Trang

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

141.bắc hà ký sự(Phần 1)

                         141.BẮC HÀ KÝ SỰ ( Phần 1)
                                                                        Xuân Bảo
1.    VỀ BẮC

Chiều Sài Gòn nắng nhẹ. Cơn gió nồm nam đã xua dần đi cái nóng gay gắt ban trưa. Sân bay Tân Sơn Nhất ầm ì máy bay lên xuống. Nhiều nhất là máy bay của Hãng Hàng không Vietnam Airline. Kế đó là máy bay của các hãng hàng không nội địa.Có dăm ba chiếc của các hãng hàng không nước ngoài như Asia Airline,Air Lufthansa, Air France…
Vợ chồng tôi cùng cháu ngoại Phạm Nguyễn Thúy Hà lên chuyến bay chiều của hãng Hàng không JETSTAR, khởi hành lúc 15 h 35  từ sân bay Tân Sơn Nhất về tới sân bay Nội Bài lúc gần 18 h  ngày 2 tháng 3 năm 2015, nhằm ngày 12 tháng giêng Ất Mùi. Lúc máy bay hạ cánh bầu trời Hà Nội nhiều mây và có mưa phùn nhẹ.Trước đó mấy hôm, cô em ruột nhà tôi tên là Nguyễn Thị Liên Hương, con út của ông bà Tân Việt, ở 9 phố Thanh Hà, gần Ô Quan Chưởng đã đặt phòng ở Hostel Central Ha Noi.Khách sạn này mới khai trương vài tháng.Giá phòng tương đối rẻ. Phòng chúng tôi ở giá 450 ngàn đồng ngày/đêm.Xe của Hàng không chỉ đưa về số 1 phố Quang Trung.Từ đây, chúng tôi đi taxi về nhà.Đến cuối phố Hàng Chiếu xuống xe và chúng tôi ghé vào một quán ăn.Quán này có bán mì xủi cảo tôm tươi.Món ăn mà những ngày Hà Nội đánh Mỹ tôi rất thích.Tôi nhớ lại hiệu mì ông Xây, người Tàu ở 92 phố Huế.Ông Xây nấu món này rất ngon.Tiếng gõ vào cái hũ nhỏ đựng tiêu của ông cũng rất điệu đàng.Cóc, cóc,cóc…cóc và sau đó mùi hạt tiêu lan tỏa khắp cửa hiệu, rất hấp dẫn. Chiều hôm sau, ngày 3 tháng 3, con gái thứ hai của chúng tôi tên là Nguyễn Thúy Ngọc sang Hàn Quốc thăm con gái Đặng Thái Thảo đang học bên đó từ trước Tết, bay từ Séoul  về.  Thúy Ngọc nghỉ tại nhà cô Mai Hương, tên thường gọi của Liên Hương.
                                                ***

2.LÀNG ƯỚC LỄ - QUÊ VỢ.

Làng Ước Lễ thuộc tổng Tân Ước, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Cầu Đơ.Năm 1904 Cầu Đơ mới đổi thành tỉnh Hà Đông.Nay là thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.Đây là một làng quê nhỏ bé thuần nông, có nhiều nét đặc trưng của một làng quê cổ đồng bằng Bắc Bộ.Câu ca xưa: “Ba làng Chảy, Bẩy làng La” là đúc kết từ những nghề truyền thống của một vùng quê. Ba làng Chảy là cụm ba làng xưa gồm Phúc Lâm,Thượng Thụy và Ước Lễ.Phúc Lâm và Thượng Thụy sau này sáp nhập thành làng Phúc Thụy. Còn Bảy làng La (La là lụa) là các làng:La Cả,La Dương,La Nội,La Giang,La Phù,La Khê và La Tinh.Những làng này cặp theo bờ sông Nhuệ, nổi tiếng trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa.
Theo con đường liên xã đi từ thị trấn Thường Tín vào qua Cầu Chiếc,bắc ngang dòng Nhuệ Giang,rẽ tay trái qua làng Tri Lễ là đến làng Phúc Thụy và vào đầu làng Ước Lễ.
Tôi nhớ lại, hồi chưa giải phóng miền Nam, mỗi lần về Ước Lễ thì có nhiều con đường đi: Nếu đi tầu hỏa từ ga Hàng Cỏ, tức là ga Hà Nội xuống đến ga Thường Tín rồi đi bộ về làng.Để về làng trên con đường ngắn hơn, cũng đi tầu hỏa thì xuống ga Tía. Từ ga Tía đi dọc con đường tỉnh Phú Xuyên – Vân Đình. Tỉnh lộ 71 này còn có tên gọi là đường Biên Hòa khi tỉnh Hà Đông kết nghĩa với tỉnh Biên Hòa trong thời gian kháng chiến chống Mỹ. Đi một đoạn đến làng Trừ thì rẽ phải đi bộ về làng.Còn có đến ba con đường về Ước Lễ nữa.Đó là khi qua khỏi thị xã Hà Đông đến ngã ba Ba La-Bông Đỏ thì rẽ trái theo quốc lộ 21B, qua Thạch Bích,Bình Đà (nổi tiếng làng pháo một thời),đến Kim Bài- huyện lỵ Thanh Oai.Khi đến làng Phương Trung, còn gọi là làng Chuông nổi tiếng nghề chằm nón rồi rẽ trái men theo con đường qua làng Do Động về Tri Lễ, xuống Ước Lễ.Nếu cứ thẳng hướng đi Chùa Hương khi đến ngã tư Vác lại rẽ trái, theo con đường liên xã qua các làng Dân Hòa, An Khoái,Quế Sơn rồi qua Tri Lễ về Ước Lễ.

                                                ***

3.THẦN TÍCH LÀNG ƯỚC LỄ.

Theo Thần phả làng Ước Lễ còn để lại ở đình làng thì Tể tướng Lữ Gia, húy là Lữ Húy Gia, người làng Thiên Phúc nay là Đa Phúc, Phúc Yên.Ngài Lữ Gia làm tể tướng ba đời của Nhà Triệu, đến đời thứ tư Triệu Ai Vương- năm 111 trước công nguyên thì tịch.Trong cơn cuồng chiến của lũ giặc Nam Hán, Ngài bị giặc vây và bị chém đứt đầu.Khi Ngài phi ngựa về đến Bãi Gấu trước cổng làng Ước Lễ thì hóa.Ngựa của Ngài lồng chạy được dân bảy làng La bắt về nuôi.Dân làng Phúc Lâm lượm được đầu Ngài đem về táng ở thềm đình.Dân làng Minh Thụy lượm được thân Ngài mang về chôn ở nền Miếu Minh.Còn dân làng Ước Lễ đến sau nên chỉ thấy còn lại những vệt máu của Ngài, bèn lấy lông gà vét những giọt máu của Ngài đem về vẽ thành tranh chân dung Ngài thờ ở hậu cung đình làng Ước Lễ, tôn làm Thành hoàng.
Theo truyền thuyết: Vào những ngày lễ hội rước Thánh Thành Hoàng, dân Ước Lễ rước kiệu bài vị Thánh Thành Hoàng sang đình làng Phúc Lâm để trình, rồi lại hồi cung vế đình làng mình làm lễ tế tự.Dân làng Phúc Lâm được tôn làm Dân Anh, còn dân làng Ước Lễ tự nhận mình là Dân Em.Tục lệ này đã có từ hàng ngàn năm qua.
Người anh hùng dân tộc Tể tướng Lữ Gia hy sinh vào ngày 12 tháng 9 năm Canh Ngọ. Nếu tính theo lịch Công giáo thì đúng vào ngày Thứ Hai, 29 tháng 10 năm 111 trước Công nguyên, cách đây đúng 2126 năm (tính đến thời điểm tôi viết Bắc Hà ký sự này).Để tưởng nhớ công lao đó có tới 72 làng tôn Ngài là Đức Thánh Thành hoàng làng.Trước đây,do công việc ngày mùa bận rộn (thu hoạch vụ mùa) nên dân làng nhất trí dời ngày Việc làng giỗ Thánh trước 1 tháng, tức là ngày 12 tháng 8 âm lịch.


