.Yên Tử quyến rũ không chỉ bởi mây biếc non bồng mà còn chinh phục khách hành hương bằng hào khí của một vương triều quật cường và trí tuệ, nhân văn và kiêu hãnh; nơi một vị vua anh minh đã khai mở thiền phái riêng của người Việt, mang tên Rừng trúc (Trúc Lâm) được ví như cốt cách của người quân tử bao phủ khắp núi non Yên Tử!
 Cách đây đúng 15 năm, có một người đầu tiên đến Yên Tử, đã bất ngờ được Yên Tử “khai tâm”.(Nếu không được non thiêng Yên Tử “khai tâm” thì làm sao một đêm làm được những hàng trăm bài thơ?!.NV).Đó là Hoàng Quang Thuận…Với những ngẫu nhiên lạ lùng mang hơi hướng tâm linh giữa mênh mang Yên Tử,chỉ trong vòng 3 ngày đêm lưu lại ở vùng non thiêng,anh đã viết một mạch 63 bài thơ (?) in thành tập “Thi vân Yên Tử”.Sau đó 3 năm , Hoàng Quang Thuận công bố tiếp “Ngọa vân Yên Tử” với 80 bài…Đến năm 2010,hai tập này được gộp chung thành Thi Vân Yên Tử có 163 bài tất cả. Theo DKA, cùng năm ấy (2010) Hoàng Quang Thuận in tập thơ mới Hoa Lư thi tập, gồm 121 bài.Trong đúng một đêm, như có ai đọc cho Hoàng Quang Thuận nghe và anh chỉ việc chép lại lời thì thầm đó.???Có 72 phép thần thông như Tôn Ngộ Không cũng không thể nào chép ra giấy từ 12 giờ khuya đến 4 giờ sáng được 121 bài thơ.Tính ra cứ 2 phút thì chép được 1 bài.Một sự ngạo nghễ khinh mạn bạn đọc hết chỗ nói!!!
.Trong 21 bản tham luận, có những lời lẽ vượt quá lời bình thơ. Đây là lời bình của DKA: “Những câu thơ hay đến lạnh người, trong tôi bỗng ngân lên:…Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc/Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm/Tiếng sáo thiền ca vui bất tận/Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng…” Giáo sư Hoàng Quang Thuận được sự cổ vũ của bạn bè đã gửi 2 tập thơ này tự ứng cử tham dự xét giải Nobel văn học năm 2012. Hội đồng Hoàng gia Thụy Điển Nobel xét thế nào mà giải lại thuộc về nhà văn Mạc Ngôn?
Mà thôi! Xin miễn bàn về nhà thơ HQT để khỏi mất hứng viết cái Bắc Hà ký sự này.
                                                ***
Sang ga cáp treo thứ hai.Cáp treo này dài 860 mét.Trời bắt đầu mưa nặng hạt.Đường trơn, dễ trượt chân.Tôi nhặt chiếc gậy trúc bên đường.Tới ga thì phải nộp gậy lại.Lên tới bến đỗ lại phải đi bộ một quãng nữa mới lên được Tượng đá An Kỳ Sinh.Do thấm mệt nên tôi ngồi lại quán ăn và mua một lon bia Hà Nội (giá 30 nghìn đồng/lon) và một thỏi xúc xích 20 nghìn đồng để lấy lại sức.Nhà tôi và cậu Thọ, Ngọc và Toàn cùng cháu Hà tiếp tục đi lên chùa Đồng.
Thế rồi, có một cặp tình nhân còn rất trẻ dìu tôi qua những bậc đá lên tiếp.Tại nơi này tôi nhờ cháu trai chụp cho bức ảnh.Vì trời mưa và mây mù dày đặc nên không thấy rõ tượng.Bức tượng đồng Phật hoàng Trần Nhân Tông được khởi công đúc và khánh thành từ năm 2010.Tượng được đặt trên bệ làm bằng bê-tông cốt thép, ốp đá điêu khắc.Thân tượng đồng cao 9,9 mét.Đài sen cao hơn 2 mét, được dựng trên khu đất rộng 2200 mét vuông gồm các công trình sân hành lễ, sân tập kết, không gian tượng An Kỳ Sinh…
Còn dăm chục bậc đá nữa thì tới chùa Đồng. Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh Yên Tử ở độ cao 1068 mét, khởi dựng vào thời Hậu Lê với tên gọi là Thiên Trúc Tự.Đỉnh Yên Tử là ngọn núi thuộc dãy cánh cung Đông Triều.Trên núi thường có mây bao phủ cho nên còn được gọi là Bạch Vân Sơn.Còn ở phía tây dãy núi này lại nằm ở tỉnh Bắc Giang.Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử nằm trên địa bàn các huyện Sơn Động, Lục Nam (Bắc Giang).Nơi này cũng có nhiều thắng cảnh có thể khai thác du lịch tốt.
Đứng ở độ cao hơn nghìn mét này ta có thể chiêm ngưỡng một bức tranh sơn thủy bao quát cả một vùng đông bắc rộng lớn của Tổ quốc thân yêu.Phóng tầm mắt về phía mặt trời mọc có thể nhìn thấy những hòn đảo nhô lên trên vịnh Hạ Long.  Đầu năm 2007, chùa Đồng mới được đúc hoàn toàn bằng đồng nguyên chất, cao 3 mét, rộng 16 mét, nặng 60 tấn.
Yên Tử  trở thành Trung tâm Phật giáo Việt Nam, có tên gọi là Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.Nơi đây vua Trần Nhân Tông đã nghiên cứu kết hợp giáo lý nhà Phật, gắn kết với triết lý nhân sinh dân tộc để hình thành  giáo phái đặc trưng hoàn toàn Việt Nam. Với tư tưởng “nhập thế”, “tu tại tâm” mà ở đó, không tách biệt đạo và đời.Đó là sự hòa hợp tuyệt vời giữa tinh thần dân tộc với tôn giáo, giữa tư tưởng và đạo đức.Thiền phái Trúc Lâm không chỉ thu hút người Việt mà còn được nhiều người nước ngoài quan tâm theo học và tu hành.
                                                          ***
5. XUỐNG NÚI.

