Trang

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

134. Nguyên vẹn một lời thề (Thơ)

134.                NGUYÊN VẸN MỘT LỜI THỀ (Thơ)
(Thác lời người đã khuất)

Chúng tôi ra đi mang theo trái tim cháy bỏng
Tuổi thanh xuân ngày ấy giờ vẫn vẹn nguyên trai trẻ một  thời
Hơn bốn mươi năm qua chúng tôi nằm sâu trong lòng đất Mẹ
Dù không vào nghĩa trang như baođồng đội đồng chí
Chúng tôi vẫn nô đùa vẫn vui với Diêm vương
Ngài biết chúng tôi là một trung đội lẫm liệt kiên cường
Cho nên được đi tham quan chín tầng địa ngục
Có một tầng địa ngục nhốt các quan chức
Ở trên trần thường gọi chúng là lũ quan tham
Ăn đất, ăn rừng,ăn cả những án oan…
Gia đình gửi cho chúng nào ô tô, nào đô la, biệt thự
Tất cả là đồ mua ở phố Hàng Mã, chỉ là đồ âm phủ
Diêm vương ra lệnh những thứ ấy phải niêm phong
                                      ***\
Mấy hôm rày có bác nông dân đào ao,phát  rẫy, khai mương
Thấy chúng tôi nằm đó,chôn  trong cùng một hố
Mỗi đứa chúng tôi đều có hồ sơ lý lịch
Nằm gọn trong cái lọ pê-nê-xi-lin *
Những di vật kỷ niệm một thời chiến chinh
Dép râu, võng dù và những chiếc nhẫn
Cái bi đông đựng nước và dăm ba vỏ đạn
Ba mươi bộ hài cốt gói trong bọc ny-lông
Còn sáu người nữa mọi người đang cố kiếm tìm
Hồn chúng tôi quẩn quanh nơi quân thù giết chóc
Đây là nơi mô, xã Bảo Vinh hay là Bình Lộc?
Chúng tôi là những chàng trai mãi mãi tuổi hai mươi
Đứa ở Hà Giang, đứa Quảng Trị và những đứa Tháp Mười…
Có nhiều đứa chưa biết nụ hôn đầu mà chỉ biết cầm súng
Đứng trước người con gái vẫn còn e ấp thẹn thùng lúng túng?!
Nhưng trước họng súng quân thù, trước lúc chết
Còn kịp nói lời chia ly vĩnh biệt
Khóc làm chi đồng đội!Hãy cầm khẩu súng của tôi
Nhằm thẳng quân thù mà bắn, đồng chí ơi!
                                      ***
Xin cảm ơn! Những người quyền cao chức trọng
Quỳ trước linh vị chúng tôi và lầm rầm lời khấn
Mong cho chúng tôi siêu thoát về cõi Niết bàn
Hay về Nước Trời hưởng ân huệ Chúa ban
Mỗi đứa chúng tôi được khoác lên tiểu một lá cờ đỏ
Ô hay! Lá cờ không bay sao lại nằm im trong gió?!
Lá cờ ngày ấy chúng tôi trân trọng lúc xung phong
Giữa trận tiền bốn bề rền tiếng đạn bom
Lá  cờ thiêng liêng bay theo tiếng kèn xung trận
Chúng tôi xông lên không có gì lấn cấn
Và ngả xuống sau những loạt đạn của lũ quỷ mặt người
Trung đội chúng tôi có ba mươi sáu người
Ba mươi sáu trái tim tràn đầy nhiệt huyết của người lính trẻ
Vẫn vẹn nguyên lời thề của người chiến sĩ
“Độc lập hay là chết!” cho nước Việt thân yêu.
                                      ***
Xin cảm ơn quý vị!,xin cảm ơn tất cả!Duy chỉ có một điều
Chúng tôi muốn về lại quê hương nơi dặt dìu câu hát
Có cánh cò bay lả bay la, qua những cánh đồng bát ngát
Có chị Hai xinh đứng cạnh bụi trúc xinh
Có bông hoa gạo đỏ lựng sân đình
Có nhịp phách  lý lơi tiếng trống chèo rộn rã
Có cô Tấm áo nâu non ướm thử giầy hoàng tử
Có câu hò mái đẩy và khúc Dạ cổ hoài lang
Chúng tôi muốn về với mồ mả tổ tiên, với xóm làng
                                      ***
Mong sao quý chư vị, những người đương chức
Nể tình chúng tôi với lời nguyện  ước
Được về cố hương trong muôn vạn nhớ thương
Được như thế, ắt chúng tôi lòng  thấy vui hơn!
Biên Hòa, những ngày mưa cuối mùa
                                                          Tháng 10 năm 2014 – Xuân Bảo
                                                                    






Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

133. VỀ LẠI NƯƠNG RẪY (Truyện ngắn)

VỀ LẠI NƯƠNG RẪY


                                                          Truyện ngắn của Xuân Bảo

1.
Quảng Trị 1972!
81 ngày đêm. Bão lửa. Pháo ngoài biển bắn vào. Bom trên trời trút xuống. Giặc nống ra. Cố chiếm Thành cổ. Tư lệnh Vùng I Chiến thuật mất chức. Ngô Quang Trưởng thay Vũ Văn Giai.
Mùa hè đỏ lửa. Đại lộ kinh hoàng. Chạy loạn. Bom. Pháo. Đạn các cỡ thi nhau nhả đạn. Dân thường nháo nhác. Bà Kim tay dắt con. Vai gánh nặng áo quần. Có một bao cát mang theo. Bao cát công sự của đồn lũy. Trong đó có thông hóa đặc biệt và vàng.
Thắng Đào Quốc Đạt mới lên bốn. Chạy và chạy. Hỗn loạn. Sự sống và cái chết. Đạt sinh năm 1968. Đêm Tổng tiến công nổi dậy. Ba Đạt ghé nhà. Để lại giọt máu nối dõi tông đường. Ra trận. Hy sinh. Tin Trung đoàn báo về. Bà Kim khóc hết nước mắt. Từ nay Đạt thành đứa trẻ mồ côi cha. Khổ lắm!
Đường Thiên lý Bắc Nam bị cày xới. Cát Tiểu Trường Sa bị nung nóng. Mắt hoa. Chân phồng rộp. Thằng Đạt mếu máo. Gắng lên con! Bà Kim dỗ dành.

                                      ***

Một số ít dân chạy ra Vĩnh Linh. Miền độc lập nửa nước. Quảng Trị đau thương. Nửa nước bị chặt làm đôi. Hiền Lương trở thành con sông giới tuyến. Còn đau hơn cả hận Sông Gianh!
Mọi người lên xe. Xe nhà binh của Thiệu. Bỏ lại quê hương tiêu điều. Bỏ lại mồ mả tổ tiên ông bà. Bỏ lại cơ ngơi ruộng vườn. Mồ hôi và nước mắt. Mất hết, mất hết. Tiên sư cái cuộc chiến. Chiến tranh bao giờ cũng đáng nguyền rủa! Hết chin năm đánh Pháp. Lại hai mươi năm chống Mỹ. Có nơi nào trên Trái đất này chiến tranh liên miên như thế?


2.
       Đêm. Rừng rú rậm rịt. Mọi gia đình xuống xe. Ngơ ngác. Đây là đâu? Nghi ngờ ?! Hay là đem con bỏ chợ? Thiệu Kỳ nói hay lắm. Hãy chạy khỏi nanh vuố cộng sản. Hãy xây dựng một nền cộng hòa. Đừng nghe Việt Cộng nói. Nhìn Việt Cộng làm! Than ôi! Ông Thiệu ôi! Nền cộng hòa đệ nhị ôi!
       Sáng ra. Có một đoàn người đến. Mũ cao áo rộng. Ông linh mục ủy lạo Các con chiên hãy một lòng phụng vụ Chúa. Đây là Xuân Lộc. Đây là giáo phận Xuân Lộc. Đất địa đầu của Nam kỳ Lục tỉnh. Trước 1945 là xứ thuộc địa của Mẫu quốc Đại Pháp.
       Mỗi hộ gia đình được phát gạo ăn sáu tháng. Cho không hai chục tấm tôn fibro. Hai chục bao xi măng. Một bộ đồ làm rẫy gồm  cuốc rựa,một cái cưa lá liễu, một cái búa. Hàng Mỹ sản xuất. Sản phẩm có đúc chìm bốn chữ cái sơn màu đỏ:KHLA.Diễn dịch rà là Khai Hoang Lập Ấp.

                                                ***

       Tên làng xã thân yêu không còn. Những cái tên mới nghe lạ tai. Sặc mùi chiến tranh. Căn cứ 2, Căn cứ 3 cho đến Căn cứ 6. Bà con nhớ quê tự đặt tên mới: Xuân Đà, Trung Ngãi...Rừng nguyên sinh. Gỗ quý nhiều vô kể. Lim, sến, táu, vàng tâm.đàn hương… Rừng lá. Lá buông ngút ngàn.Đất đai màu mỡ.Người nông dân lai hoàn người nông dân. Chăm chỉ. Chuyên cần. Dầm mưa dãi nắng. Đốt rẫy. Làm nương. Chọc lỗ bỏ hạt. Đất không phụ người. Trái bắp to bằng cườm tay. Củ sắn nặng vài ba ký.Bầu bí mọc ven suối. Đến mùa cứ chở về
.
       Bà Kim giỏi việc nông tang. Khai hoang, Vỡ đất. Trồng tỉa. Mùa nào thức ấy. Chỉ sau hai năm cần mẫn. Bà có trong tay gần mười mẫu rẫy. Đầu năm 1973. Chủ nhà máy thuốc lá CAPSTAN. Đánh hơi thấy đất Xuân T. tốt. Bà Kim nhận thầu trồng thuốc lá. Giống Virginia sợi vàng thích hợp thổ nhưỡng. Công nghệ,quy trình, giống và phân bón nhà máy chuyển giao. Bà Kim và bà con trồng hàng chục mẫu và xây được tám lò sấy thuốc lá. Hai vụ thu hoạch có lãi bạc triệu. Bà nghĩ chắc ăn. Gửi tiền vào Ngân khố quốc gia của chính quyền Sài Gòn.