4. SỰ TÍCH CÁI CỔNG LÀNG

Cổng làng nhìn từ ngoài có ba chữ Hán đề Ước Lễ Môn.Hai bên tả hữu là hai câu đối bằng chữ Hán.Phiên âm sang Quốc ngữ là:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường thượng cổ nguyện tàng kỳ thị;
Xôn xao trước thầy sau tớ mã xa phục quá thử kiều.
Dịch nghĩa:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường bán buôn nguyện tàng chợ búa;
Xôn xao trước thày sau tớ ngựa xe qua lại cầu này
Cầu này xây từ lâu lắm rồi.Cầu xây bằng gạch đặc, cong cong hình bán nguyệt.Hai bên lan can cầu, mỗi bên có bốn trụ.Cầu rộng hơn hai mét,dài khoảng mười mét, bắc sang một con hào.Con hào này xưa kia là thành lũy theo truyền thống “thành cao hào sâu” để bảo vệ dân làng khỏi bọn trộm cướp.Thành cao được thay thế bằng lũy tre gai dày đặc, một con chim sẻ khó bay lọt.Phía tả có một cái cột bằng đá xanh có khắc hai chữ Hán: Hạ Mã (tức là Xuống ngựa) Thời phong kiến các quan bất kể là ai từ lý trưởng,chánh tổng, tri huyện, tri phủ, lãnh binh, án sát, tuần vũ, tổng đốc, kể cả các vị đại thần của triều đình khi về đến làng là phải xuống ngựa đi bộ.Lâu ngày cái trụ Hạ mã không còn nữa.Trên gác cổng có bức đại tự cũng bằng chữ Hán: Mỹ Tục Khả Phong, nghĩa là Phong tục tốt đẹp được ban tặng.Đây là sắc phong của vua Tự Đức, ban vào năm Tự Đức thứ 33 nhằm vào năm Canh Thìn 1880.Năm đó,nhà vua đi kinh lý qua nhiều nơi ở Bắc Hà, nhận thấy nhiều làng có phong tục hay cần phổ biến rộng cho thần dân noi theo.Ước Lễ là một trong sáu làng được vua Tự Đức ra chiếu sắc phong cho danh hiệu đẹp đó.Qua khỏi cổng làng, phía tay phải là Đình Ước Lễ, phía tay trái là chợ. Cái chợ này thời trước là chợ lớn nhất vùng. Cứ 5 ngày chợ phiên nhóm một lần,thu hút nhiều mặt hàng các nơi tụ về.Chợ họp ở dưới gốc đa to, ngày nay cây đa vẫn còn,tỏa bóng khắp một vùng và giờ chỉ còn lại một cái chợ xép thôn quê.

 5. NGHỀ TRUYỀN THỐNG: THỢ MAY VÀ GIÒ CHẢ.

Làng này có hai nghề truyền thống. Đó là nghề thợ may và nghề làm giò chả.Nhưng nghề làm giò chả là nổi tiếng nhất.Từ xa xưa, những con dân của làng đã tìm về thủ đô ngàn năm văn vật để mưu sinh bằng nghề truyền thống của cha ông.Ước Lễ chỉ cách Hà Nội không đầy hai mươi cột số lô mét.Nếu tính theo đường chim bay thì chỉ hơn 10 kilômet.
Giò chả có nhiều loại như giò thủ, giò hoa, giò bì,nem chua,chả lụa, chả quế mà đặc biệt là cái giò lụa.
Giò chả Ước Lễ đã góp phần vào nền văn minh lúa nước của đồng bằng Sông Hồng và làm phong phú nền văn hóa ẩm thực của Hà Thành.
Những năm thập kỷ 60 thế kỷ trước tôi có may mắn được làm giai tế làng Ước Lễ, làm con rể của ông bà Nguyễn Viết Điền và Nguyễn Thị Tỵ. Ông bà có cửa hiệu Cơm tám giò chà Tân Việt nổi tiếng ở số nhà 60A phố Huế.Dân Hà Nội quen gọi tên ông bà là ông bà Tân Việt, ít khi gọi đúng tên cúng cơm của ông bà.   
Nơi đây, tôi đã được thực mục sở thị cách làm giò chả.Bắt đầu là cái cối giã giò. Cối làm bằng đá xanh, một loại đá có rất nhiều ở núi rừng nước ta.Và đôi chày tay làm bằng gỗ mít hay gỗ nghiến không có mùn và có trọng lượng đủ để giã thịt lợn nhuyển ra. Chày có hình dạng như một quả tạ tập tay, hai đầu hình thành hai khúc , ở đoạn giữa khoét lõm vào làm tay cầm đủ cho một bàn tay nắm.Phải là những người có sức khỏe tốt mới nhấc nổi cái chày tay này.Nhất là khi thịt trong cối bắt đầu nhuyễn.Thịt dính chặt vào đầu chảy. Người giã phải lấy một miếng mo cau bằng bàn tay để gạt thịt xuống lòng cối. Giã giò là một nghệ thuật.Và thợ giã giò phải là người tinh thông, nhìn miếng thịt nào là có thể gói giò, miếng thịt nào phải loại ra.  Giã không ngơi tay và nhất thiết không để thịt lợn rời rạc, không quánh dẻo.
Đầu thế kỷ trước, bác Xuyên của vợ chồng chúng tôi mang cái văn minh giò chả Ước Lễ về tận đất cảng Hải Phòng để kiếm sống.Cũng như cụ Đoàn Văn Ty, hiệu Chả cá Lã Vọng, rời bỏ Xứ Đoài Sơn Tây ra bến Sáu Kho lập nghiệp và làm nên món chả cá lừng danh.Bốn giờ sáng khi cả thành phố hoa phượng đỏ còn đang ngủ yên là cả nhà bác Xuyên đã thức dậy. Bác Xuyên gái ra thịt, lọc loại nào ra loại đó.Bác Xuyên trai lót dạ bằng  một tẩu thuốc phiện nhỏ, chiêu vài ngụm nước chè Tân Cương và bắt đầu ngồi vào chiếc ghế gỗ,gần kề miệng cối.Tiếng chày nện đều đều, không nhanh cũng không chậm. Nghe tiếng giã giò, người sáng tác bài hát có thể có nhiều cảm hứng để viết nên một khúc nhạc trầm.Dù bác không phải là người tráng kiện cho lắm nhưng bác vẫn làm giò năm này qua năm khác.Cho đến những năm Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, giò chả của bác Xuyên vẫn có mặt trên các sạp chợ Thành Tô.Bác ít khi ốm đau. Có lẽ nhờ vào cái khói của ả phù dung ấy chăng mà bác có được sức khỏe dẻo dai lạ thường? Người trong nghề và có lương tâm nghề nghiệp không bao giờ dùng thịt bã để gói giò.
Thịt lợn nạc là nguyên liệu chính.Phải là thịt lợn mới mổ, thớ thịt còn nhảy, sờ vào miếng thịt còn hơi nong nóng.Miếng thịt tuyền nạc là miếng thịt không còn một tý mỡ, không còn gân bầy nhầy bạc nhạc.Cái lá chuối tươi là thứ không thể thiếu để bó một cái giò lụa. Bởi vì cái mùi và mầu đặc trưng của lá chuối: mùi thơm chát ngậy và và mầu lá xanh non bao quanh khúc giò mới hấp dẫn làm sao! Thiếu mùi và mầu của lá chuối tươi thì không còn là cài giò lụa Ước Lễ nữa!
Đề bó giò phải có lạt giang. Cây giang thuộc họ tre, có rất nhiều ở mạn rừng tỉnh Hòa Bình.Giang được chẻ mỏng, to bản.Khi bó bao giờ cũng phải chừa một đoạn lạt để xoắn cái dây treo giò lên con sào cho ráo nước.Ở hai đầu cái giò lụa được các cụ tổ đặt cho cái tên nghe hay hay: đầu dày! Người sành ăn thích thưởng thức cái đầu dày phía trên, nơi có sợi lạt buộc treo giò.Lát đầu dày này vừa khô, vừa giòn. Câu ca xưa: “thanh lan chị không bằng bánh dày em”. Thanh lan là cái đầu dày giò lụa đó.Thanh lan đầu dày ngon bởi vì nó tụ hết hương vị lá chuối và gia vị vào. Gia vị là loại nước mắm ngon mà chỉ có Hãng  nước mắm Vạn Vân ở phố Trần Nhật Duật,nhìn ra cột đồng hồ, gần chân cầu Long Biên mới là thứ chính hiệu.Nước mắm Vạn Vân vừa thơm vừa đủ độ đạm.Nước mắm Vạn Vân không dùng chai nhựa và thủy tinh mà dùng cái chĩnh bằng gốm. Miệng chĩnh rộng chừng năm phân nhô lên trên bầu chĩnh to tròn gấp đôi quả bóng đá. Nước mắm rót vào chĩnh và được khằng lại bằng thứ xi, chắc và bền hơn cả xi-măng.Hà Nội có phố Hàng Chĩnh là nói về cái chĩnh nước mắm này.Hồi đó không ai đem bột mì chính pha làm giò chả. Khúc giò lụa, khi cắt ra theo chiều ngang, không ai bổ dọc,có ít lỗ bằng hạt ngô sót lại trên bề mặt thì mới thực ngon.Các cụ ta xưa thường dùng chiếc tăm tre xiên qua miếng giò để nhâm nhi với loại rượu ngang Đỗ Động, Tốt Động hay là rượu Trương Xá hay Nàng Vân.