Trời đã về chiều.Mưa nặng hạt hơn.Không dù, không mũ che mưa, tôi đội cái mùi-xoa lên đầu cho đỡ ướt tóc.Cả nhà chúng tôi đi vế phía có những bậc đá xây.Còn tôi theo lối cũ có những phiến đá tự nhiên to nhỏ khác nhau, xuống núi.Đường gập ghềnh rất khó đi.Tôi được hai cháu thanh niên cầm tay dắt đi.Vui chuyện, tôi hỏi các cháu ở đâu mà hành hương về đây? Cháu gái nhanh nhảu trả lời: -Con ở Bắc Ninh. -Thế cháu có biết nghệ sĩ Thúy Cải không? Cháu trai nói: -Nghệ sĩ Thúy Cải là bà   của chúng cháu đó!
Bất giác trong tôi nhớ về Kinh Bắc một vài kỷ niệm và kể cho hai cháu này nghe.Số là, sau khi tốt nghiệp Trung cấp Hóa, tôi được bố trí về nhà máy xay Đáp Cầu để thực tập.Mấy tháng ở đây, cứ chiều chiều - những thực tập sinh chúng tôi – tản bộ dọc bờ sông Như Nguyệt,thường gọi là sông Cầu, thăm thú những làng quê yên bình.Có đôi khi leo lên quả đồi Thị Cầu, nơi có ngôi nhà thờ Thiên Chúa bị bom Pháp tàn phá.Và phía trong thung xa là ngôi trường cấp 3 mang tên Hàn Thuyên.Tôi và Vũ Sơn quá bước vào nơi trường này.Chúng tôi quen biết nhiều học sinh lớp 10 (năm học cuối cấp 3), trong đó có nữ sinh tên thường gọi là Tiểu Đính. Tiểu Đính là một cô gái nông thôn mang đậm nét vùng Kinh Bắc, người dong dỏng cao, gương mặt thanh tú, đôi mắt lá răm đen lay láy, sống mũi dọc dừa và đôi má luôn ửng hồng như thoa son.Vũ Sơn đặc biệt có thiện cảm với Tiểu Đính và họ cũng đã đôi lần đèo nhau bằng xe đạp lên tận Sen Hồ hoặc ra Phả Lại trong những ngày chủ nhật.Không hiểu tại sao, sau đó vài tháng thì Vũ Sơn tự sát bằng một viên đạn các-bin?
Đến ga cuối thì tôi mới gặp lại chú Thọ.Gọi điện cho nhà tôi, cho Thúy Ngọc và Phạm Toàn rồi gọi cho cháu Thúy Hà nhưng không thấy trả lời.Trời nhá nhem tối, tôi và Thọ bàn nhau xuống trước.Đến chợ trước bến xe Giải Oan chúng tôi cảm thấy “kiến bò bụng” nên vào quán xơi một lúc 2 đĩa bánh cuốn.Một lúc sau thấy cháu Thúy Hà hớt hải chạy vào quán.Cháu kể lại đoạn đường từ chùa Hoa Yên xuống, cháu không đi cáp treo mà chạy bộ theo con đường cũ, khoảng 6 cây số.Cháu nói rằng rất sợ và rất mệt nhưng vì sợ tối nên phải liều đi.Nửa tiếng sau thì nhà tôi và Thúy Ngọc cùng Phạm Toàn xuống.Cả nhà gặp lại nhau vui mừng khôn xiết.Đến lúc này tôi mới thở phào, hết lo.Tôi nghĩ, nếu tôi 81 tuổi và nhà tôi 75 tuổi,tuổi cao sức yếu, nếu xẩy ra sự cố về sức khỏe thì biết tính làm sao? Trong hàng vạn khách hành hương về non thiêng Yên Tử chỉ có hai cụ già này trên tuổi thất thập!Nhà tôi lại đang còn mang trong mình bệnh tim, nếu chẳng may đột quỵ vào lưng chừng núi thì sẽ giải quyết như thế nào đây?! Trên đường lên xuống Yên Tử có nhiều người bảo chúng tôi là liều mạng.Già mà không liệu sức mình! May mà an toàn.Tôi thầm nghĩ: Chắc Phật hoàng Trần Nhân Tông phù hộ cho chúng tôi nên mới được bình an vô sự như vầy!
Trên đường trở về Hà Nội,chúng tôi ghé lại dùng bữa tối tại một nhà hàng ở thị trấn Quế Võ.Nhà hàng này có món “Thịt trâu đặc sản”.Và có loại rượu “ba kích” ngon nổi tiếng.Tôi nhớ lại lúc chiều khi đi ngang qua các quày hàng ở Ban Quản lý Yên Tử thấy họ bày bán rất nhiều loại cây thuốc nam, thuốc bắc, trong đó rễ cây ba kích là nhiều nhất.Tôi lại nhớ cái Tùy bút Tình Rừng của Nguyễn Tuân.Ông đả phá những tên “đốt rừng” Đốt rừng, chúng đốt cả những cây thuốc quý của núi rừng mà người dân đất Việt rất cần để trị bệnh?!
Tới khuya mới về tới thủ đô. Tôi trằn trọc mãi và vùng dậy lúc gần 2 giờ sáng.Tôi ghi lại cảm xúc của mình qua bài thơ Đường luật như sau”:

                                MINH QUÂN – THÁNH CHÚA
Tìm về Yên Tử chốn quan san
Lập phái Trúc Lâm giữa đại ngàn
Trước diệt Nguyên Mông yên xã tắc
Sau xây Đại Việt vững âu vàng
Cửu trùng phổ độ rời ngôi báu
Vạn tuế chuyên tâm hướng Niết bàn
Điều ngự giác hoàng ngời chánh pháp
                              “Cư trần lạc đạo” sáng trời nam
                 
                           

                            
·       *Cư Trân Lạc Đạo Phú của vua Trần Nhân Tông.Đây là một sáng tác bằng chữ Nôm đấu tiên trong văn chương Việt., là cơ sở lý luận hình thành chủ thuyết "Cư Trần Lạc Đạo" cuả Thiền Phái Trúc Lâm. Toàn bài có 10 hội, mỗi hội gieo một vần. Thứ tự từ vấn bằng ở hội đầu, vần trắc ở hội thứ hai và kết thúc bàng một bài Kệ thất ngôn tứ tuyệt.

Biên Hòa, ngày 16/4/2015

                                                                             Xuân Bảo

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

141B-Bắc Hà ký sự (Phần 2)

141B.BẮC HÀ KÝ SỰ (Phần 2)

Xuân Bảo
1.    NGÀY THƠ VIỆT NAM Ở VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM.

                                               Nhà thơ Hữu Thỉnh khai mạc Ngày Thơ

   Hà Nội hôm nay vẫn lắc rắc mưa phùn nhẹ. Chung quanh Văn miếu Quốc tử giám, từ phố Nguyễn Thái Học vòng qua phố Hàng Bột đã đông nghịt người.Cổng chính vào Khuê Văn các, từng đoàn người già trẻ trai gái trang phục chỉnh tề. Nhiều cụ già khoác cả áo bành tô.Phần lớn những người đứng tuổi mặc complet, thắt cà vạt, Các cụ bà mặc áo dài và khoác lên người áo choàng len hoặc áo bông chần hạt lựu. Nam nữ thanh niên phần nhiều ăn mặc theo thời trang hiện hành, đủ màu sắc, đủ kiểu dáng.Các cháu thiếu niên, nhi đồng tung tăng theo cha mẹ,ông bà vào Văn Miếu.
Có lẽ trên trái đất này chưa có đất nước nào tạo cho mình một nét văn hóa độc đáo như Việt Nam: Ngày Thơ.Nước láng giềng Trung Hoa có một nền thơ ca lừng lẫy với những thi hào, thi bá như Khuất Nguyên,Thôi Hiệu,Lý Bạch…và nước Nga với những đại thi hào Puskin, Lermontov…và nước Pháp với những trường phái thi ca nổi tiếng giữa kinh đô Ánh Sáng với Arthur Rimbaud,Pierr de Ronsard,Molière, Anaton France…Và rất nhiều nước, nhiều vùng lãnh thổ có rât nhiều nhà thơ nổi tiếng thế giới. Nhưng họ chưa có Ngày Thơ cho dân tộc mình.Tự hào biết mấy Ngày Thơ Việt Nam!Và hãnh diện biết bao khi được làm nhà thơ Việt Nam!

Năm nay, Ngày Thơ Việt Nam còn có sự tham gia của hai lực lượng: BộTư lệnh Hải quân và Bộ Tư lệnh Biên phòng, góp phần làm đậm nét chủ đề của Ngày thơ Hướng về biển đảo. Các nhà thơ mang đến Ngày Thơ nhiều tác phẩm hay viết về biển đảo để giới thiệu tới bạn bè quốc tế cùng đông đảo người yêu thơ trong nước. 



Tại Sân thơ truyền thống diễn ra lễ khai mạc trọng thể, các hoạt động đọc thơ, trình diễn nghệ thuật và thả thơ truyền thống. Với chủ đề: Hướng về biển đảo Tổ quốc, bài thơ “Tổ Quốc là tiếng mẹ” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến được cất lên mở đầu cho phần trình diễn và đọc thơ của các nhà thơ. Bài thơ thể hiện niềm tự hào về truyền thống văn hóa lâu đời của đất nước, về tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của bao thế hệ người Việt Nam, đồng thời, thể hiện ý thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo và niềm hi vọng về thế hệ trẻ hôm nay.
 Xen kẽ với các tiết mục văn nghệ mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam, các nhà thơ quốc tế và nhà thơ Việt Nam đã lần lượt thể hiện các sáng tác văn học của mình. Tiêu biểu là nhà thơ nữ Neeva Mukova (Slovakia) đọc thơ Hồ Xuân Hương, thơ Hữu Thỉnh bằng tiếng Việt, nhà thơ Indra Wossou (Nam Phi),nhà thơ Graham Mort (Anh), nhà thơ Martha Collins (Hoa Kỳ), Burne Sambun (Mông Cổ)… thể hiện bài thơ mới sáng tác về Việt Nam, đồng thời giới thiệu về đất nước mình tới bạn bè Việt Nam. Các nhà thơ Y Phương, Hữu Việt, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Thị Mai, Phạm Hồ Thu, Trương Nam Hương cùng các dịch giả là Việt kiều cũng thể hiện cảm xúc của mình qua những vần thơ.!
Sau khi đọc bài thơ Hy vọng của mình, Chủ tịch Hội Nhà văn Sudan Gadour Omer.Ông bày tỏ: “Việt Nam là đất nước của những người anh hùng và thơ ca”.Thay mặt Đoàn khách quốc tế,nhà thơ M.Salmawy,Tổng Thư ký Hội Nhà văn Á Phi,Chủ tịch Hội Nhà văn Ai Cập đã chia sẻ một câu chuyện ông tưởng tượng thú vị: “Giấc mơ vị thần thi ca Ai Cập của mình. Vị thần ấy là đại diện của cái đẹp, tình yêu, nghệ thuật…Và tại đất nước của thi ca, hòa bình và tình  yêu bao la như đất nước Việt Nam, vị thần ấy đã không muốn quay trở về Ai Cập”. Chủ tịch Hội Nhà văn Nga nói: “ Tình yêu đối với Thơ Ca là khởi nguồn của tình yêu cao thượng và nói lên sự phát triển của cả một dân tộc. Ở những nơi Thơ Ca không được  chú  ý thì lập tức cuộc sống xã hội sẽ đi xuống. Thơ Ca còn là nền tảng của văn hóa, của quốc gia. Thơ Ca kết nối tâm hồn văn hóa giữa các quốc gia để xây dựng nên một thế giới hòa bình, nhân ái…Tôi đánh giá cao những Ngày Hội Thơ Ca của dân tộc Việt Nam và chúc dân tộc Việt Nam giữ được truyền thống tốt đẹp này.”