                                                
        Thằng Đạt được bà Kim kềm cặp. Dạy chữ. Bà dành tất cả tình thương cho nó với tấm lòng bao la dạt dào. Mong muốn Đạt thành tài để bù đắp cho sự thiệt thòi của cuộc đời mẹ góa con côi. Hắn ngoan và thông minh. Sáu tuổi đã đọc thông viết thạo. Làm được bốn phép tính. Đạt được gửi vào trường Dòng Mến Thánh Giá. Nhà thờ Công giáo mọc lên.Khắp nơi.

       3.
       Tháng Tư năm 1975.
       Giải phóng miền Nam. Hết chiến tranh. Mừng vui khôn xiết. Đạt vào học lớp 1. Học giỏi. Thẳng một mạch. Từ lớp đầu cho tới năm cuối. Đạt tốt nghiệp tú tài. Bây giờ có cách gọi mới. Tốt nghiệp Trung học phổ thông. Thi đại học nông lâm đỗ. Vào khoa chăn nuôi. Sau năm năm Đạt tốt nghiệp bằng đỏ. Trường muốn anh ở lại. Giảng viên đang thời kỳ hiếm. Đạt quyết về địa phương. Ty Nông nghiệp tỉnh. Làm việc tận tụy. Năng nổ. Nhiệt tình. Chẳng bao lâu Đạt vào Đảng. Rồi từ phó phòng lên trưởng phòng. Có chí. Đạt theo học cao học. 30 tuổi Đạt là thạc sĩ. Chuyên ngành. Đề tài nghiên cứu: Thuần hóa động vật hoang dã. Luận án được đánh giá cao. Còn thực tiễn. Đang nằm phía trước, Hãy chờ xem?!

       Bà Kim tuổi đã xế chiều. Muốn có cháu nội. Bế bồng. Chăm bẵm. Đạt là người con hiếu thảo. Nghe lời mẹ. Đạt cưới vợ. Vợ tên Hạnh. Học dưới Đạt hai lớp..Người cùng quê. Cùng hoàn cảnh bị xúc tát vô nam. Nhà neo người. Hạnh học hết phổ thông. Ở nhà giúp cha mẹ làm ăn. Nương rẫy, Cày cuốc. Nghề nông muôn thuở. Hạnh đẹp người đẹp nết. Bà Kim ưa. Đạt mến từ trước. Họ lấy nhau. Xứng đôi vừa lứa. Nhân duyên thành lương duyên!


       4.
       Đạt đệ đơn xin nghỉ việc. Ai cũng bất ngờ. Nhiều người nuối tiếc. Con đường phía trước. Thênh thang rộng mở. Tiền đồ thuận lợi. Lòng anh đã quyết. Muốn học và hành đi đôi.
       Về lại Xuân T. Đạt cùng mẹ xin chính quyền. Canh tác lại quả đồi. Đất trồng thuốc lá khi trước. Có lãi lời gì không? Đau đáu đề tài. Con vật hoang dã. Hãy thân thiện với người! Nhiều đêm miệt mài. Đồ án xây dựng. Trang trại phức hợp. Có Hạnh giúp sức. Động viên. An ủi. Hạnh hỏi: Liệu có thành công? Đạt nói: Quyết chí thì nên.
       Vốn? Nan giải là vốn. Bà Kim dốc cạn cái bao cát công sự ra. Lâu nay, bà đi rẫy thường mang theo. Mắc vào đầu cán cuốc. Tòong teeng. Ít ai biết có gì trong đó. Bà có tài ngụy trang. Đề phòng kẻ xấu. Trong bao cát có nhiều vàng. Đủ loại. Vàng miếng. Vàng trang sức và ngọc…Chao ơi! Nhiều lắm. Đến con cháu cũng chẳng biết. Nữa là!
       Đi Sài Gòn. Bà Kim mang giấy gửi tiền theo. Ngân hàng Cách mạng. Trụ sở ở Bến Chương Dương. Cùng đi có người bà con. Cán bộ cách mạng ở Bắc về. Hai người vào cơ quan. Bà Kim xuất trình cái giấy. Tám triệu đồng bạc Ngụy. Họ chỉ dẫn gặp lãnh đạo. Vị cán bộ giải thích ngắn. Đây là số tiền tiếp tay cho địch. Tiền này gián tiếp chống phá cách mạng. Tịch thu. Sung công. Thế là tắt một hy vọng.Không bị truy tố. Còn may. Thôi đành của đi thay người!
       Kim Lan,chị Đạt làm Sở Mỹ. Dành dụm lâu nay. Có ít đô-la. Có ít vàng. Giúp em . Coi như hùn vốn làm ăn. Ngân hàng Nông nghiệp hỗ trợ. Vay dài hạn. Lãi suất thấp.
                                                          