                                                          ***








6..ĐI BÁN RONG GIÒ CHẢ.

Nhạc mẫu của tôi, bà Nguyễn Thị Tỵ được sinh ra tại Hà Nội.Nhà các cụ ngoại ở đầu ô Cầu Dền, số nhà 11 phố Bạch Mai. Hà Nội xưa có năm cửa ô: Ô Cầu Dền,ô Chợ Dừa, ô Quan Chưởng,ô Cầu giấy và ô Đống Mác.
 Cửa Ô Đống Mác từ ngả Hà Đông vào, ghi dấu chiến công hiển hách của Hoàng đế Quang Trung, kết thúc bằng trận Ngọc Hồi Đống Đa, đánh tan 20 vạn quân Thanh vào đầu năm 1789.Nơi đây còn lưu lại câu chuyện tình tuyệt đẹp giữa công chúa Ngọc Hân với nhà vua. Khi chiếm lại được Hà Thành vào sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung sai ngay cận thần tức tốc phi mã mang cành đào Nhật Tân vào Phú Xuân tặng Ngọc Hân.Đây là cành đào báo tiệp mừng thắng lợi toàn vẹn non sông.Một cử chỉ rất lãng mạn của người anh hùng áo vải.Và Ngọc Hân cũng đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một giai phẩm văn chương tuyệt cú.Đó là tác phẩm Ai Tư Vãn.
Cửa Ô Cầu Giấy, từ phía Sơn Tây xuống. Nơi còn đó cái mả không đầu của tên quan Năm Tây Hạm trưởng Henri Laurent Rivière bị quân Cờ Đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc chém chết khi hắn cố tình đánh chiếm Hà Thành.Trong bài hát Tiến về Hà Nội của nhạc sĩ Văn Cao khi khởi nghĩa Cách mạng thành công, có những câu:
Trùng trùng quân đi như sóng/Lớp lớp đoàn quân tiến về/…Năm Cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về/Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào/… Hà Nội bừng Tiến quân ca…


                                                




Khi còn là một thiếu nữ, bà nhạc tôi theo bố mẹ làm nghề giò chả.Có lần bà kể cho con cháu nghe cái thời bà đi bán rong giò chả khắp 36 phố phường.Bước chân của bà thông thuộc mọi đường ngang ngõ tắt.Cũng như nhiều người bán rong giò chả khác, không bao giờ nghe tiếng rao của họ như những người bán rong các mặt hàng khác.Hồi đó, Hà Nội ít tiếng ầm ầm, ồn ả của động cơ ô tô, bình bịch.Những tiếng rao đêm đã thấm vào từng viên đá lát, từng mái ngói rêu phong và hằn sâu vào ký ức mọi người. Tôi có ý định viết cái tùy bút “Tiếng rao đêm” của Hà Thành.Này đây tiếng rao: “Phơ ơ ơ ơ”kéo rền con ngõ nhỏ Phất Lộc. Gánh phở này sau này làm ăn khấm khá đã trở thành một hiệu phở đắt khách. Này đây tiếng rao “lục tào xá…á a!”,”bánh khúc đê…ê ê”,”lạc rang húng lìu đê…ê”…Lại có chú Tiều chuyên bán cái thứ quà trẻ con rất thích với tiếng rao như một khúc nhạc: “bi doong doong, bi dòong  dòong”. Tiếng rao đi kèm cái lục lạc reng reng nghe rất vui tai.Người Hà Nội ít ai quên bóng dáng ông xẩm mù với chiếc chiếu đơn kẹp nách,một cái chuông đồng nho nhỏ và chiệc gậy dò đường.Gần nửa đêm ông mới lò dò đi từ đầu phố Hàng Đào lên chợ Đồng Xuân. Lúc này các bà chủ hiệu tơ lụa Hàng Đào, Hàng Ngang và các bà chủ các cửa hàng bánh kẹo Hàng Đường và các bà tiểu thương chợ Đồng Xuân đã ổn định việc buôn bán tất bật trong ngày, cần thư giãn gân cốt, cần đấm bóp cho lưu thông mạch máu nên phải nhờ đến cái món tẩm quất. Đầu tiên người ta nghe rao tiếng “tẩm” cùng với tiếng chuông nhỏ kéo dài đến một chục bước chân mới buông tiếng “quất” ra, nghe rất buồn. Tiếng rao “tẩm…quất”.vang lên trong đêm Hà Nội sao nghe da diết quá!
Trong cái thúng đội trên đầu của bà nhạc tôi có đủ các loại giò và chả.Giò gương to bảy phân, mười hai phân, có những khoanh chả quế vàng ươm, thơm phức và những cái bánh dày còn thơm mùi nếp cái hoa vàng của làng Nhị Khê, Thường Tín – nơi có câu chuyện “Rắn báo oán” huyễn hoặc – đã làm cho gia tộc Ức Trai tiên sinh chịu cái án oan tru di tam tộc do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh gây nên. Vụ án Lệ Chi Viên mãi gần đây (tức là 600 năm sau mới được giải oan).Đền thờ nữ học sĩ Nguyễn Thị Lộ được nhân dân Hà Nội dựng tại làng Khương Thượng, bên cạnh lăng Nguyễn Trãi.Ở tỉnh Thái Bình, tại làng Tân Lễ, còn gọi là làng Hới, quê hương của Nguyễn Thị Lộ cũng đã xây đền thờ thờ Bà.
Nhạc phụ của tôi là ông Nguyễn Viết Điền, người cùng làng với nhạc mẫu tôi ra Hà Nội làm ăn từ đầu thế kỷ 20.Ông rất giỏi nghề thợ may Tây, có cửa hiệu ở phố Tràng Tiền mang tên Hiệu may Cát Thịnh. Tràng Tiền trước đây còn mang tên tên toàn quyền Paul Bert (rue Paul Bert)là con phố sang trọng nhất, đi thẳng từ bờ hồ Hoàn Kiếm đến Nhà hát lớn.Trên dãy phố này còn có một ngôi nhà 6 tầng, cao nhất Hà Nội lúc bấy giờ. Đó là nhà in IDEO, sau này là nhà in báo Nhân Dân.Góc phố ngã tư phía Hàng Bài, thời Pháp thuộc có tên là Boulevard Dong Khanh. Cửa hàng mang tên Gô – Đa chiếm cả ba mặt tiền: Tràng Tiền, Hàng Bài và phố Hai Bà Trưng. Sau giải phóng thủ đô, Thương xá Gô – Đa được Sở Thương nghiệp Hà Nội bố trí làm cửa hàng Bách hóa tổng hợp to nhất Hà Nội.
Ông nhạc tôi trông coi hiệu may Cát Thịnh.Hà Nội còn có những hiệu may âu phục nổi tiếng như Tiến Thành phố Lê Thái Tổ, Anh Quân, Bùi Huy Nhượng… ở phố Hàng Trống và các hiệu may áo dài, áo cánh ta, áo bông chần hạt lựu…thì nằm rải rác ở phố Lương Văn Can và phố Hàng Quạt.
 Bà nhạc tôi thì quản lý hiệu Cơm tám giò chả ở 108 phố Huế, đối diện với rạp cinéma Đại Nam bên kia đường.Ngôi nhà này thông sang phố Mai Hắc Đế.Nhà được nhượng lại cho Bà Anh Phương và bà đã mở hiệu sách Anh Phương.  Ông bà Tân Việt tậu ngôi nhà 60A phố Huế và mở hiệu ăn Cơm tám giò chả Tân Việt, vừa sản xuất giò chả vừa bán hàng cơm.Cũng chính vì ông bà Tân Việt có hai cửa hàng lớn nằm ở vị trí đắc địa của trung tâm Hà Nội nên Ban Cải tạo đã đưa vào danh sách cần cải tạo nhà tư sản dân tộc Nguyễn Viết Điền Nguyện Thị Tỵ.Cho đến lúc tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh (thời gian từ năm 1956-1960) thì đưa vào công tư hợp doanh với lợi tức thường niên được chia lãi là 3 đồng 3 hào tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa! Cái tên Cơm tám giò chả Tân Việt được thay tên mới là Cửa hàng ăn uống 60 phố Huế (thuộc công ty Ăn uống  khu Hai Bà).
                                                ***