  Chiều  ngày 5 tháng 3, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có buổi gặp mặt 150 đại biểu đại diện các nhà văn, nhà thơ quốc tế dự Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam và Liên hoan Thơ Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 2 tại Hà Nội.Nhiệt liệt chào mừng các nhà văn, nhà thơ quốc tế, Chủ tịch  nước khẳng định trong lịch sử hình thành phát triển, Việt Nam được biết đến là một dân tộc anh  dũng trong đấu tranh giải phóng dân tộc và cũng là dân tộc cần cù trong xây dựng đất nước. Việt Nam còn kế thừa nền văn hóa lâu đời hết sức đặc sắc và đa dạng với sự hòa quyện, phát triển từ các nền văn hoá của 54 dân tộc anh em…Chủ tịch nước nhấn mạnh, trong công cuộc đổi mới,thơ văn giữ vai trò hết sức quan trọng. Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển của đất nước.Đặc biệt, trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, rất nhiều bạn bè quốc tế đã, đang và tiếp tục ủng hộ Việt Nam. Sư hiện diện của các nhà văn, nhà thơ là các sứ giả trên lĩnh vực văn hóa gắn chặt hơn mối quan hệ hòa bình, hữu nghị giữa các nước…
                                                        ***
Điểm khác biệt của Ngày Thơ năm nay là chỉ tổ chức 2 sân thơ lớn: sân Thơ truyền thống và sân Thơ Quốc tế. Tại Lầu Bát giác có sân chơi Thơ của các Câu lạc bộ Thơ, trong đó có gần 30 CLB Thơ của Hà Nội,8 CLB Thơ các tỉnh và 6 trường đại học cũng gây ấn tượng không kém phần sôi nổi.
2.NGÀY THƠ NGUYÊN TIÊU TRÊN CẢ NƯỚC
Những Câu lạc bộ Thơ Ca trong cả nước đã hào hứng tổ chức Ngày Thơ Việt Nam.Tại Đồng Nai, có nơi tổ chức sớm như CLB Thơ Ca Trấn Biên Đồng Nai làm từ ngày mùng mười , tháng giêng ,Âm lịch. Có nơi làm đúng vào đêm Nguyên tiêu như Hội Văn học-Nghệ thuật Đồng Nai. Và cũng có nhiều nơi, do hoàn cảnh và điều kiện thì tổ chức muộn hơn.Tất cả những CLB ấy đều lấy chủ đề chính là Hướng về biển đảo Tổ quốc.
Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó trưởng ban Tổ chức Ngày Thơ Việt Nam đúng vào đêm Nguyên tiêu Ất Mùi đã có hơn 100 địa điểm  khắp đất nước Việt Nam tổ chức Ngày Thơ Việt Nam.
Bài thơ Nguyên Tiêu của Bác Hồ vang vọng khắp non sông.
Nguyên Tiêu
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên
Yên ba giang thượng đàm quân sự
Dạ bán quy lai, nguyệt mãn thuyền
Và đây, bản dịch của nhà thơ Xuân Thủy:
Rằm tháng giêng
Rằm giêng lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
                                      ***
 Hưởng ứng Ngày Thơ Việt Nam, tôi đã có những bài tiểu luận nghiên cứu về bài thơ Nguyên Tiêu của Hồ Chủ tịch như Bải Thơ Nguyên Tiêu vang vọng mãi ngàn năm, bài Trăng trong Thơ Hồ Chủ tịch…Và đã cho in tập thơ Trăng Giêng, trong đó có bài:

 Khấn Nguyên Tiêu
          Xin dâng lên một nén hương trầm
          Khấn nguyện Nguyên Tiêu dạo khúc ngâm
          Thơ Bác nghìn sau vang vọng mãi
          Non sông ngời ngợi ánh trăng rằm
                                                Trấn Biên, ngày 21/3/2015
Nhằm Ngày mùng Hai Bính Thân,Tháng Hai Kỷ Mão, Tiết Xuân phân,năm Ất  Mùi.


                                                                             Xuân Bảo

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

141.bắc hà ký sự(Phần 1)

                         141.BẮC HÀ KÝ SỰ ( Phần 1)
                                                                        Xuân Bảo
1.    VỀ BẮC

Chiều Sài Gòn nắng nhẹ. Cơn gió nồm nam đã xua dần đi cái nóng gay gắt ban trưa. Sân bay Tân Sơn Nhất ầm ì máy bay lên xuống. Nhiều nhất là máy bay của Hãng Hàng không Vietnam Airline. Kế đó là máy bay của các hãng hàng không nội địa.Có dăm ba chiếc của các hãng hàng không nước ngoài như Asia Airline,Air Lufthansa, Air France…
Vợ chồng tôi cùng cháu ngoại Phạm Nguyễn Thúy Hà lên chuyến bay chiều của hãng Hàng không JETSTAR, khởi hành lúc 15 h 35  từ sân bay Tân Sơn Nhất về tới sân bay Nội Bài lúc gần 18 h  ngày 2 tháng 3 năm 2015, nhằm ngày 12 tháng giêng Ất Mùi. Lúc máy bay hạ cánh bầu trời Hà Nội nhiều mây và có mưa phùn nhẹ.Trước đó mấy hôm, cô em ruột nhà tôi tên là Nguyễn Thị Liên Hương, con út của ông bà Tân Việt, ở 9 phố Thanh Hà, gần Ô Quan Chưởng đã đặt phòng ở Hostel Central Ha Noi.Khách sạn này mới khai trương vài tháng.Giá phòng tương đối rẻ. Phòng chúng tôi ở giá 450 ngàn đồng ngày/đêm.Xe của Hàng không chỉ đưa về số 1 phố Quang Trung.Từ đây, chúng tôi đi taxi về nhà.Đến cuối phố Hàng Chiếu xuống xe và chúng tôi ghé vào một quán ăn.Quán này có bán mì xủi cảo tôm tươi.Món ăn mà những ngày Hà Nội đánh Mỹ tôi rất thích.Tôi nhớ lại hiệu mì ông Xây, người Tàu ở 92 phố Huế.Ông Xây nấu món này rất ngon.Tiếng gõ vào cái hũ nhỏ đựng tiêu của ông cũng rất điệu đàng.Cóc, cóc,cóc…cóc và sau đó mùi hạt tiêu lan tỏa khắp cửa hiệu, rất hấp dẫn. Chiều hôm sau, ngày 3 tháng 3, con gái thứ hai của chúng tôi tên là Nguyễn Thúy Ngọc sang Hàn Quốc thăm con gái Đặng Thái Thảo đang học bên đó từ trước Tết, bay từ Séoul  về.  Thúy Ngọc nghỉ tại nhà cô Mai Hương, tên thường gọi của Liên Hương.
                                                ***

2.LÀNG ƯỚC LỄ - QUÊ VỢ.