       Mười mẫu tây đất rừng. Có phần nào đất thục. Đạt xuống giống  bốn mẫu cà phê. Giới khoa học nói: Chồn khoái khẩu cà phê Robusta. Dày cùi. Ngọt. Nhưng cà phê Arabica- Cà phê chè ngon hơn. Đắt tiền hơn. Xen canh. Bắp, mì, khoai lang. Các loại họ đậu. Lấy ngắn nuôi dài.

       Với chiếc Honda 67. Đạt lên Đác Lắk. Qua Lâm Đồng. Đến Đắc Nông. Lại nhảy xe đò ra Quảng Trị. Núi rừng Trường Sơn. Chiến khu Ba Lòng. Khi xưa nhiều chồn. Đủ loại chồn. Chồn đèn. Chồn mực. Chồn hôi. Chồn bạc má…Đạt tìm con chồn hương. Cầy hương.
        Lại lên đường tìm cầy hương. Nghe người ta mách. Thanh Hóa còn nhiều động vật hoang dã. Cầm thú. Đoạn đi qua Tĩnh Gia. Quê hương họ Đào. Đào Duy Từ. Người dựng Lũy Thầy. Chống quân Trịnh. Đạt thầm nghĩ: có lẽ đây là quê gốc của mình chăng? May sao. Mua được một cặp. Đực và Cái.

                                                           ***

       Bà Kim nhắc chuyện xưa. Người làm công cho ông ngoại. Chú Đáo có lần vào độộng. Bắt được cả một ổ chồn hương. Có tới bốn chú. Ba đực, một cái. Ba con đực. Một con Cụ đem biếu tri phủ Triệu Phong. Dinh thự tri phủ. Làng Tri Bưu. Cạnh sông Thạch Hãn. Con thứ hai Cụ biếu nhạc phụ. Làng Đại Hào. Còn một con Cụ lấy xạ. Treo trước cổng. Ngày và đêm. Xạ hương tỏa. Thơm nức con đường làng.Vẫn theo bà Kim. Miền duyên sơn Quảng Trị cứt chồn hương quý đến thế sao? Chim chào mào đít đỏ. Ăn hạt hồ tiêu chin. Người dân Cùa có kinh nghiệm thu lại hạt tiêu thọ. (Nơi khác gọi là tiêu sọ). Thọ đây có nghĩa lâu bền.Dân xây cái bể cạn. Đặt ở góc vườn. Chim ăn no tiêu. Uống  đẫy nước. Ị ra những hạt trắng. Hót về rửa sạch, phơi khô. Dành làm thuốc. Đau bụng nhai dăm hột. Khỏi ngay. Nhà nào có nhiều tiêu thọ. Mang về chợ Đông Hà. Bán cho mấy chú Chệt. Hiệu thuốc bắc. Giá cao. Gấp chục lần tiêu đen.

                                                           ***

       Chồn có xạ. Hương thơm. Hấp dẫn. Nhưng hiếm. Một loài thú hiếm. Liệt vào sách đỏ. Đạt tìm mua sách nói về chồn. Lên mạng. Gõ google. Thấy rõ con chồn hương. Có nhiều tên: cầy vòi hương. Bộ ăn thịt Carnivora. Họ cầy Viveridea. Ở Việt Nam còn có tên Việt Mường: Tu côi. Tu hên. Hên bon. Cùng họ có vài giống khác. Không có túi xạ hương. Đó là cầy mực, cầy mèo, cầy giông, cầy vằn, cầy vòi đốm, cầy vòi mốc…Chỉ có con cầy vòi hương đực có túi xạ. Túi xạ nằm giữa hậu môn và dương vật. Giữa túi có hai lỗ thông. Trong túi có các tuyến xạ. Cái dạ dày của nó có enzyme đặc biệt.  Cầy đực trưởng thành. Tiết ra chất xạ hương. Sánh như mật ong. Màu nâu đỏ. Mùi thơm nồng. Để lâu dịu. Thành phần xạ có ammoniac. Tinh dầu. Muối khoáng. Và các chất hương hữu cơ. Đây là mùi dẫn dụ cầy cái. Vào mùa sinh sản. Trao tình xong. Đường anh anh đi. Để cầy cái nuôi con. Lẻ loi, đơn chiếc. Tội nghiệp!
       Nhiều đêm suy nghĩ. Đạt trắng mái đầu. Thuần dưỡng thú hiếm. Đâu dễ. Cái gì đến phải đến. Có công mài sắt. Có ngày nên kim! Đạt tự động viên. Có tình yêu nồng thắm của Hạnh. Vui cùng chồng. Buồn lo cùng chồng. Ca dao nói: Thuận vợ thuận chồng. Đúng thế. Nhiều lúc nản. Đạt muốn bỏ cuộc. Hạnh là ngọn đuốc. Là lửa ấm đêm đông.
                                                           