7. CHUYỆN CÂY ĐA BÀ TỀ.
 Tôi còn nhớ như in, khoảng giữa năm 1961 vợ chồng chúng tôi về Ước Lễ dự Hội Chùa Sổ.Từ phía làng Trừ lên,khi ngang qua cánh đồng ta bắt gặp một cây đa to mọc đơn độc giữa đồng,có tên là cây đa Bà Tề, rồi vào làng. Gọi là cây đa Bà Tề vì quán nước Bà Tề dựng tựa vào gốc đa này.Tôi đã tò mò hỏi chuyện và giờ đây xin kể lại để hầu bạn đọc.Vợ chồng chúng tôi đi bộ thấm mệt. Lúc này nhà tôi có mang đứa con đầu lòng.Đó là cháu Nguyễn Triệu Quang.Người đàn bà bụng mang dạ chửa mà phải đi bộ một quãng đường khá xa, gần 4 kilômet là điều không nên. Chúng tôi bèn vào nghỉ một lúc ở quán Bà Tề, ngồi trên một chiếc ghế băng làm bằng những đoạn tre ghép lại.Trên chõng có cái ấm giỏ đựng nước vối và vài ba chiếc bát ăn cơm Bát Tràng để rót nước cho khách.Phía bên trong là một cái giường tre, ngăn với bên ngoài là một chiếc chiếu rách thủng nhiều chỗ. Có đến năm sáu đứa trẻ tuổi chừng một hai cho tới sáu bảy tuổi.Mặt mũi đầy rãi nhớt, đen nhẻm.Có đứa khóc, có đứa cãi nhau chí chóe. Ông Tề, khoảng trên 30 tuổi nhưng trông già như gần 50.Người gầy nhong nhỏng cao, nước da sạm nắng, rót nước cho chúng tôi. Tôi tò mò hỏi: -Hai bác có mấy cháu?.-Dạ sáu đứa.-Làm sao mà đẻ lắm thế? - Không dấu gì anh chị.Nhà chúng tôi nghèo nên phải tất bật làm ăn.Tôi thì đi làm thuê.Ai thuê làm gì thì tôi làm việc đó. Gánh phân, làm cỏ, bổ củi và nhiều việc không tên khác.Nhà tôi trông coi cái quán nước này, thu nhập không đáng kể.Thằng nhớn hiện đi mò cua bắt ốc ngoài đồng chưa về.Tuy cháu mới 7 tuổi nhưng cũng đã đỡ đần cho bố mẹ được nhiều việc.Có nhiều đêm trằn trọc mãi không sao ngủ được.Cái để chóng quên đi cuộc đời nghèo khó này là rượu nhưng tôi lại không uống được rượu. Vậy nên vỡ kế hoạch triền miên, liên tiếp ba năm đôi!Tuy nghèo nhưng vợ chồng chúng tôi vẫn yêu thương nhau.Đói no có nhau.Chúng tôi cũng không trách trời cao đất dày. Cái số mình nghèo thì đành chịu vậy!
Nghe ông Tề kể mà lòng chúng tôi thấy xót xa, ngậm ngùi.Tôi thật không sao hiểu nổi hoàn cảnh của ông bà Tề. Hình như họ không có liên hệ gì với thế giới văn minh của loài người.Không những ông bà Tề không biết chữ. Đến như các cháu đáng lẽ phải vào mẫu giáo hoặc cắp sách đến trường thế mà chúng chỉ quẩn quanh gốc đa.Lớn lên một chút thì làm bạn với con cua, con ốc!!!
Giờ đây cây đa và quán nước Bà Tề không còn nữa.Con đường đất xưa thay thế bằng con đường bê-tông thẳng vào cuối làng. Một khu đất rộng cạnh cổng cuối làng là bãi đậu xe hơi.Có tới hơn mấy trăm chiếc xe cùa những người con xa quê ở khắp mọi miền đất nước và cả ỏ hải ngoại tìm về quê cha đất tổ trong những ngày đầu xuân này.Nhìn dòng người tấp nập ra viếng chùa và đặt hương hoa lên các ngôi mộ, bất giác tôi nghĩ đến mấy câu thơ của Đỗ Trung Quân:
Quê hương mỗi người chỉ một/Như là chỉ một Mẹ thôi/Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nổi thành người…

                                                ***

8.THẮP HƯƠNG NHÀ THỜ TỔ PHỤ
Xe dừng trước cổng nhà của vợ chồng cô Mai Hương.Chồng Mai Hương là cựu chiến binh Đặng Chí Hòa, con trai thứ của cụ Đặng Gia Xá, người làng Ước Lễ. Cụ Đặng Gia Xá ra Hà Nội lập nghiệp bằng nghề thợ may Tây từ những năm đầu thế kỷ 20, ở tại phố Lý Quốc Sư gần Nhà thờ lớn Hà Nội.Hòa không may bị bệnh nặng, qua đời lúc 55 tuổi cách đây ba năm. Cơ ngơi của vợ chồng Hòa Hương   khá rộng, chừng hơn 1000 mét vuông, có ngôi nhà 2 tầng thoáng mát, có khoảng sân rộng đủ chỗ đỗ cho 4 chiếc xe con và một bức vườn trồng những loại cây ăn quả: bưởi,na,khế…Một cái ao cá to, mỗi mùa tháo khoán cũng được hơn tấn cá các loại.
Từ đây,tất cả chúng tôi đi bộ vào nhà thờ tổ phụ để dâng hương. Ngôi từ đường này là nhà của các cụ tổ sinh sống từ đời này qua đời khác của dòng họ Nguyễn Viết.Trong khuôn viên từ đường hiện có nhà của người con bác Cả Nguyễn Viết Sửu tên là Nguyễn Viết Toàn ở để tiện bề hương khói thờ phụng. Chúng tôi qua nhà người em tên là Nguyễn Viết Phong, con ông chú ruột thắp nhang cho cô chú Vân rồi mới đi ra chùa Sổ. Nghĩa địa làng  tọa lạc ngay trước mặt chùa.  
Bên cạnh cổng cuối làng, phía tay phải là Đài tưởng niệm, nơi thờ các anh hùng liệt sĩ của làng. Làng Ước Lễ tuy nhỏ, dân số ít nhưng đã cống hiến cho hai cuộc chiến tranh vệ quốc đánh Pháp và đuổi Mỹ những người con thân yêu của mình. Trên tấm bia lớn đặt trang trọng chính giũa đền ghi rõ tên tuổi hai Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lượng và Nguyễn Thị Cát. Tiếp đó là danh sách 70 liệt sĩ với đầy đủ ngày tháng năm sinh, ngày hy sinh.Khuôn viên tuy nhỏ nhưng người dân Ước Lễ cũng trang trí nhiều cây cảnh đẹp, có ghế đá cho khách nghỉ chân. Đứng trước anh linh các liệt sĩ, lòng mình tự nhiên thấy rưng rưng, bồi hồi xúc động nhớ về những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Và dù đã qua đi gần 40 năm, những ký ức cuộc chiến vẫn hiện về rõ mồn một trong tôi.Tự hào biết mấy mình cũng đã từng được làm anh lính “Bộ đội Cụ Hồ”!
           