Làng Ước Lễ thuộc tổng Tân Ước, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Cầu Đơ.Năm 1904 Cầu Đơ mới đổi thành tỉnh Hà Đông.Nay là thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.Đây là một làng quê nhỏ bé thuần nông, có nhiều nét đặc trưng của một làng quê cổ đồng bằng Bắc Bộ.Câu ca xưa: “Ba làng Chảy, Bẩy làng La” là đúc kết từ những nghề truyền thống của một vùng quê. Ba làng Chảy là cụm ba làng xưa gồm Phúc Lâm,Thượng Thụy và Ước Lễ.Phúc Lâm và Thượng Thụy sau này sáp nhập thành làng Phúc Thụy. Còn Bảy làng La (La là lụa) là các làng:La Cả,La Dương,La Nội,La Giang,La Phù,La Khê và La Tinh.Những làng này cặp theo bờ sông Nhuệ, nổi tiếng trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa.
Theo con đường liên xã đi từ thị trấn Thường Tín vào qua Cầu Chiếc,bắc ngang dòng Nhuệ Giang,rẽ tay trái qua làng Tri Lễ là đến làng Phúc Thụy và vào đầu làng Ước Lễ.
Tôi nhớ lại, hồi chưa giải phóng miền Nam, mỗi lần về Ước Lễ thì có nhiều con đường đi: Nếu đi tầu hỏa từ ga Hàng Cỏ, tức là ga Hà Nội xuống đến ga Thường Tín rồi đi bộ về làng.Để về làng trên con đường ngắn hơn, cũng đi tầu hỏa thì xuống ga Tía. Từ ga Tía đi dọc con đường tỉnh Phú Xuyên – Vân Đình. Tỉnh lộ 71 này còn có tên gọi là đường Biên Hòa khi tỉnh Hà Đông kết nghĩa với tỉnh Biên Hòa trong thời gian kháng chiến chống Mỹ. Đi một đoạn đến làng Trừ thì rẽ phải đi bộ về làng.Còn có đến ba con đường về Ước Lễ nữa.Đó là khi qua khỏi thị xã Hà Đông đến ngã ba Ba La-Bông Đỏ thì rẽ trái theo quốc lộ 21B, qua Thạch Bích,Bình Đà (nổi tiếng làng pháo một thời),đến Kim Bài- huyện lỵ Thanh Oai.Khi đến làng Phương Trung, còn gọi là làng Chuông nổi tiếng nghề chằm nón rồi rẽ trái men theo con đường qua làng Do Động về Tri Lễ, xuống Ước Lễ.Nếu cứ thẳng hướng đi Chùa Hương khi đến ngã tư Vác lại rẽ trái, theo con đường liên xã qua các làng Dân Hòa, An Khoái,Quế Sơn rồi qua Tri Lễ về Ước Lễ.

                                                ***

3.THẦN TÍCH LÀNG ƯỚC LỄ.

Theo Thần phả làng Ước Lễ còn để lại ở đình làng thì Tể tướng Lữ Gia, húy là Lữ Húy Gia, người làng Thiên Phúc nay là Đa Phúc, Phúc Yên.Ngài Lữ Gia làm tể tướng ba đời của Nhà Triệu, đến đời thứ tư Triệu Ai Vương- năm 111 trước công nguyên thì tịch.Trong cơn cuồng chiến của lũ giặc Nam Hán, Ngài bị giặc vây và bị chém đứt đầu.Khi Ngài phi ngựa về đến Bãi Gấu trước cổng làng Ước Lễ thì hóa.Ngựa của Ngài lồng chạy được dân bảy làng La bắt về nuôi.Dân làng Phúc Lâm lượm được đầu Ngài đem về táng ở thềm đình.Dân làng Minh Thụy lượm được thân Ngài mang về chôn ở nền Miếu Minh.Còn dân làng Ước Lễ đến sau nên chỉ thấy còn lại những vệt máu của Ngài, bèn lấy lông gà vét những giọt máu của Ngài đem về vẽ thành tranh chân dung Ngài thờ ở hậu cung đình làng Ước Lễ, tôn làm Thành hoàng.
Theo truyền thuyết: Vào những ngày lễ hội rước Thánh Thành Hoàng, dân Ước Lễ rước kiệu bài vị Thánh Thành Hoàng sang đình làng Phúc Lâm để trình, rồi lại hồi cung vế đình làng mình làm lễ tế tự.Dân làng Phúc Lâm được tôn làm Dân Anh, còn dân làng Ước Lễ tự nhận mình là Dân Em.Tục lệ này đã có từ hàng ngàn năm qua.
Người anh hùng dân tộc Tể tướng Lữ Gia hy sinh vào ngày 12 tháng 9 năm Canh Ngọ. Nếu tính theo lịch Công giáo thì đúng vào ngày Thứ Hai, 29 tháng 10 năm 111 trước Công nguyên, cách đây đúng 2126 năm (tính đến thời điểm tôi viết Bắc Hà ký sự này).Để tưởng nhớ công lao đó có tới 72 làng tôn Ngài là Đức Thánh Thành hoàng làng.Trước đây,do công việc ngày mùa bận rộn (thu hoạch vụ mùa) nên dân làng nhất trí dời ngày Việc làng giỗ Thánh trước 1 tháng, tức là ngày 12 tháng 8 âm lịch.


4. SỰ TÍCH CÁI CỔNG LÀNG

Cổng làng nhìn từ ngoài có ba chữ Hán đề Ước Lễ Môn.Hai bên tả hữu là hai câu đối bằng chữ Hán.Phiên âm sang Quốc ngữ là:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường thượng cổ nguyện tàng kỳ thị;
Xôn xao trước thầy sau tớ mã xa phục quá thử kiều.
Dịch nghĩa:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường bán buôn nguyện tàng chợ búa;
Xôn xao trước thày sau tớ ngựa xe qua lại cầu này
Cầu này xây từ lâu lắm rồi.Cầu xây bằng gạch đặc, cong cong hình bán nguyệt.Hai bên lan can cầu, mỗi bên có bốn trụ.Cầu rộng hơn hai mét,dài khoảng mười mét, bắc sang một con hào.Con hào này xưa kia là thành lũy theo truyền thống “thành cao hào sâu” để bảo vệ dân làng khỏi bọn trộm cướp.Thành cao được thay thế bằng lũy tre gai dày đặc, một con chim sẻ khó bay lọt.Phía tả có một cái cột bằng đá xanh có khắc hai chữ Hán: Hạ Mã (tức là Xuống ngựa) Thời phong kiến các quan bất kể là ai từ lý trưởng,chánh tổng, tri huyện, tri phủ, lãnh binh, án sát, tuần vũ, tổng đốc, kể cả các vị đại thần của triều đình khi về đến làng là phải xuống ngựa đi bộ.Lâu ngày cái trụ Hạ mã không còn nữa.Trên gác cổng có bức đại tự cũng bằng chữ Hán: Mỹ Tục Khả Phong, nghĩa là Phong tục tốt đẹp được ban tặng.Đây là sắc phong của vua Tự Đức, ban vào năm Tự Đức thứ 33 nhằm vào năm Canh Thìn 1880.Năm đó,nhà vua đi kinh lý qua nhiều nơi ở Bắc Hà, nhận thấy nhiều làng có phong tục hay cần phổ biến rộng cho thần dân noi theo.Ước Lễ là một trong sáu làng được vua Tự Đức ra chiếu sắc phong cho danh hiệu đẹp đó.Qua khỏi cổng làng, phía tay phải là Đình Ước Lễ, phía tay trái là chợ. Cái chợ này thời trước là chợ lớn nhất vùng. Cứ 5 ngày chợ phiên nhóm một lần,thu hút nhiều mặt hàng các nơi tụ về.Chợ họp ở dưới gốc đa to, ngày nay cây đa vẫn còn,tỏa bóng khắp một vùng và giờ chỉ còn lại một cái chợ xép thôn quê.