       5.
       Bốn năm trôi qua.
       Cà phê bói quả mùa đầu. Cặp chồn hương ngày nào. Sinh được sáu con.Giờ đây được gần hai trăm con, Cả đực cả cái.
       Hai vợ chồng Đạt Hạnh. Đêm nào cũng thức. Đọc nhiều sách Động vật học. Thú vị nhất là các con vật. Cái dạ dày là nơi ủ men. Ăn vào ị ra. Thế mà quý. Lạ chưa?
        Tỷ như chuyện Trung Hoa. Có chè “trảm mã trà”. Chè trồng núi Vu Sơn.Chân núi có suối Ô Long. Nước đặc sánh xác chè. Màu đen. Mã phu để ngựa đói hai ngày. Thả vào Vu Sơn. Ngựa no búp trà. Uống no nước suối Ô Long. Dong  ngụa về kinh đô. Vua truyền giết ngựa. Moi bụng lấy trà. Sao tẩm. Chế biến. Trà có hương và vị đặc biệt. Bổ thận. Tráng dương. Nhưng mà ác quá! Còn Việt Nam ta. Thời nhà Trần. Núi Ba Vì. Thờ Thánh Tản. Họ Nguyễn. Tên Tuấn. Có lão phu làm “Trảm mã trà”. Ông cho ngựa ăn no chẻ. Phần lớn trồng mạn Phú Thọ. Ngựa no búp chè. Chém đứt đầu. Mổ bụng moi trà. Để nguyên cái dạ dày. Ủ bảy ngày đêm. Rồi sao tẩm đem dùng. Nghe tin vua muốn gặp người làm Trà trảm mã. Chánh tổng Nguyễn Bính tâng công. Bí mật giết Lão phu. Đem trà dâng vua. Vua biết Bính không phải là người làm trà. Truyền chém.. Vua là người nhân đức,sáng suốt. Tự kết tội mình đã gây ra cái chết của Lão Phu. Chưa bao giờ vua khóc. Quần thần lo lắng. Hoàng hậu Ỷ Lan tâu:
-   Bẩm hoàng thượng! Lão Phu là kẻ ham cái hương vị của một chén trà. Coi rẻ mạng sống con ngựa. Ác lai, ác báo. Bị Nguyễn Bính giết. Y như Lão Phu đã làm với ngựa. Lão Phu gieo nhân nào. Để gặt quả nấy qua tay Nguyễn Bính. Thiếp xin tha tội chết cho Nguyễn Bính. Vua truyền:
-    Đem tất cả số trà trảm mã. Nấu thành nước. Đổ cả xuống sông. Chiêu hồn con ngựa! Và ra lệnh: Cấm dân gian không được chế biến trà kiểu này! Thật là một ông vua vĩ đại. Lòng khoan dung của vua. Sự thông thái của hoàng hậu. Để lại hậu thế muôn lời ca tụng.
                                                    ***
                      6.
              Gần bốn mươi tỷ VNĐ. Dốc vào trang trại. Hiện dần ra một khu du lịch. Đẹp. Khang trang. Hút khách mọi nơi. Khách ta, khách Tây nườm nượp. Phần đông đến xem. Ít người dám uống. Cà phê hương cứt chồn. Một ấm hai trăm ngàn đồng. Một ký hạt nhân khô:hai mưới triệu đồng. Cũng chưa phải là cao. Cà phê Kopi Luwak Indonésia. Có giá 600 USD/kg. Vẫn không đủ cho nhu cầu.
              Khách tham quan thích chụp ảnh với chồn. Qua gần thập kỷ. Nhờ huấn luyện tốt. Con cầy vòi hương được thuần dưỡng. Sinh sôi. Thân thiện với môi trường. Với con người. Công lao đó là của thạc sĩ Đào Quốc Đạt. Với sự động viên của Hạnh. Người vợ tảo tần chung thủy.Là công nuôi nấng của bà Kim.
              Giờ đây. Vợ chồng Đạt trả xong nợ. Đạt thưa với mẹ xin sửa lại ngôi nhà cũ. Làm ngôi từ đường. Và là nơi an dưỡng tuổi già của bà Kim. Trong núi. Nơi mười mẫu rẫy. Đạt quy hoạch thành Khu du lịch sinh thái. Chung quanh rào bắng các loại cây ăn quả. Có những loài cây mang từ Quảng Trị. Vả, bồ quân, thanh trà…Khu sinh thái này mang lại công ăn việc làm cho người tại chỗ. Cho bà con quê nhà. Gần một trăm lao động. Người nào việc đó. Nhiều bà con đã có cơ ngơi.Ăn quả nhớ người trồng cây. Mẹ con bà Kim giúp đỡ những người ngày đầu đến đây. Ngoài khoản thuế má đầy đủ. Vợ chồng Đạt chung tay xây dựng nông thôn mới. Nguồn vốn từ những con cầy vòi hương.
              Một ngôi biệt thự mọc lên. Một nhà hàng mọc lên. Một quầy đặc sản cà phê cứt chồn hương mọc lên. Hảo hạng, Đích thực! Có một họa sĩ vẽ chân dung khách bằng mầu nâu đậm của cà phê.
              Đạt bàn với Hạnh. Tìm tên thương hiệu. Tranh cãi. Bàn bạc. Nhất trí lấy tên: “TRANG TRẠI CÀ PHÊ CỨT CHỒN HƯƠNG HẠNH ĐẠT’.Cái logo vẽ con cầy hương chồm lên hai chữ cái HĐ. Chữ HĐ cách điệu thành hai hạt cà phê.