Lễ hội Chùa Sổ năm nay không tổ chức lớn vì chùa đang được   trùng tu.Mọi người dâng hương trước tượng Phật Bà Quan âm và cúng dường vào hòm công đức ngay trước cổng chùa.Chúng tôi ra nghĩa địa và thắp nhang mộ tổ, mộ các cụ nội ngoại và bố mẹ cùng những người thân thích trong dòng tộc đã về cõi vĩnh hằng.
Một nét rất đặc biệt của làng Ước Lễ là ngay sau khi ở chùa, ở nghĩa trang về.Bữa tiệc của nhiều gia đình, ngoài các món giò chả, thịt gà, trên mâm cơm đều có món thịt cầy dựa mận.Nếu gia đình nào không mổ cầy thì ra chợ nhỏ đầu làng mua về.Chợ vẫn là trên nền chợ ngày xưa. Cây đa tỏa bóng trùm lên một khoảnh đất rộng. Gốc đa nhiều rễ và dưới gốc ngày trước có rất nhiều ông bình vôi.Con đường chính xuyên qua làng Ước Lễ từ đầu làng đến cuối làng khá rộng, đã được bê-tông hóa.  Ôtô  con có thể lưu thông dễ dàng.
                                       Hà Nội, Nguyên tiêu Ất Mùi(5-3-2015)
                                       Biên Hòa,Ngày 22 tháng Giêng,Ất Mùi -Ngày giỗ Mẹ-Bà Nguyễn Thị Kim Dung lần thứ 7.(12-3-2015)
                                                                             Xuân Bảo


Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

140. Đến với bài thơ hay


140. Đến với bài thơ hay:
                                       NÉT XUÂN
                             Ánh dương rắc hạt sáng đường trần
`                           Én vẽ trời xanh nét nét xuân
                             Lạc bước thi nhân vào cõi mộng
                             Hài in lối cũ gót giai nhân
                                                                   Xuân Bảo
Lời bình của nhà thơ Hạnh Phương:
Thơ Đường luật anh viết không nhiều, nhưng những bài anh đã cho xuất bản, nhiều bài thực hay, đẹp:“Ánh dương rắc hạt sáng đường trần/Én vẽ trời xanh nét nét xuân/Lạc bước thi nhân vào cõi mộng/Hài in lối cũ gót giai nhân” (Nét xuân). Hai câu đầu của Nét xuân là một bức tranh xuân, mơn mởn một sức sống, rất mới. Hai câu sau của bài thơ thì nhà thơ đã lạc bước hoài niệm rất cổ điển, rất Đường thi…
Thơ Đường luật để là Đường luật của Việt Nam luôn đòi hỏi những bước đột phá, bứt phá, vượt thoát khỏi những hệ luy hình thái tư tưởng cổ điển...để biểu cảm cho tròn đầy cảm xúc đương đại, hiện đại, bây giờ.
Bước đột phá ấy đã thấp thoáng thấy trong Thơ Đường luật Xuân Bảo.





Đến với bài thơ hay:
                                      ANH LÀ CON SÓNG
                             Đã lâu lắm từ xa xưa
                             Sóng là của biển vỗ bờ ngàn năm                            
                             Biển là của sóng thủy chung
                             Sóng chồm lớp lớp mịt mùng biển em
                             Những lúc biển lặng êm đềm
Anh là con sóng dịu êm ngọt ngào
                             Ngô Thanh Xuân
 Lời bình của nhà thơ Xuân Bảo:
Nhân đọc tập thơ Hương quê của Ngô Thanh Xuân,NXB Hội Nhà Văn, tôi cảm được một điều rất rõ là: Không khí văn chương Hà Thành đã thấm đẫm vào dòng máu của nhà thơ. Ngô Thanh Xuân sinh ra tại làng Lộc Hà, tổng Hội Phủ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Nơi đó có con sông Đuống đã đi vào thơ ca bất hủ của Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm) và Ngô Thanh Xuân là người cùng làng và bà con gần với danh sĩ Ngô Tất Tố.
Nhà thơ rất đa tình khi nhìn thấy biển và sóng. Về đề tài này rất nhiều nhà thơ đã viết và viết rất thành công như Biển của Xuân Diệu . Biển của Xuân Quỳnh…Với Ngô Thanh Xuân thì Biển và Sóng trở thành “đôi tình nhân”. Sóng là của biển vỗ bờ ngàn năm/Biển là của sóng thủy chung…Nhưng phải nói rằng nhà thơ có cái nhìn rất táo bạo khi nàng viết: Sóng chồm lớp lóp mịt mùng biển em. Nhà thơ tình nổi tiếng Xuân Diệu dù rất mãnh liệt trong tình yêu nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức: Nhớ em như một vết thương/Trong lòng như vỡ mảnh gương trong lòng. Dù dữ dội:sóng chồm lớp lớp mịt mùng biển em. Nhưng những lúc biển lặng, lúc tình yêu thăng hoa đến đỉnh điểm và lắng đọng thì: Anh là con sóng dịu êm ngọt ngào.

Có thể nói đây là một bài thơ tình hay, rất hay trong nhiều bài thơ tình của nhà thơ Ngô Thanh Xuân.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

139.CLB Thơ ca Bình Đa ăn Tết sớm

             
139.CÂU LẠC BỘ THƠ CA BÌNH ĐA ĂN TẾT SỚM ẤT MÙI 2015
                                                         
CLB Thơ ca Bình Đa từ ngày thành lập tính đến nay (2015) vừa tròn 9 tuổi. Với sức vóc của một CLB cấp phường, trong 8 năm qua CLB đã vượt qua nhiều khó khăn chồng chất, nhất là về phương diện tài chính nhưng cũng đã xuất bản được 4 tập sách. Xuất bản định hình được 3 cuốn Âm vang Bình Đa 1, 2 và 3 khá dày dặn về số trang và có chất lượng về nghệ thuật. 

Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập phường Bình Đa (1-9-1988 – 1 -9- 2013), CLB cho xuất bản số Đặc biệt mang tên Về Bình Đa



                                Họp mặt mừng Năm mới 2015 và ăn Tết sớm Ất Mùi

Trong năm 2014, Ban Chủ nhiệm đã chủ trương xuất bản Tập san Trang Thơ Bình Đa, xuất bản đều kỳ 2 tháng 1 số nhằm đăng tải những tác phẩm mới sáng tác của hội viên. Và cứ đến ngày sinh hoạt thường kỳ, quy định rõ là ngày 5 tháng lẻ dương lịch thì phát cho hội viên.Ban Chủ nhiệm phân công nhà thơ Nguyễn Quốc Chấn,Phó chủ nhiệm viết trang phê bình đánh giá toàn bộ Trang Thơ Bình Đa phát hành trong kỳ. CLB đã tổ chức được 2 cuộc thi thơ. Thể loại chỉ gói gọn trong thơ truyền thống Lục Bát và Song Thất Lục Bát và ca khúc của hội viên.