 5. NGHỀ TRUYỀN THỐNG: THỢ MAY VÀ GIÒ CHẢ.

Làng này có hai nghề truyền thống. Đó là nghề thợ may và nghề làm giò chả.Nhưng nghề làm giò chả là nổi tiếng nhất.Từ xa xưa, những con dân của làng đã tìm về thủ đô ngàn năm văn vật để mưu sinh bằng nghề truyền thống của cha ông.Ước Lễ chỉ cách Hà Nội không đầy hai mươi cột số lô mét.Nếu tính theo đường chim bay thì chỉ hơn 10 kilômet.
Giò chả có nhiều loại như giò thủ, giò hoa, giò bì,nem chua,chả lụa, chả quế mà đặc biệt là cái giò lụa.
Giò chả Ước Lễ đã góp phần vào nền văn minh lúa nước của đồng bằng Sông Hồng và làm phong phú nền văn hóa ẩm thực của Hà Thành.
Những năm thập kỷ 60 thế kỷ trước tôi có may mắn được làm giai tế làng Ước Lễ, làm con rể của ông bà Nguyễn Viết Điền và Nguyễn Thị Tỵ. Ông bà có cửa hiệu Cơm tám giò chà Tân Việt nổi tiếng ở số nhà 60A phố Huế.Dân Hà Nội quen gọi tên ông bà là ông bà Tân Việt, ít khi gọi đúng tên cúng cơm của ông bà.   
Nơi đây, tôi đã được thực mục sở thị cách làm giò chả.Bắt đầu là cái cối giã giò. Cối làm bằng đá xanh, một loại đá có rất nhiều ở núi rừng nước ta.Và đôi chày tay làm bằng gỗ mít hay gỗ nghiến không có mùn và có trọng lượng đủ để giã thịt lợn nhuyển ra. Chày có hình dạng như một quả tạ tập tay, hai đầu hình thành hai khúc , ở đoạn giữa khoét lõm vào làm tay cầm đủ cho một bàn tay nắm.Phải là những người có sức khỏe tốt mới nhấc nổi cái chày tay này.Nhất là khi thịt trong cối bắt đầu nhuyễn.Thịt dính chặt vào đầu chảy. Người giã phải lấy một miếng mo cau bằng bàn tay để gạt thịt xuống lòng cối. Giã giò là một nghệ thuật.Và thợ giã giò phải là người tinh thông, nhìn miếng thịt nào là có thể gói giò, miếng thịt nào phải loại ra.  Giã không ngơi tay và nhất thiết không để thịt lợn rời rạc, không quánh dẻo.
Đầu thế kỷ trước, bác Xuyên của vợ chồng chúng tôi mang cái văn minh giò chả Ước Lễ về tận đất cảng Hải Phòng để kiếm sống.Cũng như cụ Đoàn Văn Ty, hiệu Chả cá Lã Vọng, rời bỏ Xứ Đoài Sơn Tây ra bến Sáu Kho lập nghiệp và làm nên món chả cá lừng danh.Bốn giờ sáng khi cả thành phố hoa phượng đỏ còn đang ngủ yên là cả nhà bác Xuyên đã thức dậy. Bác Xuyên gái ra thịt, lọc loại nào ra loại đó.Bác Xuyên trai lót dạ bằng  một tẩu thuốc phiện nhỏ, chiêu vài ngụm nước chè Tân Cương và bắt đầu ngồi vào chiếc ghế gỗ,gần kề miệng cối.Tiếng chày nện đều đều, không nhanh cũng không chậm. Nghe tiếng giã giò, người sáng tác bài hát có thể có nhiều cảm hứng để viết nên một khúc nhạc trầm.Dù bác không phải là người tráng kiện cho lắm nhưng bác vẫn làm giò năm này qua năm khác.Cho đến những năm Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, giò chả của bác Xuyên vẫn có mặt trên các sạp chợ Thành Tô.Bác ít khi ốm đau. Có lẽ nhờ vào cái khói của ả phù dung ấy chăng mà bác có được sức khỏe dẻo dai lạ thường? Người trong nghề và có lương tâm nghề nghiệp không bao giờ dùng thịt bã để gói giò.
Thịt lợn nạc là nguyên liệu chính.Phải là thịt lợn mới mổ, thớ thịt còn nhảy, sờ vào miếng thịt còn hơi nong nóng.Miếng thịt tuyền nạc là miếng thịt không còn một tý mỡ, không còn gân bầy nhầy bạc nhạc.Cái lá chuối tươi là thứ không thể thiếu để bó một cái giò lụa. Bởi vì cái mùi và mầu đặc trưng của lá chuối: mùi thơm chát ngậy và và mầu lá xanh non bao quanh khúc giò mới hấp dẫn làm sao! Thiếu mùi và mầu của lá chuối tươi thì không còn là cài giò lụa Ước Lễ nữa!
Đề bó giò phải có lạt giang. Cây giang thuộc họ tre, có rất nhiều ở mạn rừng tỉnh Hòa Bình.Giang được chẻ mỏng, to bản.Khi bó bao giờ cũng phải chừa một đoạn lạt để xoắn cái dây treo giò lên con sào cho ráo nước.Ở hai đầu cái giò lụa được các cụ tổ đặt cho cái tên nghe hay hay: đầu dày! Người sành ăn thích thưởng thức cái đầu dày phía trên, nơi có sợi lạt buộc treo giò.Lát đầu dày này vừa khô, vừa giòn. Câu ca xưa: “thanh lan chị không bằng bánh dày em”. Thanh lan là cái đầu dày giò lụa đó.Thanh lan đầu dày ngon bởi vì nó tụ hết hương vị lá chuối và gia vị vào. Gia vị là loại nước mắm ngon mà chỉ có Hãng  nước mắm Vạn Vân ở phố Trần Nhật Duật,nhìn ra cột đồng hồ, gần chân cầu Long Biên mới là thứ chính hiệu.Nước mắm Vạn Vân vừa thơm vừa đủ độ đạm.Nước mắm Vạn Vân không dùng chai nhựa và thủy tinh mà dùng cái chĩnh bằng gốm. Miệng chĩnh rộng chừng năm phân nhô lên trên bầu chĩnh to tròn gấp đôi quả bóng đá. Nước mắm rót vào chĩnh và được khằng lại bằng thứ xi, chắc và bền hơn cả xi-măng.Hà Nội có phố Hàng Chĩnh là nói về cái chĩnh nước mắm này.Hồi đó không ai đem bột mì chính pha làm giò chả. Khúc giò lụa, khi cắt ra theo chiều ngang, không ai bổ dọc,có ít lỗ bằng hạt ngô sót lại trên bề mặt thì mới thực ngon.Các cụ ta xưa thường dùng chiếc tăm tre xiên qua miếng giò để nhâm nhi với loại rượu ngang Đỗ Động, Tốt Động hay là rượu Trương Xá hay Nàng Vân.

                                                          ***








6..ĐI BÁN RONG GIÒ CHẢ.

Nhạc mẫu của tôi, bà Nguyễn Thị Tỵ được sinh ra tại Hà Nội.Nhà các cụ ngoại ở đầu ô Cầu Dền, số nhà 11 phố Bạch Mai. Hà Nội xưa có năm cửa ô: Ô Cầu Dền,ô Chợ Dừa, ô Quan Chưởng,ô Cầu giấy và ô Đống Mác.
 Cửa Ô Đống Mác từ ngả Hà Đông vào, ghi dấu chiến công hiển hách của Hoàng đế Quang Trung, kết thúc bằng trận Ngọc Hồi Đống Đa, đánh tan 20 vạn quân Thanh vào đầu năm 1789.Nơi đây còn lưu lại câu chuyện tình tuyệt đẹp giữa công chúa Ngọc Hân với nhà vua. Khi chiếm lại được Hà Thành vào sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung sai ngay cận thần tức tốc phi mã mang cành đào Nhật Tân vào Phú Xuân tặng Ngọc Hân.Đây là cành đào báo tiệp mừng thắng lợi toàn vẹn non sông.Một cử chỉ rất lãng mạn của người anh hùng áo vải.Và Ngọc Hân cũng đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một giai phẩm văn chương tuyệt cú.Đó là tác phẩm Ai Tư Vãn.
Cửa Ô Cầu Giấy, từ phía Sơn Tây xuống. Nơi còn đó cái mả không đầu của tên quan Năm Tây Hạm trưởng Henri Laurent Rivière bị quân Cờ Đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc chém chết khi hắn cố tình đánh chiếm Hà Thành.Trong bài hát Tiến về Hà Nội của nhạc sĩ Văn Cao khi khởi nghĩa Cách mạng thành công, có những câu:
Trùng trùng quân đi như sóng/Lớp lớp đoàn quân tiến về/…Năm Cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về/Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào/… Hà Nội bừng Tiến quân ca…