                                                      

              Đêm đến. Đèn điện sáng. Những con đường làng. Nhựa tráng phẳng lỳ. Trường Tiểu học lên Trung học. Bệnh xá khang trang. Bác sĩ Lương, ban học Đạt về. Chung tay góp sức. Tạo dựng cuộc sống mới.
              Xuân T. giờ đây đẹp lắm!

                                                                                    XUÂN BẢO
                                                                          Biên Hòa, 19 – 8 -2014


                                                          


       

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

132.Giới thiệu Thơ Lê Hoàng

Giới thiệu sách:
     Đôi dòng ghi nhận về tập thơ Giai điệu bốn mùa của Lê Hoàng.
                               NXB Hội Nhà Văn-2014.

TRẢ LẠI CHO EM NỤ HÔN…NGÀY NÀO

Ở vào cái tuổi “Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm…”Lê Hoàng lắng tiếng lòng quay về dĩ vãng, nhìn lại những năm tháng đầu đời bước vào tuổi yêu đương.
          Tập thơ Giai điệu bốn mùa của Lê Hoàng mang nặng nỗi niềm hoài niệm về bóng dáng những mối tình đầu đầy thơ mộng và lãng mạn.Giai điệu bốn mùa chỉ là cái cớ để ông gửi gắm những cung bậc tình cảm của tuổi trẻ khi bước vào tình trường…những câu thơ thật hay, thật xúc cảm mà người đọc cũng được chia sẻ, buồn lây. Mùa xuân, mùa đẹp nhất trong năm. Mùa của cây cỏ đâm chồi nảy lộc. Mùa của con ong đi hút mật và đàn bướm lượn quanh những đóa hoa.

                   Xuân tình réo gọi, say lòng bướm
                   Xao xuyến hồn hoa, ngây ngất ong…
Để rồi:
                   Loe lóe chút tình trong ánh chớp
                   Mưa hạ dần phai qua bóng câu…

Chỉ đến khi mùa thu tới, mùa thu của lá vàng bay, mùa của yêu đương vương vấn. Ta thấy nhà thơ đã gửi vào đó những lời của con tim, dường như Thần Ánh Sáng và Ả Hằng Nga cùng lúc xuất hiện, lồng vào nhau biết bao trìu mến. Có nụ hôn nào đẹp đến thế chăng?

          …Không chỉ mùa thu ta có nhau
          Ánh dương lồng nguyệt nụ hôn trao…
Thế rồi:

          …Suốt một mùa đông lạnh giá băng
          Hương nồng hòa quyện mộng ngàn năm

          Bốn mùa xuân hạ thu đông lần lượt xoay vần trong vũ trụ mênh mang. Sao lại mộng ngàn năm? Đúng như câu thơ của một nhà thơ Pháp:

                   …Ái tình là cánh đồng ma
                   Ai đi vào đó chẳng sa lệ sầu

          Nhà thơ đếm bước chân mình tha phương bên cõi trời Tây xa xôi, ngắm tuyết lạnh mà bồi hồi xao xuyến:

                   Đường tình xuôi ngược về đâu?
                   Lang thang đếm bước canh thâu mỏi mòn!