Bà Chủ tịch UBND Phường Bình Đa Hoàng Thị Mai 
(người đứng bên phải) tặng Giấy khen cho hội viên

Được sự quan tâm của Ban Chủ nhiệm, có nhiều hội viên đã in riêng những tập thơ của mình như cuốn Thơ trào phúng của nhà thơ Minh Tuấn Ngô Đình Thuận (Sách do Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép ấn hành năm 2013), cuốn Dung dị một loài hoa, thơ của Bằng Lăng – Nguyễn Thị Phấn (NXB Hội Nhà Văn,2013), ba cuốn Bước nhẹ vào trăng,Lối nhỏ và Cõi tạm của Hoàng Anh Vy – Phùng Thu Vân (NXB Hội Nhà Văn 2012,2013 và 2014), cuốn Hương Quê của Ngô Thanh Xuân (NXB Hội Nhà Văn 2011), cuốn Giai điệu bốn mùa của Lê Hoàng (NXB Hội Nhà Văn 2014) và rất nhiều cuốn thơ đã định hình bản thảo nhưng chưa có điều kiện ấn loát. Trong năm 2014 CLB có 2 hội viên được kết nạp vào Hội Văn học – Nghệ thuật Đồng Nai.




Những cuốn sách của CLB và hội viên đã được xuất bản

Ngày 5 tháng 1 năm 2015, CLB đã tổ chức Hội nghị tổng kết và mừng Năm mới 2015 và ăn Tết Ất Mùi sớm. CLB phát động hội viên sáng tác trong năm 2015 nhằm vào các sự kiện trọng đại của đất nước: 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, 85 năm Ngày thành lập Đảng, 70 năm Ngày thành lập Nước và 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Phấn đấu trong năm này sẽ xuất bản tập thơ Âm vang Bình Đa 4.
                                                                  
                                                                       X.B lược ghi




Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

138.Hội VH-NT Đồng Nai kỷ niệm 35 năm thành lập


138.HỘI VĂN HỌC-NGHỆ THUẬT ĐỒNG NAI
 KỶ NIỆM 35 NĂM NGÀY THÀNH LẬP 22-12-1979 – 22-12-2014


Chiều ngày 22/12/2014, Hội Văn hoc- Nghệ thuật Đồng Nai đã tổ chức Lễ kỷ niệm 35 năm ngảy Thành lập tại Văn miếu Trấn Biên Biên Hòa Đồng Nai. Trước khi vào Lễ chính thức các văn nghệ sĩ đã làm lễ dâng hương trước tượng đức Vạn thế sư biểu Khổng Tử và tập trung nghe bài Chúc văn do phó chủ tịch Hội đọc trước Nhà Đại bái.Sau đó mọi người vào dâng hương Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị sư tổ danh nhân Trịnh Hoài Đức,Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định, Võ Trường Toản…

Một chương trình giao lưu nghệ thuật được trình diễn xen kẽ với các bài phát biểu của chủ tịch Hội đương nhiệm nhiệm kỳ V, phát biểu của phó bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai và các phát biểu của các hội viên. Những hội viên có mặt từ ngày đầu thành lập Hội được mời lên nhận hoa của BCH tặng.Số hội viên tròn 35 năm tuổi Hội còn không quá 10 người.


Trong chương trình giao lưu nhà thơ Nguyễn Quốc Hoàn đọc bài thơ Chào xuân 1967 của nhà thơ Tố Hữu. Tôi đọc bài thơ mới sáng tác nhân sự kiện Đồng Nai quy tập hài cốt và làm lễ truy điệu 36 liệt sĩ hy sinh trong trận đánh đồn Hoàng Diệu ở thị xã Long Khánh  cách đây gần nửa thế kỷ. Trước khi đọc bài thơ này, tôi có đưa cho tiến sĩ Huỳnh Văn Tới, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy xem và ông đồng ý. Bài thơ có nhan đề là Nguyên vẹn  một lời thề (Thác lời người đã khuất).Tôi đã đọc bài thơ với tâm trạng thương xót những linh hồn bất tử trong không khí trang nghiêm và được người nghe chăm chú, xúc động.

Dưới đây là một vài hình ảnh trong Lễ kỷ niệm :


Lễ dâng hương tại Văn miếu Trấn Biên 



Những hội viên ngày đầu 


 Với một hội viên mới Mai Sông Bé, giám đốc ĐNRTV



 Lớp hội viên mới





Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

137.Kỷ niệm 70 năm QĐND Việt Nam

.Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam               (22-12-1944—22-12-2014).
          Chiều ngày 12 tháng 12 năm 2014, nhân Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng, tại xã Tân An huyện Vĩnh Cửu Đồng Nai, Đoàn Cựu chiến binh Đặc công 113 do thiếu tướng Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thanh Tùng, nguyên Chỉ huy trưởng và đại tá Đinh Xuân Nghiêm, nguyên Chỉ huy phó Đoàn Đặc công 113 và nhiều đồng chí khác đã đến làm lễ dâng hương Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh – người Cha đẻ của Các Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam . Đoàn cũng đã vào dâng hương Đền thờ Đại tướng Nhân dân Võ Nguyên Giáp – người anh cả của quân đội ta. Tại đây nhân dân Đồng Nai cùng thờ bốn vị tướng lừng danh của “Miền Đông gian lao mà anh dũng” gồm Trung tướng Nguyễn Bình, Thượng tướng Trần Văn Trà, Nữ tướng Nguyễn Thị Định và Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ
Trong Đền thờ Bác Hồ kính yêu còn thờ gần 48 ngàn liệt sĩ – con em của mọi miền đất nước đã ngả xuống nơi miền Đông Nam Bộ này – vì nền độc lập và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Nơi đây còn thờ vọng 1.307 liệt sĩ (chỉ có tên tuổi ghi lên Bảng vàng, không có hài cốt) của Bộ đội các Binh chủng Đặc công – những con người đã làm nên lịch sử trên mảnh đất Đồng Nai oai hùng: Tấn công sân bay Biên Hòa, đốt cháy kho bom Long Bình…Bác Hồ đã có thơ tặng:
 “Uy danh lừng lẫy khắp năm châu
   Đạn cối tuôn cho Mỹ bể đầu
   Thành đồng trống thắng lay lầu trắng
   Điện Biên.Mỹ chẳng phải chờ lâu”.
Chiều cùng ngày, Đoàn về dâng hương tại Đài Kỷ niệm Đặc công 113 tại Đồi 60,phường Tân Biên,thành phố Biên Hòa. Tại đây,thờ 167 liệt sĩ Đoàn 113.Chính giữa tượng đài ba mặt có bài thơ của thạc sĩ sử học Trần Quang Toại phụng ghi tóm tắt những chiến công lẫm liệt của các chiến sĩ đặc công đã oanh liệt hy sinh cho thành phố Biên Hòa mến yêu. Đại tá Đinh Xuân Nghiêm, nguyên chỉ huy phó Đoàn Đặc công 113 đã có bài phát biểu ôn lại truyền thống vẻ vang của  Đoàn Đặc công 113. Ông Đặng Văn Tiếp, nguyên là phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai  và là một trong những chiến sĩ đầu tiên của Đại đội Lam Sơn đã có bài nói về nguồn gốc của Đại đội. Đại đội Lam Sơn có Nhà bia tưởng niệm đặt tại làng An Hảo, quận Đức Tu, thị xã Biên Hòa, nay là phường An Bình,thành phố Biên Hòa, Đồng Nai.
Dưới đây là một vài hình ảnh do nhà thơ Xuân Bảo chụp.