                                                




Khi còn là một thiếu nữ, bà nhạc tôi theo bố mẹ làm nghề giò chả.Có lần bà kể cho con cháu nghe cái thời bà đi bán rong giò chả khắp 36 phố phường.Bước chân của bà thông thuộc mọi đường ngang ngõ tắt.Cũng như nhiều người bán rong giò chả khác, không bao giờ nghe tiếng rao của họ như những người bán rong các mặt hàng khác.Hồi đó, Hà Nội ít tiếng ầm ầm, ồn ả của động cơ ô tô, bình bịch.Những tiếng rao đêm đã thấm vào từng viên đá lát, từng mái ngói rêu phong và hằn sâu vào ký ức mọi người. Tôi có ý định viết cái tùy bút “Tiếng rao đêm” của Hà Thành.Này đây tiếng rao: “Phơ ơ ơ ơ”kéo rền con ngõ nhỏ Phất Lộc. Gánh phở này sau này làm ăn khấm khá đã trở thành một hiệu phở đắt khách. Này đây tiếng rao “lục tào xá…á a!”,”bánh khúc đê…ê ê”,”lạc rang húng lìu đê…ê”…Lại có chú Tiều chuyên bán cái thứ quà trẻ con rất thích với tiếng rao như một khúc nhạc: “bi doong doong, bi dòong  dòong”. Tiếng rao đi kèm cái lục lạc reng reng nghe rất vui tai.Người Hà Nội ít ai quên bóng dáng ông xẩm mù với chiếc chiếu đơn kẹp nách,một cái chuông đồng nho nhỏ và chiệc gậy dò đường.Gần nửa đêm ông mới lò dò đi từ đầu phố Hàng Đào lên chợ Đồng Xuân. Lúc này các bà chủ hiệu tơ lụa Hàng Đào, Hàng Ngang và các bà chủ các cửa hàng bánh kẹo Hàng Đường và các bà tiểu thương chợ Đồng Xuân đã ổn định việc buôn bán tất bật trong ngày, cần thư giãn gân cốt, cần đấm bóp cho lưu thông mạch máu nên phải nhờ đến cái món tẩm quất. Đầu tiên người ta nghe rao tiếng “tẩm” cùng với tiếng chuông nhỏ kéo dài đến một chục bước chân mới buông tiếng “quất” ra, nghe rất buồn. Tiếng rao “tẩm…quất”.vang lên trong đêm Hà Nội sao nghe da diết quá!
Trong cái thúng đội trên đầu của bà nhạc tôi có đủ các loại giò và chả.Giò gương to bảy phân, mười hai phân, có những khoanh chả quế vàng ươm, thơm phức và những cái bánh dày còn thơm mùi nếp cái hoa vàng của làng Nhị Khê, Thường Tín – nơi có câu chuyện “Rắn báo oán” huyễn hoặc – đã làm cho gia tộc Ức Trai tiên sinh chịu cái án oan tru di tam tộc do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh gây nên. Vụ án Lệ Chi Viên mãi gần đây (tức là 600 năm sau mới được giải oan).Đền thờ nữ học sĩ Nguyễn Thị Lộ được nhân dân Hà Nội dựng tại làng Khương Thượng, bên cạnh lăng Nguyễn Trãi.Ở tỉnh Thái Bình, tại làng Tân Lễ, còn gọi là làng Hới, quê hương của Nguyễn Thị Lộ cũng đã xây đền thờ thờ Bà.
Nhạc phụ của tôi là ông Nguyễn Viết Điền, người cùng làng với nhạc mẫu tôi ra Hà Nội làm ăn từ đầu thế kỷ 20.Ông rất giỏi nghề thợ may Tây, có cửa hiệu ở phố Tràng Tiền mang tên Hiệu may Cát Thịnh. Tràng Tiền trước đây còn mang tên tên toàn quyền Paul Bert (rue Paul Bert)là con phố sang trọng nhất, đi thẳng từ bờ hồ Hoàn Kiếm đến Nhà hát lớn.Trên dãy phố này còn có một ngôi nhà 6 tầng, cao nhất Hà Nội lúc bấy giờ. Đó là nhà in IDEO, sau này là nhà in báo Nhân Dân.Góc phố ngã tư phía Hàng Bài, thời Pháp thuộc có tên là Boulevard Dong Khanh. Cửa hàng mang tên Gô – Đa chiếm cả ba mặt tiền: Tràng Tiền, Hàng Bài và phố Hai Bà Trưng. Sau giải phóng thủ đô, Thương xá Gô – Đa được Sở Thương nghiệp Hà Nội bố trí làm cửa hàng Bách hóa tổng hợp to nhất Hà Nội.
Ông nhạc tôi trông coi hiệu may Cát Thịnh.Hà Nội còn có những hiệu may âu phục nổi tiếng như Tiến Thành phố Lê Thái Tổ, Anh Quân, Bùi Huy Nhượng… ở phố Hàng Trống và các hiệu may áo dài, áo cánh ta, áo bông chần hạt lựu…thì nằm rải rác ở phố Lương Văn Can và phố Hàng Quạt.
 Bà nhạc tôi thì quản lý hiệu Cơm tám giò chả ở 108 phố Huế, đối diện với rạp cinéma Đại Nam bên kia đường.Ngôi nhà này thông sang phố Mai Hắc Đế.Nhà được nhượng lại cho Bà Anh Phương và bà đã mở hiệu sách Anh Phương.  Ông bà Tân Việt tậu ngôi nhà 60A phố Huế và mở hiệu ăn Cơm tám giò chả Tân Việt, vừa sản xuất giò chả vừa bán hàng cơm.Cũng chính vì ông bà Tân Việt có hai cửa hàng lớn nằm ở vị trí đắc địa của trung tâm Hà Nội nên Ban Cải tạo đã đưa vào danh sách cần cải tạo nhà tư sản dân tộc Nguyễn Viết Điền Nguyện Thị Tỵ.Cho đến lúc tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh (thời gian từ năm 1956-1960) thì đưa vào công tư hợp doanh với lợi tức thường niên được chia lãi là 3 đồng 3 hào tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa! Cái tên Cơm tám giò chả Tân Việt được thay tên mới là Cửa hàng ăn uống 60 phố Huế (thuộc công ty Ăn uống  khu Hai Bà).
                                                ***