          Tôi gọi đây là một tập thơ tình, bởi vì trong 32 bài ở tập thơ này chỉ có một số rất ít bài viết về đề tài xã hội. Đó là Tình cô bán báo, tác giả thương và cảm thông với bao nỗi nhọc nhằn của cô gái nhỏ:

                   …Ruổi rong, con chữ trên đường
                   Liêu xiêu dáng nhỏ, chiều nương bóng dài.

          Tuổi thơ vất vả mưu sinh, em chỉ có một ước mơ, một ước mơ cháy bỏng để được như các em cùng trang lứa:

                   Ước mơ tuổi nhỏ tràn đầy
                   Bao giờ em có bạn, thầy kề vai?...

          Nhà thơ thương cho số phận những kiếp cầm ca trong Một thời của Sài Gòn phồn hoa ngày đó, khi tiếng Ngày xưa áo hát và những bước nhảy của ca nương. Xưa thì:
                   Ngày xưa áo lụa kiêu sa
                   Người đưa kẻ đón ngựa xe rộn ràng…

          Và giờ đây, khi hương sắc đã tàn úa:

                   …Lối về lẻ bóng chênh vênh
                   Thầm trong tiếng nấc, nỗi niềm chơi vơi

          Tuổi thơ của Lê Hoàng, trên quê nghèo Hải Lăng, Quảng Trị - nơi có những trận gió Nam, còn gọi là gió Lào -  tuốt lá tre và rang bỏng cát Tiểu Trường Sa chắc cũng như bao đứa trẻ khác nghèo đói có gì để phá cỗ Trung Thu? Nhà hơ đã có những câu thơ làm tim ta bật khóc:

                   …Trăng sáng đêm rằm soi nhân thế
                   Người thì vung vãi, kẻ lê thê…

          Dù chỉ có duy nhất một bài viết về Biển-Đảo nhưng nhà thơ đã gửi vào đó biết bao tâm tình với tình yêu Tổ quốc thiết tha. Lê Hoàng khẳng định:
                
                   Biển ta, ta bám
                   Đất ta, ta trồng…
                   ……
                   Tổ tiên ta hơn bốn nghìn năm dựng nước
                   Không bao giờ khuất phục bọn xâm lăng

          Những năm còn lại, khi tuổi đời đã nghiêng về phía hoàng hôn, ông muốn làm Lã Vọng:
                   …Ta thư thả bên bờ sông vắng lặng
                   Một cần câu ngang dọc khắp sông hồ

          Nhà thơ ung dung ngồi ngắm trăng bên Tĩnh Môn, để rồi:

                   …Giờ đây thiền bất động
                   Với Ngã là bản Không
                   Ta tìm ta trong bến
                   Không có cũng Không cùng

          Trong bài Hai đôi mắt trần gian, tác giả có cái nhìn rất lạ;

                   Khi tôi sinh ra
Trời cho tôi hai đôi mắt
Đôi mắt trước và đôi mắt sau

Điều lạ là đôi mắt sau khi đến tuổi qua thời để nhà thơ nhìn về quá khứ và định tương lai. Nhà thơ cho rằng:

          …Mắt là Ý, là Tâm là Diệc
          Bao phong trần, bỏ “nghiệp” chuyển “không”…

Một lần nữa, tôi khẳng định Giai điệu bốn mùa của Lê Hoàng là một tập thơ tình. Tình trẻ lúc thanh xuân và Tình già khi thấy mình tóc bạc da mồi. Bạc màu thời gian nuối tiếc, mặc dầu nhà thơ cố để cho Bụi phù du khỏa lấp một đời. Nhà thơ thảng thốt kêu lên và muốn níu thời gian lại:

          Thời gian ơi!
          Tuổi xuân đã qua rồi
          Thôi cứ mặc mái đầu sương trắng xóa…
Hoặc:
          …Anh về nơi xứ lạ
          Em một mình đơn côi
          Giờ đây đầu nhuốm bạc
          Sương trắng một khung trời…

Tôi lấy làm thú vị khi đọc hai bài thơ Lê Hoàng làm theo thể thơ Đường luật khá chỉn chu về niêm luật và không kém mượt mà, giàu nhạc điệu. Đó là bài Bâng khuâng và bài Tình lặng. Có gì ung dung tự tại hơn, dù nhà thơ đau đáu tiếc nuối duyên xưa;

          Đêm nằm lặng lẽ đếm sao rơi
          Tiếc nuối duyên xưa khổ một đời…

Khép lại Tập thơ tình này là bài thơ Người bỏ ta đi, tác giả trở về với Giai điệu bốn mùa:

          Người bỏ ta đi khi tuổi xuân tàn tạ
          Như mùa hạ chuyển sang thu
          Mùa đông thay lá trơ cành
                    Ta không còn gì ngoài mái tóc khô bạc trắng
                                      ***
Nhà thơ Lê Hoàng còn là người đam mê âm nhạc. Ông đã có nhiều ca khúc của một thời đi qua. Trong tập Giai điệu bốn mùa ông cho in những ca khúc riêng của mình như Hoài vọng, Qua cầu tìm em và một bài ông phổ thơ Nguyên Sa, bài Tương tư. Gàn đây, ông phổ nhiều bài của nhà thơ Hoàng Anh Vi như  Còn mãi nụ cườiNhớ Mẹ
Dẫu biết rằng Thơ là nguồn cảm hứng vô biên của người viết, tuy nhiên khi để ngòi bút trào lên trang giấy, đôi khi cũng có những khiếm khuyết nhất định. Mong độc giả thông cảm.
Xin trân trọng giới thiệu Giai điệu bốn mùa cùng bạn đọc.

                                                Nhà thơ Xuân Bảo

          

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

131.MỪNG SINH NHẬT VỢ - NGUYỄN THÚY MINH

131.MỪNG SINH NHẬT NGUYỄN THÚY MINH
(6-11-1941 –6-11-2014).


                                 Nhà thơ Xuân Bảo và vợ Nguyễn Thúy Minh



Hôm nay là ngày sinh nhật lần thứ 74 của vợ tôi,người gốc Hà Nội chính kinh, con  nhà tư sản Tân Việt được đưa vào diện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh những năm đầu khi Hà Nội mới được giải phóng khoảng từ năm1954-1959.Ông bà Tân Việt có hiệu may ở phố Tràng Tiền và hiệu Cơm tám giò chả Tân Việt ở  60 A phố Huế,Khu Hai Bà,nay là quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Một số hình ảnh ngày kỷ niệm sinh nhật bà: Nguyễn Thúy Minh 06//11/2014:









Cháu cố Phan An Nhiên,con của cháu ngoại Trịnh Ngọc Hương Nam và chồng là Phan Văn Vĩnh





 Ông bà Xuân Bảo với con trai cả Nguyễn Triệu Quang và hai con của Tr.Quang là Nguyễn Triệu Quang Trung và Nguyễn Phan Triệu Vy

 Hôm qua trên blog của tôi có bài Vụ án dân sự từ một bài thơ của nữ sĩ Ngân Giang, tôi có nhắc đến sự kiện tôi bị nhốt vào nhà pha Hỏa lò Hà Nội, đúng 100 ngày chẵn (Ra đi Đoan ngọ khi về Trung thu)vì dính dáng đến văn chương và báo chí. Trong ngục tù tôi có làm 2 bài thơ. Bài thứ nhất:

Trưa tù im ắng hơn đêm tịch
Thời gian khắc khoải kéo triền miên
Buồn như chấu cắn, sầu như chết
Máu loạn tim trào ta muốn điên

Và bài thứ hai là để biết ơn vợ không quản nhọc nhằn đến kỳ là mang đồ tiếp tế vào cho tôi gồm thuốc lá, muối vừng lạc và một ít ruốc(miền Nam gọi là chà bông) thịt lợn:

Mạnh Thường Quân đãi ba nghìn tân khách
Cũng không bằng một lần tiếp tế của em
Vì tiếp tế qua nhiều lần cửa sắt
Trong ngục tù anh mong đợi từng đêm


          Hôm nay, chúng tôi đã lên chức Cụ, có cháu cố. Các con cháu nhân ngày mừng sinh nhật vợ tôi đã mua rất nhiều hoa để tặng Bà.



    Bà cố Nguyễn Thúy Minh với Annic 



        
     Bà Nguyễn Thúy Minh với con gái út Nguyễn Thúy Hưcúng Annic An Nhiênơng ,vợ chồng Vĩnh và Hương Nam 


  Tôi viết những dòng này để bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc sinh thành:ông Nguyễn Viết Điền và bà Nguyễn Thị Tỵ đã sinh ra một người con gái vừa đảm việc nhà và tròn việc nước.Bà Nguyễn Thúy Minh được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng hai. Và cũng để biết ơn người vợ thủy chung gắn bó tình nghĩa phu thê đã trên nửa thế kỷ qua.
         
 Đáng lẽ tôi có thơ tăng vợ, nhưng để kịp thời chúc mưng sinh nhật Nguyễn Thúy Minh, tôi vội viết những dòng này.
                                               


Phường Quyết Thắng-Biên Hòa,chiều 6/11/2014
                                                     Nhà thơ Xuân Bảo