    Lễ dâng hương tại Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh
        Thiếu tướng Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Thanh Tùng và nhà thơ Xuân Bảo
                     Nhà văn Nguyễn Quốc Hoàn trước bàn thờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp
                               Nhà thơ Xuân Bảo trước bàn thờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp
    Nhà thơ Xuân Bảo trước bàn thờ Trung tướng Nguyễn Bình và Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ
Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tùng, đại tá Đinh Xuân Nghiêm, nguyên Chỉ huy Đoàn Đặc công 113
                                         



Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

136.con thiên nga lạc loài

  CON THIÊN NGA LẠC LOÀI

(Viết nhân kỷ niệm 70 ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng 22-12 -1944  - 22-12-2014)
Truyện ngắn
                                                                                                 XUÂN BẢO

 Bây giờ thời tiết đã chuyển cuối thu. Mây đen vần vũ.Bầu trời Xuân Lộc mọng nước. Sấm chớp đì đùng.Xa xa, đâu đó vẫn còn những tiếng súng lẻ tẻ.Vài chiếc tàu bay “bà già” (moral) lượn một vòng tròn rồi thả dù xuống một trảng cỏ, gần Cua Heo. Trong nhiều chiếc dù xanh đỏ, có một chiếc dù đỏ thả xuống hai cô gái ăn mặc diêm dúa, áo ba dây hở cổ và cái váy màu đỏ.Đây là hai cô trong Đội Thiên Nga, vừa làm cái việc ca hát phục vụ quân lực cọng hòa, vừa phục vụ giải quyết sinh lý cho binh lính và sĩ quan. Đó là thiếu úy Lê Thị Lụa, biệt danh là Nhung “gấu”. Người thứ hai là hạ sĩ Thu Cương mới được trung tá Trường, trưởng phòng An ninh quân đội tuyển dụng. Theo quy định, “gái dù đỏ” là của sĩ quan chỉ huy.
Hơn 10 giờ đêm, trung tá Tôn Thất Đảm vừa ở sở chỉ huy về, Nhung “gấu’’ cũng vừa tắm xong. Thị bước ra khỏi phòng tắm với chiếc khăn mỏng khoác hờ trên vai.Mùi nước hoa đắt tiền Enchanteur tỏa ra khắp phòng.Dưới ánh đèn nê- ông xanh dịu, thân hình của Nhung có sức gợi cảm đến mức Đảm vội bế xốc Nhung lên giường.Ngắm nhìn thỏa thích “ con gấu tơ” rồi Đảm trút bỏ bộ quân phục rằn ri bước nhanh vào toilet. Khi trở ra, Đảm tồng ngồng hiện rõ thân hình y chang Adam.
 Phải công nhận bọn Chiến tranh tâm lý ngụy rất khéo tuyển chọn cái đám Thiên Nga, Phượng Hoàng.Chính quyền ngụy coi đây là một binh chủng không thể thiếu cho cuộc chiến. Hai yếu tố hàng đầu của binh chủng này là thanh (giọng hát hay) và sắc (có gương mặt đẹp và thân hình cân đối,hấp dẫn). Đồng thời có khả năng làm gián điệp, tất nhiên là phải qua huấn luyện tình báo.
Qua một đêm “chiến trường”, thỏa mãn cho trung tá chỉ huy Khu Chiến  thuật 33 ôm ấp,vày vò,Nhung trang điểm lại gương mặt đã bị nhòa nhẹt phấn son. Sáng ra,cần vụ mang cà phê và món điểm tâm vào .Nhung nũng nịu:
-         Tý nữa anh cho em bắn vài phát ca nông nhé!
-         Được, để anh gọi mấy đứa pháo thủ.
Nhung  ra chỗ đặt mấy khẩu “vua chiến trường” 175 ly.Tên pháo thủ chỉ cho Nhung cách đạp cò. Nó không quên ghếch nòng pháo vào trong rừng – nơi chúng nghi là có quân Giải phóng làm căn cứ địa.. Nhung đạp cò hai phát. Tiếng đề- pa chói tai làm Nhung hơi liêu xiêu.Dân trong vùng bị địch chiếm thường gọi cách bắn pháo vu vơ kiểu này là “pháo đĩ”. Họ rất sợ dễ xẩy ra tai bay vạ gió!
 Lê Thị Lụa tức Nhung gấu năm này sắp bước tới gần cái tuổi “băm” nhưng nhìn bề ngoài người ta cứ tưởng nhầm khoảng hai mươi hai, hai ba. Nhung có khuôn mặt  bàu bĩnh, nước da trắng hồng, cặp mắt đen láy và cái miệng cười rất tươi. Thân hình Nhung là cả một “tòa thiên nhiên” vô cùng hấp dẫn. Thi xong tú tài, nhờ có giọng hát hay nên được tuyển vào Đội Thiên Nga. Nhung được đưa đi Băng-cốc đào tạo nghề làm gián điệp. Thái Lan là đồng minh của Mỹ Thiệu.Nơi đây kỹ nghệ sex được coi là tuyệt hảo, cho nên các học viên Thiên Nga, Phượng Hoàng cũng được huấn luyện về nghề này một cách bài bản.
Thu Cương sau một đêm “tưng bừng mây mưa” với tên chỉ huy phó trung đoàn đến tìm Nhung, rủ đi chơi chợ Long Khánh. Quy định của quân đội rất chặt chẽ. Thiên Nga, Phượng Hoàng chỉ được phép đi lại trong nội ô. Còn những ai có nhiệm vụ dò la tin tức Việt Cộng mới được ra vùng ven.
Thời gian này,quận Xuân Lộc có thị xã Long Khánh. Long Khánh chỉ cách Sài Gòn hơn tám chục cây số, có hai tuyến giao thông quan trọng là đường sắt và quốc lộ 1 xuyên Việt. Mỹ-ngụy coi Long Khánh là “cánh cửa thép cửa ngõ phía đông bắc Sài Gòn” và là một địa bàn chiến lược,xung yếu..Nguyễn Văn Thiệu đã nói “Xuân Lộc mất thì Sài Gòn mất”.Vậy nên quân ngụy và quân Mỹ bố trí lực lượng dày đặc. Bọn chúng cho phát quang khu vực đóng quân, rắc cỏ Mỹ,lập vành đai trắng,tăng mật độ hành quân càn quét ra vùng ven,khống chế địa bàn.Chúng tiến hành xây dựng Long Khánh thành một căn cứ quân sự, xây dựng căn cứ Suối Râm,mở rộng đồn pháo binh Hoàng Diệu, xây dựng Sở chỉ huy Khu chiến thuật 33, xây dựng và làm đường từ sân bay đến Suối Râm. Những cuộc hành quân của chúng không lúc nào là không gây ra chết chóc. Nhà cháy, người chết phủ tang thương lên mảnh đất chưa đầy 50 kilômét vuông. Thời gian này Long Khánh có số dân gần 6 vạn người, phần đông là dân từ nơi khác đến lập nghiệp, nhiều nhất là dân miền Trung.Thâm độc hơn,Mỹ-ngụy biến Long Khánh thành nơi ăn chơi theo lối sống thực dân kiểu mới. Bar  dancing, nhà chứa mọc lên san sát.
                                                ***
Đầu năm 1968, Tỉnh ủy Bà Rịa-Long Khánh quyết định sáp nhập xã Bảo Vinh vào thị xã để có thêm bàn đạp tiến công; củng cố ba bàn đạp cho ba cánh tiến công. B1 Bàu Trâm, B2 Suối Cái và B3 Suối Rết; tăng cường cán bộ cho các cơ sở mật bên trong, đào thêm hầm bí mật trong nội ô để che dấu vũ khí và lực lượng.Cùng thời điểm này, Đảng bộ Long Khánh quyết định thành lập Đội Trinh sát vũ trang, trực thuộc Ban An ninh thị xã. H601 tên thật là Nguyễn Thi Kim Hoa được phiên chế vào Đội cùng với nhiều đồng chí khác, trong đó có H202 Đỗ Văn Đích.H 232   Lê Thị Kim Liên.
Sáu Hùng cho gọi H601 tới lán chỉ huy.
         -Theo tin đặc biệt từ Bộ Tư lệnh Miền, vừa qua địch thà dù  bọn Thiên Nga xuống Long Khánh, trong đó có một thiếu úy tình báo tên là Lê Thị Lụa, bí số IB0099, thường gọi là Nhung gấu.Tên Thiên Nga này là một tên rất lợi hại, đã gây nhiều tội ác ở vùng Cheo Reo-Phú Bổn. Nó đã luồn sâu vào các buôn làng Tây Nguyên và đã chỉ điểm cho quân ngụy hành quân ruồng bố bắn giết đồng bào ta.Nay Long Khánh là địa bàn chiến lược của Mỹ - ngụy nên chúng tăng cường mọi lực lượng để chống phá. Ban chỉ huy đội cử cháu làm nhiệm vụ .Một, là dụ cho được Nhung ra rẩy (kiểu điệu hổ ly sơn) rồi bắt sống nó.Hai, nếu bị lộ, nó chống cự thì cho nổ súng tiêu diệt.Chú cho H232 hỗ trợ.
Sáu Hùng giao nhiệm vụ xong, anh trầm ngâm: Mình cũng có đứa con gái gần bằng tuổi Kim Hoa không biết giờ này ra sao? Khi anh rời quê Tiền Giang vào Đồng Tháp Mười, nó mới 10 tuổi. Thế mà đã 8 năm xa nhà, xa vợ con rồi. Chiến trường Mỹ Tho cũng ác liệt lắm.Tuổi chúng nó đáng lẽ phải được ăn, được học. Nhìn bóng dáng mảnh mai của H601 nhẹ nhàng bước ra khỏi lán. Từ trong sâu thẳm trái tim một người cha đã từng vào sinh ra tử, ông không nén được cảm xúc của tình thâm phụ tử. Sáu Hùng cố nén để nước mắt không trào ra.
Kim Hoa vội đạp xe vào rẫy ở Suối Rết gặp Kim Liên chuyển đạt ý kiến, chỉ đạo của chú Sáu Hùng. Kim Liên được phân công đóng vai chủ vườn cây “đón tiếp” hai con Thiên Nga.
Không khó quá để làm quen với Nhung gấu, Kim Hoa được phép của “tổ chức” cho ăn diện sành điệu,đúng mốt như những cô gái con nhà giàu khác, cũng môi son má phấn, cũng kính đen gọng vàng, quần loe và áo chim cò lòe loẹt. Trang điểm vào, trông Kim Hoa chẳng khác nào những thiếu nữ đài các của cái xứ sở sầu riêng chôm chôm măng cụt nổi tiếng miền Đông này.Và cũng phải mất hai tuần mới “chơi thân” với Nhung được.