7. CHUYỆN CÂY ĐA BÀ TỀ.
 Tôi còn nhớ như in, khoảng giữa năm 1961 vợ chồng chúng tôi về Ước Lễ dự Hội Chùa Sổ.Từ phía làng Trừ lên,khi ngang qua cánh đồng ta bắt gặp một cây đa to mọc đơn độc giữa đồng,có tên là cây đa Bà Tề, rồi vào làng. Gọi là cây đa Bà Tề vì quán nước Bà Tề dựng tựa vào gốc đa này.Tôi đã tò mò hỏi chuyện và giờ đây xin kể lại để hầu bạn đọc.Vợ chồng chúng tôi đi bộ thấm mệt. Lúc này nhà tôi có mang đứa con đầu lòng.Đó là cháu Nguyễn Triệu Quang.Người đàn bà bụng mang dạ chửa mà phải đi bộ một quãng đường khá xa, gần 4 kilômet là điều không nên. Chúng tôi bèn vào nghỉ một lúc ở quán Bà Tề, ngồi trên một chiếc ghế băng làm bằng những đoạn tre ghép lại.Trên chõng có cái ấm giỏ đựng nước vối và vài ba chiếc bát ăn cơm Bát Tràng để rót nước cho khách.Phía bên trong là một cái giường tre, ngăn với bên ngoài là một chiếc chiếu rách thủng nhiều chỗ. Có đến năm sáu đứa trẻ tuổi chừng một hai cho tới sáu bảy tuổi.Mặt mũi đầy rãi nhớt, đen nhẻm.Có đứa khóc, có đứa cãi nhau chí chóe. Ông Tề, khoảng trên 30 tuổi nhưng trông già như gần 50.Người gầy nhong nhỏng cao, nước da sạm nắng, rót nước cho chúng tôi. Tôi tò mò hỏi: -Hai bác có mấy cháu?.-Dạ sáu đứa.-Làm sao mà đẻ lắm thế? - Không dấu gì anh chị.Nhà chúng tôi nghèo nên phải tất bật làm ăn.Tôi thì đi làm thuê.Ai thuê làm gì thì tôi làm việc đó. Gánh phân, làm cỏ, bổ củi và nhiều việc không tên khác.Nhà tôi trông coi cái quán nước này, thu nhập không đáng kể.Thằng nhớn hiện đi mò cua bắt ốc ngoài đồng chưa về.Tuy cháu mới 7 tuổi nhưng cũng đã đỡ đần cho bố mẹ được nhiều việc.Có nhiều đêm trằn trọc mãi không sao ngủ được.Cái để chóng quên đi cuộc đời nghèo khó này là rượu nhưng tôi lại không uống được rượu. Vậy nên vỡ kế hoạch triền miên, liên tiếp ba năm đôi!Tuy nghèo nhưng vợ chồng chúng tôi vẫn yêu thương nhau.Đói no có nhau.Chúng tôi cũng không trách trời cao đất dày. Cái số mình nghèo thì đành chịu vậy!
Nghe ông Tề kể mà lòng chúng tôi thấy xót xa, ngậm ngùi.Tôi thật không sao hiểu nổi hoàn cảnh của ông bà Tề. Hình như họ không có liên hệ gì với thế giới văn minh của loài người.Không những ông bà Tề không biết chữ. Đến như các cháu đáng lẽ phải vào mẫu giáo hoặc cắp sách đến trường thế mà chúng chỉ quẩn quanh gốc đa.Lớn lên một chút thì làm bạn với con cua, con ốc!!!
Giờ đây cây đa và quán nước Bà Tề không còn nữa.Con đường đất xưa thay thế bằng con đường bê-tông thẳng vào cuối làng. Một khu đất rộng cạnh cổng cuối làng là bãi đậu xe hơi.Có tới hơn mấy trăm chiếc xe cùa những người con xa quê ở khắp mọi miền đất nước và cả ỏ hải ngoại tìm về quê cha đất tổ trong những ngày đầu xuân này.Nhìn dòng người tấp nập ra viếng chùa và đặt hương hoa lên các ngôi mộ, bất giác tôi nghĩ đến mấy câu thơ của Đỗ Trung Quân:
Quê hương mỗi người chỉ một/Như là chỉ một Mẹ thôi/Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nổi thành người…

                                                ***

8.THẮP HƯƠNG NHÀ THỜ TỔ PHỤ
Xe dừng trước cổng nhà của vợ chồng cô Mai Hương.Chồng Mai Hương là cựu chiến binh Đặng Chí Hòa, con trai thứ của cụ Đặng Gia Xá, người làng Ước Lễ. Cụ Đặng Gia Xá ra Hà Nội lập nghiệp bằng nghề thợ may Tây từ những năm đầu thế kỷ 20, ở tại phố Lý Quốc Sư gần Nhà thờ lớn Hà Nội.Hòa không may bị bệnh nặng, qua đời lúc 55 tuổi cách đây ba năm. Cơ ngơi của vợ chồng Hòa Hương   khá rộng, chừng hơn 1000 mét vuông, có ngôi nhà 2 tầng thoáng mát, có khoảng sân rộng đủ chỗ đỗ cho 4 chiếc xe con và một bức vườn trồng những loại cây ăn quả: bưởi,na,khế…Một cái ao cá to, mỗi mùa tháo khoán cũng được hơn tấn cá các loại.
Từ đây,tất cả chúng tôi đi bộ vào nhà thờ tổ phụ để dâng hương. Ngôi từ đường này là nhà của các cụ tổ sinh sống từ đời này qua đời khác của dòng họ Nguyễn Viết.Trong khuôn viên từ đường hiện có nhà của người con bác Cả Nguyễn Viết Sửu tên là Nguyễn Viết Toàn ở để tiện bề hương khói thờ phụng. Chúng tôi qua nhà người em tên là Nguyễn Viết Phong, con ông chú ruột thắp nhang cho cô chú Vân rồi mới đi ra chùa Sổ. Nghĩa địa làng  tọa lạc ngay trước mặt chùa.  
Bên cạnh cổng cuối làng, phía tay phải là Đài tưởng niệm, nơi thờ các anh hùng liệt sĩ của làng. Làng Ước Lễ tuy nhỏ, dân số ít nhưng đã cống hiến cho hai cuộc chiến tranh vệ quốc đánh Pháp và đuổi Mỹ những người con thân yêu của mình. Trên tấm bia lớn đặt trang trọng chính giũa đền ghi rõ tên tuổi hai Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lượng và Nguyễn Thị Cát. Tiếp đó là danh sách 70 liệt sĩ với đầy đủ ngày tháng năm sinh, ngày hy sinh.Khuôn viên tuy nhỏ nhưng người dân Ước Lễ cũng trang trí nhiều cây cảnh đẹp, có ghế đá cho khách nghỉ chân. Đứng trước anh linh các liệt sĩ, lòng mình tự nhiên thấy rưng rưng, bồi hồi xúc động nhớ về những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Và dù đã qua đi gần 40 năm, những ký ức cuộc chiến vẫn hiện về rõ mồn một trong tôi.Tự hào biết mấy mình cũng đã từng được làm anh lính “Bộ đội Cụ Hồ”!
           
Lễ hội Chùa Sổ năm nay không tổ chức lớn vì chùa đang được   trùng tu.Mọi người dâng hương trước tượng Phật Bà Quan âm và cúng dường vào hòm công đức ngay trước cổng chùa.Chúng tôi ra nghĩa địa và thắp nhang mộ tổ, mộ các cụ nội ngoại và bố mẹ cùng những người thân thích trong dòng tộc đã về cõi vĩnh hằng.
Một nét rất đặc biệt của làng Ước Lễ là ngay sau khi ở chùa, ở nghĩa trang về.Bữa tiệc của nhiều gia đình, ngoài các món giò chả, thịt gà, trên mâm cơm đều có món thịt cầy dựa mận.Nếu gia đình nào không mổ cầy thì ra chợ nhỏ đầu làng mua về.Chợ vẫn là trên nền chợ ngày xưa. Cây đa tỏa bóng trùm lên một khoảnh đất rộng. Gốc đa nhiều rễ và dưới gốc ngày trước có rất nhiều ông bình vôi.Con đường chính xuyên qua làng Ước Lễ từ đầu làng đến cuối làng khá rộng, đã được bê-tông hóa.  Ôtô  con có thể lưu thông dễ dàng.
                                       Hà Nội, Nguyên tiêu Ất Mùi(5-3-2015)
                                       Biên Hòa,Ngày 22 tháng Giêng,Ất Mùi -Ngày giỗ Mẹ-Bà Nguyễn Thị Kim Dung lần thứ 7.(12-3-2015)
                                                                             Xuân Bảo


Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

140. Đến với bài thơ hay


140. Đến với bài thơ hay:
                                       NÉT XUÂN
                             Ánh dương rắc hạt sáng đường trần
`                           Én vẽ trời xanh nét nét xuân
                             Lạc bước thi nhân vào cõi mộng
                             Hài in lối cũ gót giai nhân
                                                                   Xuân Bảo
Lời bình của nhà thơ Hạnh Phương:
Thơ Đường luật anh viết không nhiều, nhưng những bài anh đã cho xuất bản, nhiều bài thực hay, đẹp:“Ánh dương rắc hạt sáng đường trần/Én vẽ trời xanh nét nét xuân/Lạc bước thi nhân vào cõi mộng/Hài in lối cũ gót giai nhân” (Nét xuân). Hai câu đầu của Nét xuân là một bức tranh xuân, mơn mởn một sức sống, rất mới. Hai câu sau của bài thơ thì nhà thơ đã lạc bước hoài niệm rất cổ điển, rất Đường thi…
Thơ Đường luật để là Đường luật của Việt Nam luôn đòi hỏi những bước đột phá, bứt phá, vượt thoát khỏi những hệ luy hình thái tư tưởng cổ điển...để biểu cảm cho tròn đầy cảm xúc đương đại, hiện đại, bây giờ.
Bước đột phá ấy đã thấp thoáng thấy trong Thơ Đường luật Xuân Bảo.





Đến với bài thơ hay:
                                      ANH LÀ CON SÓNG
                             Đã lâu lắm từ xa xưa
                             Sóng là của biển vỗ bờ ngàn năm                            
                             Biển là của sóng thủy chung
                             Sóng chồm lớp lớp mịt mùng biển em
                             Những lúc biển lặng êm đềm
Anh là con sóng dịu êm ngọt ngào
                             Ngô Thanh Xuân
 Lời bình của nhà thơ Xuân Bảo:
Nhân đọc tập thơ Hương quê của Ngô Thanh Xuân,NXB Hội Nhà Văn, tôi cảm được một điều rất rõ là: Không khí văn chương Hà Thành đã thấm đẫm vào dòng máu của nhà thơ. Ngô Thanh Xuân sinh ra tại làng Lộc Hà, tổng Hội Phủ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Nơi đó có con sông Đuống đã đi vào thơ ca bất hủ của Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm) và Ngô Thanh Xuân là người cùng làng và bà con gần với danh sĩ Ngô Tất Tố.
Nhà thơ rất đa tình khi nhìn thấy biển và sóng. Về đề tài này rất nhiều nhà thơ đã viết và viết rất thành công như Biển của Xuân Diệu . Biển của Xuân Quỳnh…Với Ngô Thanh Xuân thì Biển và Sóng trở thành “đôi tình nhân”. Sóng là của biển vỗ bờ ngàn năm/Biển là của sóng thủy chung…Nhưng phải nói rằng nhà thơ có cái nhìn rất táo bạo khi nàng viết: Sóng chồm lớp lóp mịt mùng biển em. Nhà thơ tình nổi tiếng Xuân Diệu dù rất mãnh liệt trong tình yêu nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức: Nhớ em như một vết thương/Trong lòng như vỡ mảnh gương trong lòng. Dù dữ dội:sóng chồm lớp lớp mịt mùng biển em. Nhưng những lúc biển lặng, lúc tình yêu thăng hoa đến đỉnh điểm và lắng đọng thì: Anh là con sóng dịu êm ngọt ngào.

Có thể nói đây là một bài thơ tình hay, rất hay trong nhiều bài thơ tình của nhà thơ Ngô Thanh Xuân.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

139.CLB Thơ ca Bình Đa ăn Tết sớm

             
139.CÂU LẠC BỘ THƠ CA BÌNH ĐA ĂN TẾT SỚM ẤT MÙI 2015
                                                         
CLB Thơ ca Bình Đa từ ngày thành lập tính đến nay (2015) vừa tròn 9 tuổi. Với sức vóc của một CLB cấp phường, trong 8 năm qua CLB đã vượt qua nhiều khó khăn chồng chất, nhất là về phương diện tài chính nhưng cũng đã xuất bản được 4 tập sách. Xuất bản định hình được 3 cuốn Âm vang Bình Đa 1, 2 và 3 khá dày dặn về số trang và có chất lượng về nghệ thuật. 

Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập phường Bình Đa (1-9-1988 – 1 -9- 2013), CLB cho xuất bản số Đặc biệt mang tên Về Bình Đa. 



                                Họp mặt mừng Năm mới 2015 và ăn Tết sớm Ất Mùi

Trong năm 2014, Ban Chủ nhiệm đã chủ trương xuất bản Tập san Trang Thơ Bình Đa, xuất bản đều kỳ 2 tháng 1 số nhằm đăng tải những tác phẩm mới sáng tác của hội viên. Và cứ đến ngày sinh hoạt thường kỳ, quy định rõ là ngày 5 tháng lẻ dương lịch thì phát cho hội viên.Ban Chủ nhiệm phân công nhà thơ Nguyễn Quốc Chấn,Phó chủ nhiệm viết trang phê bình đánh giá toàn bộ Trang Thơ Bình Đa phát hành trong kỳ. CLB đã tổ chức được 2 cuộc thi thơ. Thể loại chỉ gói gọn trong thơ truyền thống Lục Bát và Song Thất Lục Bát và ca khúc của hội viên.



Bà Chủ tịch UBND Phường Bình Đa Hoàng Thị Mai 
(người đứng bên phải) tặng Giấy khen cho hội viên

Được sự quan tâm của Ban Chủ nhiệm, có nhiều hội viên đã in riêng những tập thơ của mình như cuốn Thơ trào phúng của nhà thơ Minh Tuấn Ngô Đình Thuận (Sách do Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép ấn hành năm 2013), cuốn Dung dị một loài hoa, thơ của Bằng Lăng – Nguyễn Thị Phấn (NXB Hội Nhà Văn,2013), ba cuốn Bước nhẹ vào trăng,Lối nhỏ và Cõi tạm của Hoàng Anh Vy – Phùng Thu Vân (NXB Hội Nhà Văn 2012,2013 và 2014), cuốn Hương Quê của Ngô Thanh Xuân (NXB Hội Nhà Văn 2011), cuốn Giai điệu bốn mùa của Lê Hoàng (NXB Hội Nhà Văn 2014) và rất nhiều cuốn thơ đã định hình bản thảo nhưng chưa có điều kiện ấn loát. Trong năm 2014 CLB có 2 hội viên được kết nạp vào Hội Văn học – Nghệ thuật Đồng Nai.




Những cuốn sách của CLB và hội viên đã được xuất bản

Ngày 5 tháng 1 năm 2015, CLB đã tổ chức Hội nghị tổng kết và mừng Năm mới 2015 và ăn Tết Ất Mùi sớm. CLB phát động hội viên sáng tác trong năm 2015 nhằm vào các sự kiện trọng đại của đất nước: 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, 85 năm Ngày thành lập Đảng, 70 năm Ngày thành lập Nước và 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Phấn đấu trong năm này sẽ xuất bản tập thơ Âm vang Bình Đa 4.
                                                                  
                                                                       X.B lược ghi




Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

138.Hội VH-NT Đồng Nai kỷ niệm 35 năm thành lập


138.HỘI VĂN HỌC-NGHỆ THUẬT ĐỒNG NAI
 KỶ NIỆM 35 NĂM NGÀY THÀNH LẬP 22-12-1979 – 22-12-2014


Chiều ngày 22/12/2014, Hội Văn hoc- Nghệ thuật Đồng Nai đã tổ chức Lễ kỷ niệm 35 năm ngảy Thành lập tại Văn miếu Trấn Biên Biên Hòa Đồng Nai. Trước khi vào Lễ chính thức các văn nghệ sĩ đã làm lễ dâng hương trước tượng đức Vạn thế sư biểu Khổng Tử và tập trung nghe bài Chúc văn do phó chủ tịch Hội đọc trước Nhà Đại bái.Sau đó mọi người vào dâng hương Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị sư tổ danh nhân Trịnh Hoài Đức,Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định, Võ Trường Toản…

Một chương trình giao lưu nghệ thuật được trình diễn xen kẽ với các bài phát biểu của chủ tịch Hội đương nhiệm nhiệm kỳ V, phát biểu của phó bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai và các phát biểu của các hội viên. Những hội viên có mặt từ ngày đầu thành lập Hội được mời lên nhận hoa của BCH tặng.Số hội viên tròn 35 năm tuổi Hội còn không quá 10 người.


Trong chương trình giao lưu nhà thơ Nguyễn Quốc Hoàn đọc bài thơ Chào xuân 1967 của nhà thơ Tố Hữu. Tôi đọc bài thơ mới sáng tác nhân sự kiện Đồng Nai quy tập hài cốt và làm lễ truy điệu 36 liệt sĩ hy sinh trong trận đánh đồn Hoàng Diệu ở thị xã Long Khánh  cách đây gần nửa thế kỷ. Trước khi đọc bài thơ này, tôi có đưa cho tiến sĩ Huỳnh Văn Tới, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy xem và ông đồng ý. Bài thơ có nhan đề là Nguyên vẹn  một lời thề (Thác lời người đã khuất).Tôi đã đọc bài thơ với tâm trạng thương xót những linh hồn bất tử trong không khí trang nghiêm và được người nghe chăm chú, xúc động.

Dưới đây là một vài hình ảnh trong Lễ kỷ niệm :


Lễ dâng hương tại Văn miếu Trấn Biên 



Những hội viên ngày đầu 


 Với một hội viên mới Mai Sông Bé, giám đốc ĐNRTV



 Lớp hội viên mới