                                      **

Chợ Long Khánh tấp nập người mua kẻ bán.  Khu trái cây có những cô thôn nữ  đang ngồi bán trái cây. Cô nào cô nấy dù không trang điểm phấn son nhưng nước da đều trắng trèo, xinh giòn.Khác với họ, có một nhóm ba cô gái ăn mặc cực sang, phấn son lòe loẹt, mùi nước hoa sực nức.Họ rảo quanh khu vực bán trái cây.
Một cô nói:
-                   -Mình có cô bạn làm vườn. Cô ta có bức vườn mùa nào thức nấy.lúc nào  cũng sẵn trái cây  . Hay chúng mình vào đó chơi, tiện thể vừa ngắm cảnh,vừa mua trái cây.
 Người hưởng ứng đầu tiên là Nhung. Nhung hỏi:
- Có xa không?
- Không xa lắm, ở ngay Suối Rết đây thôi!
Với bộ óc tình báo có nhiều kinh nghiệm, Lụa suy tính rất nhanh:Ừ thì một công đôi việc, nhân chuyến đi “dã ngoại” này ta nắm luôn tình hình Việt cộng trong đó.Còn Kim Hoa thì đắn đo.Cấp trên chỉ đạo là phải bắt sống cho được Lê Thị Lụa, chỉ một mình Lụa mà thôi. Bây giờ lại vướng thêm Thu Cương. Thu Cương mới gia nhập Thiên Nga không lâu và cũng chưa gây tội ác. Làm sao đây? Bằng kế hoãn binh, Kim Hoa chỉ vào chiếc xe đạp nói:
-Ba đứa mà đèo nhau một xe thì mệt lắm. Để mình chạy về nhà lấy thêm chiếc xe nữa.
Nhung bảo:
- Để Thu Cương đứng đây coi xe còn mình chở Hoa đi cho nhanh
.Kim Hoa gạt đi lấy cớ là ông già mà nhìn thấy thì ông không cho đi đâu hết.
-Thôi chịu khó đứng chờ. Mình đi nhanh thôi mà!
Kim Hoa hộc tốc đến gặp H232 nói:
-Em dụ được hai con Thiên Nga vào Suối Rết rồi. Chị khẩn trương báo cho chú Sáu Hùng biết. Và chị cũng nhanh chân lên vào rẫy như điểm hẹn để “đón tiếp” hai con Thiên Nga như kế hoạch đã bàn trước.
Sự thực thì Sáu Hùng đã duyệt phương án tác chiến này từ hôm qua, khi được H601 báo ngày mai sẽ “điệu hổ ly sơn” đối với Lê Thị Lụa. Sáu Hùng – người chỉ huy Đội trinh sát vũ trang Long Khánh - trực tiếp chỉ huy trận này
Ba cô gái được chủ  cho dạo quanh vườn một lúc rồi quay lại, ngồi vào mấy khúc cây kê vội làm cái bàn. Kim Liên mang trái cây ra đãi khách. Đang mải ăn, ba cô gái không nhìn thấy những tên lính dù đi đến sau lưng. Một tên hỏi:
-Các cô ở đâu tới?
Nhung gay gắt:
   - Ở đâu tới hay đi đâu là quyền của chúng tôi. Mắc chi các người hỏi.Muốn biết về hỏi ông chuẩn tướng Lê Minh Đảo rồi sẽ biết.
Một miệng súng đen ngòm chỉa thẳng vào mặt Nhung gấu.Tay này cũng chẳng phải loại vừa. Hắn xoay người lại làm cú đá song phi vào tay người cầm súng. Nhưng khẩu súng không văng ra mà Nhung gấu bị ngay H 202 khóa tay. Cả ba tên bị trói giật cánh khủy, mặt cắt không còn hột máu.
Sáu Hùng ra lệnh: - Tách từng đứa một cho về  cứ ngay lập tức!
Kim Hoa giả vờ van xin: - Các chú các anh tha cho em. Em chỉ là cô bán trái cây.Không làm gì cho giặc.
Hai tên nữ mật báo viên dưới cái vỏ bọc Thiên Nga  cùng với “cô bạn mới quen Kim Hoa” được giải đi.
                                                ***

Tháng 4 năm 1995, chúng tôi về dự lễ Kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Long Khánh (21-4-1975 –21-4-1995). Chúng tôi gặp người chỉ huy trận bắt Nhung gấu năm xưa – ông Nguyễn Huệ - bây giờ đã là đại tá Phó giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai. Và gặp người đã từng tham gia chỉ huy Đội Trinh sát vũ trang Long Khánh – ông Lương Hoàng - bây giờ đang là Tỉnh ủy viên, Bí thư huyện ủy Long Khánh.Tôi hỏi anh Sáu Huệ.
- Anh có biết số phận Nhung gấu sau đó trôi dạt về đâu không?
Anh Sáu cười hiền:
        -Tên thật của Nhung gấu là Nguyễn Thị Thuận, sinh năm 1952 tại Bùi Chu.Bố là lính Pạc- ti-dăng của quân Pháp, chết trận. Năm1954, Thuận mới 3 tuổi theo mẹ di cư vào Nam. Bị lạc mất mẹ nên Thuận được đưa vào nuôi ở Trại Tế bần Hố Nai. Thuận được tuyển vào Đội Thiên Nga năm 18 tuổi, mang bí số IC0069. Năm 1974 thì bị ta bắt. Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng vài tháng Thuận được tha.Hiện nay đang sống ở Long Khánh.
Tuy đã ở vào cái tuổi trên bốn mươi, nhưng trông Thuận vẫn còn nhiều  nét thanh xuân ngày nào, nhất là nụ cười – nụ cười đã làm điên đảo bao chàng trai một thời.Tôi hỏi:
          -Bây giờ Nhung sống ra sao?
          Thuận gạt đi có vẻ không bằng lòng vì tôi gọi Thuận là Nhung:
          -Chuyện cũ. Bỏ đi anh. Bây giờ em đã có hai cháu. Chồng em là người cùng quê Nam Định. Chúng em có rẫy ở Suối Rết, cũng có vườn chôm chôm, sầu riêng. Khi nào tiện mời các anh vào rẫy chơi. Em ra đây mở quán cà phê kiếm thêm thu nhập và để các cháu học cho gần trường.

                                      Biên Hòa, những ngày cuối tháng 10 năm 2014
                                                          XUÂN BẢO